Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
lời mở đầu
Ngành công nghiệp Dệt May là một ngành có truyền thống lâu đời ở
Việt Nam và là một ngành công nghiệp mũi nhọn đóng vai trò quan trọng
trong nền kinh tế.
Thực tế các năm qua đã chứng minh điều này. Sản xuất của Ngành tăng
trởng nhanh; kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng với nhịp độ cao; thị
trờng luôn đợc mở rộng, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển góp phần cân
bằng cán cân xuất nhập khẩu theo hớng có tích luỹ; thu hút ngày càng nhiều
lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần quan trọng vào việc ổn định
chính trị xã hội đất nớc và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách Nhà nớc.
Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập với thế giới và khu vực, để phát triển
ngành Dệt May Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Theo Hiệp
định ATC/WTO, từ 1/1/2005 các nớc phát triển sẽ bãi bỏ hạn ngạch nhập
khẩu cho các nớc xuất khẩu hàng Dệt May là thành viên của Tổ chức Thơng
mại Thế giới (WTO), khi đó các cờng quốc xuất khẩu hàng Dệt May nh ấn
Độ, Indonesia, HongKong, Đài Loan, Hàn Quốc và đặc biệt là Trung Quốc
sẽ có lợi thế xuất khẩu thế giới. Theo Hiệp định AFTA, từ 1/1/2006, thuế xuất
nhập khẩu hàng Dệt May từ các nớc ASEAN vào Việt Nam sẽ giảm xuống từ
40 50% nh hiện nay xuống còn tối đa là 5%, khi đó thị trờng nội địa hàng
Dệt May Việt Nam không còn đợc bảo hộ trớc hàng nhập từ các nớc trong khu
vực. Nh vậy, hàng Dệt May Việt Nam sẽ phải cạnh tranh rất khốc liệt so với
các nớc xuất khẩu hàng Dệt May.
Có thể thấy rằng ngành Dệt May Việt Nam đang thiếu chiều sâu cho sự
phát triển của Ngành. Trong khi ở các nớc phát triển lợi thế cạnh tranh trong
ngành Dệt May mà họ có đợc thông qua vốn và công nghệ thì ngành công
nghiệp Dệt May Việt Nam vẫn chỉ là ngành sử dụng lao động rẻ.
Do vậy, trớc những thách thức trong tình hình mới, việc đa ra những
giải pháp thiết thực nhằm làm cho ngành Dệt May phát triển đúng hớng, có đủ
Nguyễn Thị Thu Huyền
1
trong quá trình hội nhập.
1.1.1 Xu thế chuyển dịch hàng dệt may trên thế giới
Ngành Công nghiệp Dệt May gắn liền với nhu cầu không thể thiếu đợc
của mỗi con ngời.Vì vậy từ rất lâu trên thế giới, ngành công nghiệp này đợc
hình thành và đi lên cùng sự phát triển ban đầu của chủ nghĩa t bản. Bên cạnh
đó, ngành Công nghiệp Dệt May là ngành thu hút nhiều lao động với yêu cầu
kỹ thuật không cao, vốn đầu t không lớn và có điều kiện mở rộng quan hệ
quốc tế. Do đó trong giai đoạn đầu quá trình công nghiệp hoá t bản, từ các nớc
phát triển nh Nhật, Mỹ, Anh, Pháp cho đến các nớc công nghiệp mới nh Hàn
Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapo ngành Công nghiệp Dệt May thờng
phát triển mạnh và có hiệu quả trong quá trình công nghiệp hoá của họ. Khi
một nớc đã có công nghiệp phát triển, có trình độ công nghệ cao, giá lao động
cao thì sức cạnh tranh trong sản xuất hàng Dệt May giảm, lúc đó chuyển sang
ngành công nghiệp khác có hàm lợng kỹ thuật cao hơn sử dụng lao động ít
hơn mang lại nhiều lợi nhuận cao.
Lịch sử phát triển ngành công nghiệp thế giới cũng là sự chuyển dịch cơ
cấu Công nghiệp Dệt May từ khu vực phát triển sang khu vực khác kém phát
triển hơn do tác động của lợi thế so sánh. Sự dịch chuyển này đợc gọi là hiệu
ứng chảy tràn hay làn sóng cơ cấu. Có thể nói ngành Công nghiệp Dệt May đã
tạo nên một làn sóng, sóng lan tới đâu thì nớc đó phát triển kinh tế vợt bậc.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sản xuất Dệt May không còn tồn tại ở
các nớc phát triển mà thực tế ngành này đã tiến tới giai đoạn cao hơn, sản xuất
các giá trị gia tăng cao.
Nguyễn Thị Thu Huyền
3
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Sự dịch chuyển thứ nhất vào những năm 1840 từ nớc Anh, cha đẻ của
ngành Công nghiệp Dệt May sang các nớc châu Âu, khi ngành Công nghiệp
Dệt May đã trở thành động lực chính cho sự phát triển thị trờng sang các khu
vực mới khai thác ở Bắc và Nam Mỹ.
Công nghiệp Dệt May là một phần của công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng. Nó có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu may mặc một trong hai nhu cầu thiết
yếu của con ngời
Trong lịch sử, sự tồn tại và phát triển của Công nghiệp Dệt May luôn
gắn liền với sự phát triển toàn xã hội loài ngời. Xã hội ngày càng phát triển
khoa học công nghệ đủ khả năng giải quyết các vấn đề bức xúc của sản xuất
thì Công nghiệp Dệt May nhờ đó cũng hoàn thiện hơn, để từ đó quay trở lại
phục vụ đời sống con ngời tốt hơn.
Công nghiệp Dệt May thực chất là tổ hợp của 2 ngành chuyên môn hoá
hẹp là công nghiệp Dệt và công nghiệp May. Mặc dù là 2 ngành chuyên môn
hoá nhng giữa chúng có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời. Công
nghiệp Dệt nếu thiếu công nghiệp May thì sản phẩm cuả nó không đạt mục
tiêu cuối cùng là đáp ứng nhu cầu mặc cho con ngời. Ngợc lại công nghiệp
May đã sử dụng công nghiệp dệt nh một nguồn cung cấp nguyên liệu duy
nhất, không thể thay thế đợc cho hoạt động của mình. Công nghiệp Dệt phát
triển với nhiều chủng loại sản phẩm sẽ là cơ hội tốt cho công nghiệp May lựa
chọn các dạng nguyên liệu đầu vào. Trong khi đó công nghiệp May phát triển
nhiều mẫu mốt sẽ kích thích tiêu dùng và sẽ tạo cơ hội đầu ra tốt cho công
nghiệp Dệt.
Cũng nh mỗi ngành công nghiệp độc lập, Công nghiệp Dệt May có
những đặc trng cơ bản của nó.
Thứ nhất: Công nghiệp Dệt May là ngành công nghiệp mà sản
phẩm của nó là không thể thay thế đợc.
Sản phẩm của hầu hết các ngành công nghiệp là thay thế đợc. Ví dụ nh
đối sản phẩm điện dân dụng, thay vì phải dùng quạt nan ngời ta dùng quạt
điện, hay đối sản phẩm điện tử thay thế việc sử dụng ti vi ngời ta có thể chỉ
Nguyễn Thị Thu Huyền
5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
dùng radio. Ngợc lại, đối Công nghiệp Dệt May sản phẩm của nó không có gì
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Thứ ba: Công nghiệp Dệt May là ngành công nghiệp không đòi hỏi
công nghệ quá phức tạp, có suất đầu t thấp, thu hồi vốn nhanh, phù hợp
với tổ chức sản xuất qui mô vừa và nhỏ.
Công nghiệp Dệt May là ngành công nghiệp xuất hiện khá sớm trong
lịch sử phát triển nhân loại, một phần là do công nghệ của ngành này không
quá phức tạp. So các ngành công nghiệp khác, đặc biệt các ngành công nghiệp
nặng thì Công nghiệp Dệt May có suất đầu t thấp hơn nhiều lần chỉ bằng 1/15
so ngành cơ khí, 1/20 so ngành luyện kim.
Ngay trong nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng để tạo ra một chỗ làm
việc mới công nghiệp Dệt (từ khâu sợi, dệt đến nhuộm, hoàn tất) chỉ đầu t
khoảng 15000 USD, công nghiệp May cần đầu t khoảng 1000 USD, trong khi
suất đầu t của ngành giấy là gần 30000 USD.
Thời gian thu hồi vốn của Công nghiệp Dệt May cũng thấp nhiều hơn
so ngành khác. Thời gian thu hồi vốn của ngành Dệt là 10-12 năm, ngành
May là 5-7 năm .
Do công nghệ sản xuất không quá phức tạp, lao động của ngành Dệt
May lại dễ đạo tạo nên tổ chức sản xuất nhiều khâu có thể phân tán ở nhiều hộ
gia đình. Chính vì vậy Công nghiệp Dệt May đã tồn tại phát triển ở hầu hết
các nớc đang phát triển và thu hút nhiều lực lợng lao động của các nớc này.
Cũng do đặc thù về công nghệ nên dù có đợc hiện đại hoá thì trớc mắt và lâu
dài Công nghiệp Dệt May vẫn tồn tại những công đoạn cần lao động thủ công.
Do vậy cùng với sự lớn mạnh của Công nghiệp Dệt May thì số lao động đựơc
thu hút vào ngành công nghiệp này ngày càng đông cha kể lực lợng lao động
trong các ngành có liên quan đến sự phát triển công nghiệp dệt may nh công
nghiệp cơ khí, chế tạo, hoá chất, và đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp để tạo
ra các nguyên liệu cho ngành Công nghiệp Dệt May.
Đối với Việt Nam, một quốc gia có dân số đông và trẻ so nhiều nớc
trong khu vực và trên thế giới. Tính đến nay, dân số cả nớc xấp xỉ 80 triệu ng-
ời, trong đó số ngời trong độ tuổi lao động khoảng trên 44 triệu ngời. Hàng
cách tự nhiên. Đây là một đặc trng quan trọng cuả công nghiệp Dệt May mà
Nguyễn Thị Thu Huyền
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
các nhà sản xuất hàng Dệt May Việt Nam phải quan tâm nếu không sẽ mất
dần đi những lợi thế vốn có và sớm bị loại khỏi cuộc canh tranh này.
Thứ năm: Công nghiệp Dệt May là ngành công nghiệp nhạy cảm,
sản phẩm của nó thờng đợc bảo hộ cao.
Trớc khi có Hiệp định thơng mại về hàng Dệt May kết quả quan trọng
vòng đàm phán Urugoay, việc buôn bán quốc tế các sản phẩm Dệt May đợc
điều chỉnh theo thể thức thơng mại đặc biệt , mà nhờ đó phần lớn các nớc
nhập khẩu đều thiết lập hạn chế về số lợng hàng Dệt May nhập khẩu. Mặt
khác, mức thuế phổ biến đánh vào hàng Dệt May thờng cao hơn so hàng hoá
Công nghiệp Dệt May thông thờng khác. Bên cạnh đó từng nớc còn đề ra
những điều kiện riêng đối với Dệt May nhập khẩu. Tất cả những rào cản đó
ảnh hởng rất lớn đến sản xuất và buôn bán các nớc trên thế giới.
Trong quá khứ, hiện tại và cả tơng lai Công nghiệp Dệt May đã và sẽ
luôn là một ngành công nghiệp nhạy cảm, các sản phẩm của nó thờng đợc bảo
hộ ở mức cao. Sự bảo hộ này không chỉ xuất phát từ những quốc gia tham gia
xuất khẩu hàng Dệt May, thờng muốn bảo hộ trong nớc nh ngời ta vẫn thờng
thấy, mà các rào cản còn xuất hiện ở ngay những cờng quốc, mà tại đó Công
nghiệp Dệt May không phát triển hoặc đã phát triển nay đã chuyển dịch sang
các nớc, khu vực khác trên thế giới, nh Mỹ và các nớc EU. Điều này không đ-
ợc lý giải bởi nguyên nhân là họ sử dụng các chính sách bảo hộ sản xuất trong
nớc, mà thực chất là các nớc lớn muốn khống chế các nớc đang phát triển thì
một trong những biện pháp của nó là hạn chế các lợi thế so sánh của các nớc
này. Các hạn chế đợc tạo ra dới hạn ngạch nhập khẩu, hay các nguyên tắc về
xuất xứ ở đây chúng ta nhận thấy rằng, bóc lột t bản đã phát triển một cách
tinh vi hơn, tức là đã chuyển từ chủ nghĩa t bản độc quyền sang phơng thức
bắt các nớc nhỏ phụ thuộc vào các nớc lớn.
lao động trong ngành có khoảng 1,6 triệu ngời, chiếm gần 23% lao động nông
nghiệp toàn quốc, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động,
tạo sự ổn định chính trị- kinh tế- xã hội. Theo dự đoán, đến năm 2005-2010,
lao động trong ngành Dệt May tăng 3 đến 4 triệu ngời.
Nguyễn Thị Thu Huyền
10
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Sự phát triển mạnh mẽ ngành Công nghiệp Dệt May đã bắt đầu tạo ra
mối liên kết kinh tế, có ý nghĩa quan trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hớng công nghiệp hoá. Ngành Công nghiệp Dệt May tăng trởng nhanh
tạo nhu cầu lớn về nguyên liệu nh bông, tơ tằm do đó đã khuyến khích ngời
nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ sản xuất độc canh cây lơng thực sang
trồng cây bông, trồng dâu, nuôi tằm, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nâng
cao thu nhập cho ngời nông dân. Đồng thời, với việc mở rộng sản xuất, nhu
cầu về máy móc thiết bị và phụ tùng thay thế của ngành cũng tăng lên, do đó
khuyến khích ngành cơ khí phát triển. Tất cả đều đóng góp cho sự tăng trởng
kinh tế chung của đất nớc, cải thiện đời sống nhân dân.
Trong các năm vừa qua, kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May liên tục
tăng từ năm 1992 đến nay với tốc độ cao và luôn là một trong 10 mặt hàng
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Đặc biệt từ năm 1994, kim ngạch xuất khẩu
Dệt May luôn đứng thứ hai về giá trị, chỉ sau dầu thô. Kim ngạch xuất khẩu
hàng Dệt May tăng nhanh qua các năm cả về giá trị tuyệt đối (năm 1991 đạt
189 triệu USD; năm 1995 đạt 850 triệu USD và đến năm 2001 kim ngạch xuất
khẩu đạt 1975 triệu USD, năm 2002 kim ngạch xuất khẩu 2710 triệu USD
tăng 37,2% vợt 12,9%) lẫn tốc độ tăng trởng (trong giai đoạn 1995-2001 tốc
độ tăng trởng bình quân giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May 17,4%).
Năm 2002 là năm đánh dấu sự phát triển vựơt bậc hàng Dệt May Việt Nam
trong vòng năm năm qua và thắng lợi chủ yếu dựa vào thị trờng Mỹ. Hiện nay
ngành tạo ra khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu cả nớc, trên 40% kim ngạch
xuất khẩu của ngành công nghiệp chế tác, mang lại nguồn ngoại tệ rất quý
bằng 1/10 so với Thái Lan, 1/15 so Iđônêxia, 1/30 so ấn Độ và 1/50 so Trung
Quốc). Việc thực hiện Hiệp định ATC/WTO ở giai đoạn cuối cùng từ nay đến
năm 2004 sẽ làm cho vị trí cạnh tranh hàng Dệt May Việt Nam trên thị trờng
Châu Âu và Bắc Mỹ thêm khó khăn do nớc ta cha phải là thành viên của tổ
Nguyễn Thị Thu Huyền
12
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
chức thơng mại Thế giới (WTO). Việc thực hiện AFTA/CEFT từ nay đến cuối
năm 2005 và sẽ làm giảm dần và đến loại bỏ hoàn toàn vào năm 2006 việc bảo
hộ hàng Dệt May Việt Nam tại thị trờng nội địa trớc hàng nhập khẩu của các
nớc Đông Nam á.
Yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng trong bối cảnh đó đặt ra
cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều bài toán hết sức khó khăn. Đó là làm
sao để vừa phát triển mở rộng sản xuất, vừa nâng cấp và khai thác tối đa năng
lực sản xuất hiện có. Làm sao trong thời gian ngắn (từ 3 đến 5 năm) các doanh
nghiệp Dệt May Việt Nam phải đa ra đợc năng lực quản lý sản xuất tiếp thị
lên ngang tầm các nớc xuất khẩu trong khu vực để có thể cạnh tranh đợc về
năng suất lao động, giá thành và chất lợng sản phẩm, uy tín nhãn hiệu, thiết kế
sản phẩm, giao hàng nhanh, đúng tiến độ và khả năng sản xuất đợc các lô
hàng nhỏ. Vì vậy ngay từ bây giờ ngành Công nghiệp Dệt May Việt Nam cần
có những giải pháp tài chính kết hợp chính sách của Nhà nớc cụ thể để đa
ngành có đủ năng lực cạnh tranh với các nớc khác trên thế giới vào thời điểm
2006 và những năm sau đó.
Hiện nay, ngành Công nghiệp Dệt May Việt Nam đã trở thành thành
viên chính thức của Hiệp hội Dệt May Đông Nam á (AFTEX), tham gia vài
hiệp hội bông Liperpool và quan hệ thơng mại Việt Mỹ đã và đang diễn ra
theo hớng tích cực. Cùng với đờng lối đối ngoại mở rộng, chúng ta có thể tin
tởng rằng ngành Công nghiệp Dệt May Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh
hơn nữa và trở thành một ngành kinh tế chủ lực của đất nớc.
1.2.2.Nội dung các giải pháp tài chính.
nhận cho vay trớc khi quyết định đầu t.
Đối ngành Dệt May Việt Nam Nhà nớc có kế hoạch đầu t bằng nguồn
vốn tín dụng phát triển từ nay đến năm 2010 là rất lớn cho các dự án đầu t
xây dựng cụm Công nghiệp Dệt May.
Nguyễn Thị Thu Huyền
14
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Nguồn vốn do nhà nớc hỗ trợ u đãi
- Để bổ sung vốn cho doanh nghiệp, nhà nớc không thu tiền sử dụng vốn mà
để lại cho các doanh nghiệp bổ sung vào vốn của mình, làm tăng nguồn
vốn cho doanh nghiệp.
- Một số doanh nghiệp đợc tính vào chi phí một tỷ lệ % nhất định để lấy
nguồn vốn đầu t cho vùng nguyên liệu.
- Nhà nớc hỗ trợ cho các doanh nghiệp từ nguồn chi phí cải cách doanh
nghiệp nằm trong chơng trình xoá đói giảm nghèo
- Ngoài các nguồn trên nhà nớc còn hỗ trợ cho các doanh nghiệp từ quỹ hỗ
trợ và từ quỹ xắp xếp cổ phần hoá.
Đối ngành Dệt May Việt Nam năm 2001 từ ngày quyết định
55/2001/QĐ-TTg ngày 23/4/2001của thủ tớng Chính phủ có hiệu lực thi hành,
các doanh nghiệp nhà nớc sản xuất sợi, dệt, in, nhuộm hoàn tất, nguyên liệu
dệt, phụ liệu may và cơ khí dệt may đợc cấp lại tiền thu sử dụng vốn để đầu t
mới đầu t chiều sâu, đầu t mở rộng.
Nguồn vốn vay từ các ngân hàng thơng mại.
Đối các ngành chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế thì Nhà nớc cần
có những chính sách u đãi nh cho vay với mức lãi suất thấp; bảo lãnh tín
dụng
1.2.2.2.Giải pháp về đầu t
ýnghĩa: Đầu t là một trong những giải pháp quan trọng nhất: có đầu t
thì mới có đổi mới không có đầu t thì không có đổi mới. Một ngành kinh tế
muốn phát triển mạnh mẽ thì phải có một hớng đầu t đúng đắn, hiệu quả.
16
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Chơng II
thực trạng các giải pháp tài chính với sự phát
triển của ngành Công nghiệp Dệt May từ năm
1995 đến 2002
2.1. Khái quát chung về ngành Dệt May Việt Nam
2.1.1. Tình hình sản xuất giai đoạn 1995-2002
Theo thống kê kết quả sản xuất của Ngành qua các năm nh sau:
Bảng 1: Kết quả sản xuất của ngành Dệt May Việt Nam giai đoạn
1995 2002
Chỉ tiêu Đơn vị 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
2002
Tăng
BQ(%)
Doanh
thu
Tỷ đồng 4567 4954 5462 5882 6579 8083 9566
14789
13,5
Nộp ngân
sách
Tỷ đồng 162,4 163,5 134,3 140,6 209,0 259 298,6
356
10,8
KNXK
Triệu
USD
850 1150 1503 1450 1747 1900 1975,4
2710
nhanh chóng và bắt đầu tiếp cận ở thị trờng Hoa Kỳ.
Từ năm 1997-1999: Giai đoạn mà cơn khủng khoảng tài chính từ Hàn
Quốc và Nhật Bản đã ảnh hởng đến sản xuất và kinh doanh hàng. Giá gia công
giảm sút, đầu t nớc ngoài vào Việt Nam và vào khu vực cũng giảm nhanh
chóng. Mức độ cạnh tranh gay gắt hơn. Nhiều công ty Dệt May trong khu vực
lâm tình trạng phá sản khó khăn về tài chính kéo dài Tuy nhiên, trong giai
đoạn này, thị trờng EU có thuận lợi hơn, tiếp cận đợc với thị trờng Mỹ nhiều
hơn, chuẩn bị điều kiện để nối lại thị trờng Nga và các nớc SNG.
Từ năm 2000-2001: Chuyển sang năm 2001, năm mở đầu cho thời kỳ
kế hoạch 2001-2005, các doanh nghiệp Dệt May có một số thuận lợi cơ bản
nh kinh tế nớc ta có đà hồi phục, Nhà nớc tăng cờng các hoạt động đối ngoại
mở rộng thị trờng, ngành Dệt May Việt Nam đợc Chính Phủ quan tâm phê
duyệt chiến lợc phát triển kèm theo các chính sách u đãi tạo điều kiện vơn lên
hội nhập với khu vực và thế giới. Tuy nhiên ngành cũng gặp phải khó khăn lớn
và những biến động phức tạp nh:
- Kinh tế thế giới tiếp tục trì trệ và suy giảm sau sự kiện ngày 11/9. Thị
trờng các nớc nhập khẩu hàng Dệt May lớn nh Nhật, Mỹ bị thu hẹp. Cạnh
tranh gay gắt dẫn đến giá xuất khẩu giảm mạnh. Một số thị trờng xuất khẩu
bị thu hẹp. Một số thị trờng xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam (Mỹ, Đông
Âu, SNG) cha đủ điều kiện để khai thác có hiệu quả. Thiên tai năm 2000-2001
liên tiếp xảy ra để lại hậu quả nặng nề, các mặt hàng nông sản rớt giá làm thị
trờng trong nớc kém sôi động. Thêm vào đó, hàng Dệt May nhập lậu trốn thuế
với số lợng lớn gây ảnh hởng xấu đến sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp.
Nguyễn Thị Thu Huyền
18
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
- Vốn lu động thiếu, vốn vay đầu t lớn, chi phí đầu vào tăng đã làm
tăng giá thành, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Năm 2001-2002: Hiệp định thơng mại Việt Mỹ có hiệu lực thuế nhập
lớn hàng công nghiệp có hàng Dệt May.
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam đã có
một số hoạt động tích cực trong việc tiêu thụ hàng hoá ở thị trờng nội địa nh
tổ chức các hội chợ hàng tiêu dùng, hội chợ thời trang, tổ chức các buổi biểu
diễn thời trang, mở đại lý, cửa hàng giới thiệu sản phẩm cho ngời tiêu dùng
trong nớc. Những hoạt động này đã thực sự gây sự chú ý với khách hàng. Hơn
nữa, chất lợng hàng may Việt Nam giờ đây cũng đựơc nâng lên rõ rệt, một số
mặt hàng đợc nhiều ngời trong nớc chấp nhận nh áo sơ mi của Công ty may
10, Công ty may Việt Tiến, áo thu đông của Công ty May Thăng Long, áo
jacket của Công ty May Đức Giang, hàng dệt kim của Dệt kim Hà Nội, dệt
8/3, Việt Thắng Những kết quả đó thể hiện sự cố gắng lớn của các doanh
nghiệp Dệt May Việt Nam và sự quan tâm đúng mức với thị trờng trong nớc.
Hiện nay, hầu nh các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam từ trung ơng
đến địa phơng chỉ chú trọng vào việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu ,những sản
phẩm dành để tiêu thụ trong nớc chủ yếu là những sản phẩm không xuất đợc
(sản phẩm tồn kho, sản phẩm kém chất lợng ) Điều này thể hiện qua các
gian hàng giới thiệu sản phẩm của một số doanh nghiệp, đa ra những sản
phẩm bị loại, không xuất khẩu đợc ra bán. Do vậy, việc tiêu thụ sản phẩm
may mặc nội địa đã có một sự xắp xếp một cách tự phát: ở khu vực thành thị,
đặc biệt là ở các thành phố lớn, các cơ sở sản xuất hàng may mặc t nhân ra đời
rất nhanh với nhiều qui mô khác nhau dần thay thế cho may quốc doanh. Sự
chuyển đổi này làm cho nhu cầu của ngời thành thị có vẻ đợc đáp ứng đầy đủ,
thuận tiện hợp túi tiền của mọi đối tợng. ở khu vực nông thôn, miền núi thì
ngợc lại, thị trờng gần nh bị bỏ trống bởi khả năng thanh toán của thị trờng
quá thấp, không đủ sức hấp dẫn các t thơng đầu t.
Xét một cách tổng thể, có thể thấy tình hình tiêu thụ sản phẩm dệt May
trong nớc ta diễn ra rất chậm chạp là do thị trờng hàng Dệt May trong nớc đã
bị coi thờng. Tính đến thời điểm hiện nay, hệ thống tổ chức bán buôn, bán lẻ
Nguyễn Thị Thu Huyền
20
USD, EU thực sự làm một thị trờng có tiềm năng, có đầy tiềm năng, có mức
tiêu dùng hàng Dệt May khá cao so với thế giới (chỉ sau Mỹ và Nhật Bản)
Nguyễn Thị Thu Huyền
21
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
17kg/ngời/năm.
Giá cả, chất lợng hàng Dệt May Việt Nam xuất khẩu sang EU đợc đánh
giá là khá tốt. Hiện EU là thị trờng xuất khẩu lớn của hàng Dệt May. Hàng
năm, hàng Dệt May Việt Nam xuất khẩu sang EU chiếm gần 40% tổng kim
ngạch xuất khẩu toàn ngành. Sau hơn 9 năm xâm nhập vào thị trờng EU, hàng
Dệt May Việt Nam đã có một chỗ đứng khá vững chắc. Nếu nh năm 1993,
muốn xuất khẩu sang thị trờng EU, Việt Nam phải xin hạn ngạch cho 151 mặt
hàng nhng đến nay số mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch chỉ còn 29 mặt hàng.
Đây là một thuận lợi lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc từng bớc
thâm nhập thị trờng này.
Hàng năm, EU nhập khẩu 63 tỷ USD hàng Dệt May các loại, trong đó
Đức là thị trờng lớn nhất chiếm 36,1%, tiếp theo là Pháp 12,15%, Hà Lan
9,4%, Thuỵ Sỹ 7,46% còn lại là các nớc khác. Tuy nhiên chúng ta cần nhận
thấy rằng đây là thị trờng hết sức khó tính, luôn đòi hỏi chất lợng cao, mẫu mã
thay đổi liên tục, số lợng đơn đặt hàng chia nhỏ. Hơn nữa, nh đã nói ở phần
trên hiện nay EU đang áp dụng phi hạn ngạch cho khoảng 43 nớc và đặc biệt
bỏ hẳn cho Trung Quốc nên chúng ta bị mất lợi thế cạnh tranh. Chính vì vậy,
ngành Dệt May Việt Nam cần có những giải pháp tài chính hết sức thiết thực
để tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ từ các nớc Châu á (Đài Loan,
Trung Quốc), Châu Mỹ để giành thị phần xuất khẩu lớn trên thị trờng quốc
tế nói chung và thị trờng EU nói riêng.
b) Thị trờng Nhật Bản
Nhật Bản là một cờng quốc về công nghiệp Dệt May. Song do giá nhân
công tại Nhật ngày càng cao lại thiếu nhân công, nên Nhật Bản đã chuyển đổi
chiến lợc là giảm sản xuất hàng Dệt May trong nớc và tăng nhập khẩu hàng
Hoàng Ân, Tổng giám đốc công ty Dệt May Việt Nam cho hay Hiệp hội Dệt
May Việt Nam đã tiến hành thuê một công ty t vấn của Mỹ giúp đỡ trong quá
trình đàm phán. Thông thờng, để tiến tới việc ký hiệp định Dệt May, đại diện
hai bên phải trải qua 3 vòng đàm phán. Mặc dù cha thể biết mức hạn ngạch
mà Mỹ quyết định, song kế hoạch ngành Dệt May sẽ giữ nguyên không đổi.
Nh vậy, dự tính trong năm 2003, kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May Việt
Nguyễn Thị Thu Huyền
23
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Nam vào khoảng 3,2 tỷ USD, trong đó xuất sang Mỹ khoảng 1,5 tỷ USD. Nh
vậy để thực hiện mục tiêu đề ra phát triển và đứng vững thì toàn ngành Dệt
May Việt Nam phải nỗ lực cố gắng thật nhiều. Sự cố gắng đó trớc hết phải
xuất phát từ chính nội lực các doanh nghiệp, chiến lợc toàn ngành và thêm vào
đó nhà nớc cần có những chính sách hỗ trợ để ngành Dệt May Việt Nam có
thể hoàn toàn cạnh tranh đợc với hàng Dệt May các nớc trong khu vực và trên
thế giới.
d/ Thị trờng ASEAN
Sau khi là thành viên chính thức của ASEAN và năm 1999, quan hệ th-
ơng mại giữa Việt Nam và các nớc ASEAN tăng nên không ngừng. Hiện kim
ngạch của Việt Nam sang các nớc này chiếm khoảng 1/3 kim ngạch của cả n-
ớc. Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam sang ASEAN đến
nay còn rất nhỏ bé so tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành (chiếm khoảng 4-
5% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành). Các nớc thuộc ASEAN nhập khẩu
hàng Dệt May Việt Nam chủ yếu là hàng gia công, do đó giá trị thu thực tế là
không cao. Điều này cho thấy Dệt May Việt Nam xuất khẩu thị trờng ASEAN
vừa ít lại không ổn định. Mặt khác hiện này, xuất khẩu vào thị trờng này thì
hàng Dệt May Việt Nam vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt của hàng Dệt May
Trung Quốc, Thái Lan, Đài loan với sản phẩm đa dạng, kiểu dáng phong phú,
hợp giá thành. Đây là vấn đề bất cập trong quá trình hội nhập AFTA đến tiến
tới hội nhập WTO của ngành Công nghiệp Dệt May Việt Nam.
không bắt kịp trình độ công nghệ ngày càng hiện đại cờng độ làm việc ngày
càng căng thẳng của ngành Dệt May Việt Nam
A/Lao động của ngành Dệt May Việt Nam.
Lao động trong ngành Dệt
Lao động trong ngành dệt trong cả nớc chiếm tỷ trọng rất lớn so lao
động công nghiệp. Tuy nhiên, số lao động trong ngành Dệt May Việt Nam
Nguyễn Thị Thu Huyền
25