Quan điểm, chính sách và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân trong TK hiện nay - Pdf 31

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Lời mở đầu
C.M ác và Ph.Ănghen cùng với việc phân tích phương thức sản xuất TBCN, ngoài việc
rút ra sự tiến bộ của CNTB trong việc phát triển sức sản xuất và xã hội hoá sức lao động,
hai ông cũng đã phân tích rõ những mâu thuẫn ngay trong lòng XH t ư bản, t ừđó dẫn đến
khẳng định sự ra đời củ a CNCS. Song con đường tiến lên CXCS không thể diễn ra ngay
được, mà phải trải qua qua một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia ,
đó chính là thời kỳ quá độ. V ì vậy trong thời kỳ này ngoài những yếu tố mới của xã hội
mới, n ó còn tồn tại những yếu tố của xã hội cũ, đó chính là s ự tồn tại của thành phần
kinh t ế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên CNXH . Và Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ
cũng không năm ngoài quy luật chung đó, nhưng sự tồn tại của th ành phần kinh tế tư
nhân ở VN cũng có đặc điểm riêngnh ất là trong thời kỳ đổi mới h ướng đi riêng, và có
những đóng góp nhất định cho nền kinh tê VN. Việt Nam chính thức khởi xướng công
cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm 1986. Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn,
trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập
trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối
ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam
giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa,
đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội.
Cơ cấu các thành phần kinh tế ngày càng được chuyển dịch theo hướng phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước, trong đó kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt
động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Từ những định hướng đó, khung
pháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sức
sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
Nền kinh tế mà nước ta lựa chọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Theo đó, nếu không có kinh tế nhà nước sẽ không có định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng

ty cổ phần được thành lập theo luật doanh nghiêp tư nhân , luật công ty.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay, thành phần kinh tế này còn có vai
trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất , xã hội hoá sản xuất cũng
như phương diện giải quyết các vấn đề xã hội . Hiện nay thành phần kinh tế tư bản tư
nhân đang phát triển mạnh mẽ, và đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
II/Tính tất yếu tồn tại kinh tế tư nhân ở nước ta trong TKQĐ lên
CNXH :
Lênin đã khẳng định :trong TKQĐ lên CNXH , nền kinh tế bao gồm nhiều đặc điểm
và đặc tính của kết cấu kinh tế xã hội cũ, đồng thời lại xuất hiện những đặc điểm và đặc
tính của kết cấu kinh tế của xã hội mới , chúng tồn tại xoắn xuýt lẫn nhau . Từ đó , Lênin
rút ra đặc điểm kinh tế mang tính phổ biến trong TKQĐ lên CNXH là nền kinh tế nhiều
thành phần , mặc dù ở mỗi nước , mỗi thời kỳ khác nhau số lượng TPKT có thể nhiều ít
khác nhau
Nền kinh tế mà nước ta lựa chọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Theo đó, nếu không có kinh tế nhà nước sẽ không có định hướng xã hội chủ nghĩa,
nhưng nếu không có kinh tế tư nhân, cũng sẽ không có kinh tế thị trường. Chính vì thế
mà phát triển kinh tế nhiều thành phần nói chung và phát triển kinh tế tư nhân nói riêng là
một trong những nội dung quan trọng của đường lối đổi mới kinh tế của Đảng ta.
Để thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất
cho CNXH là mục tiêu , nhiệm vụ trọng yếu của TKQĐ ở nước ta. Song , nước ta xuất
phát điểm là nước phong kiến lạc hậu, lại phải trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ,
thiệt hại sức người, sức của lại bỏ qua CNTB , chính là bỏ qua giai đoạn xây dựng cơ sở
vật chất cho thời kỳ CNXH. Vì vậy TKQĐ ở nước ta gặp phải nhiều khó khăn, nhất là về
vốn. Trong điều kiện thu nhập quôc dân còn thấpvà ngân sách Nhà nước rất hạn hẹp , nếu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chỉ trông chờ vào Nhà nước không thì TKQĐ ở nước ta sẽ không hoặc chậm thực hiện
nhiêm vụ nói trên. Để thực hiện hiệu quả và với tốc độ nhanh các nhiệm vụ nói trên , phải
giải phóng mọi tiềm lực bị kìm hãm trước đây, khai thác và sử dụng hiệu quả mọi tiềm
lực về vốn , công nghệ , kinh nghiệm quản lý , sức lao động và nhất là nguồn lao động trí
tuệ …Mục đích đó chỉ có thể thực hiện được khi sử dụng được sức mạnh tổng hợp của

vực có vốn đầu tư nước ngoài và đạt xấp xỉ với tỷ trọng 39,22% của khu vực kinh tế nhà
nước. Riêng tỷ trọng trong GDP của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân nhìn
chung đã tăng lên qua các năm: nếu năm 2000 mới chiếm 7,31%, thì năm 2005 là 8,91%.
Đáng lưu ý, tốc độ tăng trưởng GDP do các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân
luôn luôn cao hơn gấp rưỡi, gấp đôi tốc độ tăng chung cũng như cao hơn tốc độ tăng của
các khu vực khác.
b- Đóng góp và huy động các nguồn vốn trong xã hội , nộp ngân sách cho Nhà nước
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong những năm sau cải cách mở cửa, vốn đầu tư của khu vực tư nhân tăng nhanh và
chiếm tỷ lệ cao trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội:
Năm Vốn (tỷ đồng) Chiếm(%)
1999 31.542 24,05
2000 35.894 24,31

Năm 2000, vốn đầu tư của hộ kinh doanh cá thể đạt 29.267 tỷ đồng chiếm 19,82% tổng
số vốn toàn xã hội . Vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp tư nhân đạt 6.627 tỷ
đồng chiếm 4,49% tổng vốn đầu tư toàn xã hội .
Tổng vốn sử dụng thực tế của khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh, nhất là các
doanh nghiệp tư nhân: năm1999 : 79.493 tỷ đồng
năm 2000 : 110.071 tỷ đồng , tăng 38,5%
Các địa phương tăng mạnh vốn sử dụng thực tế cho doanh nghiệp là:
Hà Nội : 10.164 tỷ đồng (1999) lên 16.573 tỷ đồng (2000), tăng 63,05%
TPHCM: 36.954 tỷ đồng (1999) lên 52.353 tỷ đồng (2000), tăng 41,67%
Chính Phủ thu được những khoản thu ngân sách lớn từ khu vực kinh tế tư nhân do các
do khu vực kinh tế này hoạt động có hiệu quả hơn các doanh nghiệp nhà nước nhất là
trong các ngành có tính cạnh tranh cao, thâm hụt ngân sách giảm .Đóng góp vào ngân
sách của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển:
Năm 2000, nộp ngân sách nhà nước được 5.900 tỷ đồng ( chiếm 7,3% ngân sách, tăng
12,5% so với năm 1999)
c- Khu vực kinh tế tư nhân thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, tạo việc làm, góp

việc làm mới. Ước tính ban đầu cho thấy các hộ kinh doanh khu vực kinh tế tư nhân đã
đóng góp tới 90% tổng số 7,5 triệu việc làm được tạo ra trong giai đoạn 5 năm cho tới
năm 2005. Phần lớn trong tổng số 1,6 triệu việc làm mới mỗi năm mà VN cần có trong
giai đoạn 2006-2010 hy vọng sẽ có do khu vực kinh tế tư nhân tạo ra.
Quan hệ phân phối giờ đây trở nên linh hoạt , đa dạng , ngoài phân phối chủ yếu dựa
trên lao động , còn sử dụng hình thức phân phối theo vốn góp , tài sản , cổ phần và các
hình thức khác …. Vì vậy QHSX trở nên mềm dẻo , linh hoạt , dễ được chấp nhận và
phù hợp với thực trạng của nền kinh tế và tâm lý xã hội của nước ta hiện nay . Chuyển
biến QHSX khơi dạy , phát huy tiềm năng vốn , TLSX , tài nguyên thiên nhiên , đặc
biệt là nguồn lao động dồi dào và tiềm lực của hàng triệu hộ dân, góp phần xoá đói
giảm nghèo( từ 16,5% hộ đói nghèo năm 1995, đến năm 2000 chỉ còn 11%). Không
những vậy còn cải thiện đáng kể đời sống dân cư ỏ cả thành thị và nông thôn . Theo
thực tế khảo sát , thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế tư nhân thường có
mức thu nhập tương đương hoặc cao hơn thu nhập của lao động trồng lúa ở nông thôn
ở cùng địa bàn , góp phần đưa đất nước vượt qua khủng hoảng , và là một trong những
quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhiều năm liền trong khu vực và trên thế giới
d- Thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo định
hướng thị trường , tạo sự cạnh tranh trong nền kinh tế
Trước đây , hầu hết các lĩnh vực kinh tế , các ngành sản xuất kinh doanh v.v đều do kinh
tế Nhà nước và kinh tế tập thể đảm nhiệm . Hiện nay trừ một số lĩnh vực , ngành nghề mà
Nhà nước độc quyền , kinh tế tư nhân không được kinh doanh , còn lại hàu hết các ngành
nghề , lĩnh vực sản xuất , kinh doanh khác , khu vực kinh tế tư nhân đều tham gia . Trong
đó nhiều lĩnh vực , ngành nghề , kinh tế tư nhân chiếm tỷ lệ cao :sản xuất lương thực ,
thực phẩm , nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản , dệt may, da giày…
TPKT tư nhân đã mang về hàng tỷ đôla ngoại tệ cho đất nước .
Chính sự phát triển phong phú , đa dạng các cơ sỏ sản xuất , ngành nghề , loại sản phẩm
dịch vụ , các hình thức kinh doanh v.v.. của các khu vực kinh tế tư nhân mang lại đã tác
động mạnh đến các doanh nghiệp nhà nước , buộc khu vực kinh tế nhà nước phải cải tổ ,
sắp xếp lại , đầu tư đổi mới cơ chế, bộ máy cũng như phương pháp kinh doanh , dịch
vụ… để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường . Qua đó , khu vực kinh tế tư nhân

trồng, đánh bắt thuỷ hải sản, công nghiệp chế biến …) , nhiều ngành hàng( thương mại ,
dịch vụ , bán lẻ hàng hoá , ăn uống, gia công giày dép , dệt may , thủ công mỹ nghệ xuất
khẩu…)
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng số lượng các nhà doanh nghiệp tư nhân , chủ trang trại
cùng giám đốc các doanh nghiêp nhà nước là thành quả trọng mà công cuộc đổi mới đã
tạo nên . Nhưng nếu so với yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế( dân) và đặc biệt trước
yêu cầu mở cửa , hội nhập nền kinh tế nước ta với khu vực và Thế Giới _ đòi hỏi phải có
đội ngũ các nhà doanh nghiệp đủ mạnh , ngang sức ngang tài , là đối tác với các doanh
nghiệp nước ngoài . Với những đòi hỏi đó, thì số lượng chủ doanh nghiệp ở nước ta nói
trên còn quá nhỏ bé . Đa số các doanh nghiệp ở nước ta còn ở dạng vừa và nhỏ . Phần lớn
các chủ doanh nghiệp ở độ tuổi trung niên , có trình độ văn hoá , trưởng thành trong giai
đoạn đổi mới , con đường lập nghiệp của họ cũng khác nhau . Phần đông là cán bộ , công
nhân viên Nhà nước vì nhiều lý do nên thành lập doanh nghiệp . Một số là cán bộ về
hưu , phục viên, xuất ngũ , số khác là học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp có cơ hội
bước vào con đường lập nghiệp v.v.. Phần lớn họ đều xuất thân từ gia đình lao động , bản
thân họ cũng là người lao động lớn lên trong chế độ mới – trong đó không ít người là cán
bộ , đảng viên được đào tạo ngành nghề , có trình độ , bằng cấp , đã tham gia cách mạng
và sự nghiệp xây dựng CNXH , có hoài bão , ước mơ v.v..muốn thử sức trong thương
trường để làm giàu cho mình và cho xã hội và là người làm ăn chân chính
Mặc dù có không ít các chủ doanh nghiêp, trang trại có biểu hiện tiêu cực, chạy theo
đồng tiền bất chấp luật pháp , đạo lý xã hội , làm ăn phi pháp , hàng giả … gây thiệt hại
cho xã hội , cần giáo dục …Nhìn chung cầm có hệ thống luật pháp đồng bộ , chặt chẽ , rõ
ràng đối với khu vực kinh tế tư nhân , nhưng đồng thời cũng cần có chính sách biện pháp
khuyến khích họ để họ thực sự đứng trong đội ngũ các nhà doanh nghiệp Việt Nam, thúc
đẩy con tàu kinh tế đất nước , thực hiện thành cồn CNH-HĐH đất nước
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
B/ Thực trạng phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta hiện
nay
I/Sự phát triển về số lượng của khu vực kinh tế tư nhân
Trước đổi mới(1986), khu vực kinh tế tý nhân là đối tượng cải tạo XHCN, không

lần so với thời kỳ 1991 - 1999.
Số cơ sở kinh doanh tư nhân giai đoạn 1991 – 1998
Loại hình 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
DNTBTN 414 5198 6808 10881 15276 18894 25002 26021
DNTN 270 3676 5812 7794 10916 12464 17500 18750
CTTNHH 122 1444 1607 2968 424 6303 7350 7100
CTCP 22 78 19 119 118 127 152 171
Số cơ sở
kd cá thể
1498600 1533100 2050200 2215000
+kinh tế cá thể bình quân giai đoạn 1990 - 1996 : mỗi năm tăng 553.775 cơsở (tốc độ
tăng hàng năm lớn hơn 20%).
+Từ năm 1992 đến năm 1994 số đơn vị kinh tế cá thể tăng 34500 đơn vị
+Từ năm 1994 đến năm 1995 số đơn vị kinh tế cá thể tăng 517100 đơn vị , tức là chỉ
trong 1 năm, riêng số đõn vị cá thể đã tăng nhiều hơn hẳn so với năm trc ,vì do có sự mở
cửa thông thoáng, nhiều ngýời nhận thức được vai trò cũng nhý lợi ích của hình thức kinh
doanh này
+Từ năm1995 đến năm1996 số đõn vị kinh tế cá thể tăng 164800đơn vị , có sự giảm sút
này do có nhiều đõn vị cá thể, có nguồn vốn bắt đầu khá, chuyển sang hình thức khác nhý
thành lập doanh nghiêp...
Các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn ....cũng có những bước phát
triển vượt bậc về số lượng.
Số l ượng TBTN giai đoạn 1991_1998
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
Số
lượng
414 5.198 6.808 10.881 15.276 18.894 25.002 26.001
Tính trong giai đoạn 2000-2004, đã có 73.000 doanh nghiệp tư nhân đăng ký mới, tăng
3,75 lần so với giai đoạn 1991-1999. Cho đến năm 2004, đã có 150.000 doanh nghiệp tư

việc dừng kinh doanh cũng như việc đăng ký kinh doanh mới là hiện tượng bình thường
của quá trình phát triển khi mà các doanh nghiệp phản ứng với những thay đổi liên tục
của môi trường bên ngoài, ví dụ như cơ hội thị trường mới, các khó khăn mới xuất hiện
v.v. Vì vậy, hiện tượng số lượng doanh nghiệp còn hoạt động ít hơn số lượng doanh
nghiệp đã đăng ký thành lập là một điều dễ hiểu và ở một mức độ nào đó phản ánh sự
năng động của khối doanh nghiệp tư nhân. ở các nước phát triển thuộc tổ chức OECD, tỷ
lệ doanh nghiệp còn hoạt động sau 2 năm vào khoảng 60-70% và sau 7 năm thì chỉ còn là
40-50%. Tuy nhiên, hệ thống đăng ký doanh nghiệp hiện nay của Việt Nam chưa cung
cấp được thông tin đầy đủ về những doanh nghiệp đã dừng hoạt động hay thay đổi và lý
do thay đổi. Theo kết quả nghiên cứu gần đây của MPDF, nguyên nhân giải thích sự
chênh lệch giữa số liệu của cơ quan phụ trách đăng ký doanh nghiệp và TCTK là doanh
nghiệp giải thể và ngừng hoạt động thì hầu như không được ghi nhận trong hệ thống đăng
ký doanh nghiệp của TTTTDN; nhiều doanh nghiệp đăng ký thành lập không phải là
doanh nghiệp thành lập mới mà là chi nhánh hoặc công ty con của một doanh nghiệp
khác và một số doanh nghiệp có thể đăng ký nhằm phục vụ những mục đích cá nhân hay
mục đích đặc biệt của riêng doanh nghiệp (ví dụ như được mua quyển "hóa đơn đỏ"
VAT). Hiểu rõ hơn những nguyên nhân này sẽ giúp Nhà nước có được các chính sách
quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp thiết thực hơn.
II/Sự phát triển theo ngành nghề sản xuất kinh doanh
Đứng trên khía cạnh ngành thì khu vực kinh tế tư nhân đang phát triển mạnh. Kinh tế tư
nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành
nghề mà pháp luật không cấm Theo điều tra của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, số
lượng doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong các lĩnh vực trên cả nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status