định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở việt nam - Pdf 10

MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ 1
M UỞ ĐẦ 9
CH NG 1. C S LÝ LU N V TH C TI N V CHUY N D CH ƯƠ Ơ Ở Ậ À Ự Ễ Ề Ể Ị
C C U KINH T NG NH NÔNG NGHI PƠ Ấ Ế À Ệ 13
1.1.C c u kinh t và chuy n d ch c c u kinh t ngành ơ ấ ế ể ị ơ ấ ế 13
1.1.1.Khái ni m v c tr ng c a c c u kinh tệ à đặ ư ủ ơ ấ ế 13
1.1.2.Chuy n d ch c c u kinh t ng nh v nh ng nhân t nh h ngể ị ơ ấ ế à à ữ ố ả ưở
t i quá trình chuy n d ch c c u kinh t ng nhớ ể ị ơ ấ ế à 16
1.2.C c u kinh t ngành nông nghi p và chuy n d ch c c u kinh t ơ ấ ế ệ ể ị ơ ấ ế
ngành nông nghi pệ 21
1.2.1.C c u kinh t ng nh nông nghi p ơ ấ ế à ệ 21
1.2.2.Chuy n d ch c c u kinh t ng nh nông nghi p ể ị ơ ấ ế à ệ 23
1.2.3.Xu h ng chuy n d ch c c u kinh t ng nh nông nghi p ướ ể ị ơ ấ ế à ệ 28
1.3.Kinh nghi m chuy n d ch c c u kinh t nông nghi p m t s ệ ể ị ơ ấ ế ệ ở ộ ố
n c.ướ 30
1.3.1.Kinh nghi m Thái Lanệ 30
1.3.2.Kinh nghi m Malaysiaệ 33
1.3.3.Kinh nghi m Indonesiaệ 36
CH NG 2. TH C TR NG CHUY N D CH C C U KINH T ƯƠ Ự Ạ Ể Ị Ơ Ấ Ế
NG NH NÔNG NGHI P VI T NAM 1986 - 2002À Ệ Ệ 41
2.1.Quá trình chuy n d ch c c u kinh t ngành nông nghi p Vi t Nam ể ị ơ ấ ế ệ ở ệ
giai đo n 1986 - 2002ạ 41
2.1.1.C c u kinh t công nghi p - nông nghi p - d ch vơ ấ ế ệ ệ ị ụ 42
2.1.2.C c u kinh t ng nh nông nghi p theo ngh a r ng: nông nghi pơ ấ ế à ệ ĩ ộ ệ
- lâm nghi p - thu s nệ ỷ ả 47
2.1.3.C c u kinh t ng nh nông nghi p theo ngh a h p: tr ng tr t- ơ ấ ế à ệ ĩ ẹ ồ ọ
ch n nuôi - d ch v nông nghi p.ă ị ụ ệ 56
1
2.1.4.C c u n i b ng nh tr ng tr tơ ấ ộ ộ à ồ ọ 62
2.1.5.C c u n i b ng nh ch n nuôiơ ấ ộ ộ à ă 79

T I LI U THAM KH OÀ Ệ Ả 119
3
DANH MỤC BẢNG
M C L CỤ Ụ 1
M UỞ ĐẦ 9
CH NG 1. C S LÝ LU N V TH C TI N V CHUY N D CH ƯƠ Ơ Ở Ậ À Ự Ễ Ề Ể Ị
C C U KINH T NG NH NÔNG NGHI PƠ Ấ Ế À Ệ 13
1.1.C c u kinh t và chuy n d ch c c u kinh t ngành ơ ấ ế ể ị ơ ấ ế 13
1.1.1.Khái ni m v c tr ng c a c c u kinh tệ à đặ ư ủ ơ ấ ế 13
1.1.2.Chuy n d ch c c u kinh t ng nh v nh ng nhân t nh h ngể ị ơ ấ ế à à ữ ố ả ưở
t i quá trình chuy n d ch c c u kinh t ng nhớ ể ị ơ ấ ế à 16
1.2.C c u kinh t ngành nông nghi p và chuy n d ch c c u kinh t ơ ấ ế ệ ể ị ơ ấ ế
ngành nông nghi pệ 21
1.2.1.C c u kinh t ng nh nông nghi p ơ ấ ế à ệ 21
1.2.2.Chuy n d ch c c u kinh t ng nh nông nghi p ể ị ơ ấ ế à ệ 23
1.2.3.Xu h ng chuy n d ch c c u kinh t ng nh nông nghi p ướ ể ị ơ ấ ế à ệ 28
1.3.Kinh nghi m chuy n d ch c c u kinh t nông nghi p m t s ệ ể ị ơ ấ ế ệ ở ộ ố
n c.ướ 30
1.3.1.Kinh nghi m Thái Lanệ 30
1.3.2.Kinh nghi m Malaysiaệ 33
1.3.3.Kinh nghi m Indonesiaệ 36
CH NG 2. TH C TR NG CHUY N D CH C C U KINH T ƯƠ Ự Ạ Ể Ị Ơ Ấ Ế
NG NH NÔNG NGHI P VI T NAM 1986 - 2002À Ệ Ệ 41
2.1.Quá trình chuy n d ch c c u kinh t ngành nông nghi p Vi t Nam ể ị ơ ấ ế ệ ở ệ
giai đo n 1986 - 2002ạ 41
2.1.1.C c u kinh t công nghi p - nông nghi p - d ch vơ ấ ế ệ ệ ị ụ 42
2.1.2.C c u kinh t ng nh nông nghi p theo ngh a r ng: nông nghi pơ ấ ế à ệ ĩ ộ ệ
- lâm nghi p - thu s nệ ỷ ả 47
2.1.3.C c u kinh t ng nh nông nghi p theo ngh a h p: tr ng tr t- ơ ấ ế à ệ ĩ ẹ ồ ọ
ch n nuôi - d ch v nông nghi p.ă ị ụ ệ 56

ng nh nông nghi p nói riêng.à ệ 113
K T LU NẾ Ậ 115
5
T I LI U THAM KH OÀ Ệ Ả 119
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
M C L CỤ Ụ 1
M UỞ ĐẦ 9
CH NG 1. C S LÝ LU N V TH C TI N V CHUY N D CH ƯƠ Ơ Ở Ậ À Ự Ễ Ề Ể Ị
C C U KINH T NG NH NÔNG NGHI PƠ Ấ Ế À Ệ 13
1.1.C c u kinh t và chuy n d ch c c u kinh t ngành ơ ấ ế ể ị ơ ấ ế 13
1.1.1.Khái ni m v c tr ng c a c c u kinh tệ à đặ ư ủ ơ ấ ế 13
1.1.2.Chuy n d ch c c u kinh t ng nh v nh ng nhân t nh h ngể ị ơ ấ ế à à ữ ố ả ưở
t i quá trình chuy n d ch c c u kinh t ng nhớ ể ị ơ ấ ế à 16
1.2.C c u kinh t ngành nông nghi p và chuy n d ch c c u kinh t ơ ấ ế ệ ể ị ơ ấ ế
ngành nông nghi pệ 21
1.2.1.C c u kinh t ng nh nông nghi p ơ ấ ế à ệ 21
1.2.2.Chuy n d ch c c u kinh t ng nh nông nghi p ể ị ơ ấ ế à ệ 23
1.2.3.Xu h ng chuy n d ch c c u kinh t ng nh nông nghi p ướ ể ị ơ ấ ế à ệ 28
1.3.Kinh nghi m chuy n d ch c c u kinh t nông nghi p m t s ệ ể ị ơ ấ ế ệ ở ộ ố
n c.ướ 30
1.3.1.Kinh nghi m Thái Lanệ 30
1.3.2.Kinh nghi m Malaysiaệ 33
1.3.3.Kinh nghi m Indonesiaệ 36
CH NG 2. TH C TR NG CHUY N D CH C C U KINH T ƯƠ Ự Ạ Ể Ị Ơ Ấ Ế
NG NH NÔNG NGHI P VI T NAM 1986 - 2002À Ệ Ệ 41
2.1.Quá trình chuy n d ch c c u kinh t ngành nông nghi p Vi t Nam ể ị ơ ấ ế ệ ở ệ
giai đo n 1986 - 2002ạ 41
2.1.1.C c u kinh t công nghi p - nông nghi p - d ch vơ ấ ế ệ ệ ị ụ 42
2.1.2.C c u kinh t ng nh nông nghi p theo ngh a r ng: nông nghi pơ ấ ế à ệ ĩ ộ ệ
- lâm nghi p - thu s nệ ỷ ả 47

3.2.7. i m i chính sâch v t ng c ng hi u l c qu n lý c a Nh Đổ ớ à ă ườ ệ ự ả ủ à
n c i v i nông nghi p nói chung v chuy n d ch c c u kinh t ướ đố ớ ệ à ể ị ơ ấ ế
ng nh nông nghi p nói riêng.à ệ 113
7
K T LU NẾ Ậ 115
T I LI U THAM KH OÀ Ệ Ả 119
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng, sản xuất
nông nghiệp của Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể. Trong một thời
gian không dài, từ một nền nông nghiệp tự túc, lạc hậu Việt Nam đã bước
đầu xây dựng được một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa; từ chỗ phải nhập
khẩu lương thực, Việt Nam không những đảm bảo được an toàn lương thực
quốc gia mà còn có xuất khẩu. Hơn thế nữa, một số mặt hàng nông nghiệp
xuất khẩu còn có vị thế và thị phần cao trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, hiện nay, sự phát triển của
nông nghiệp Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước. Các
nguồn lực nông nghiệp của Việt Nam vẫn đang bị sử dụng một cách lãng phí
và hiệu quả thấp. Với điều kiện khí hậu thuận lợi, đất đai màu mỡ và với
hơn 75% lực lượng lao động nhưng nông nghiệp chỉ đóng góp 23% vào tổng
sản phẩm quốc dân.
Để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, Nghị quyết hội nghị TW 5
khoá VII đã xác định: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình “tiếp tục đổi mới và phát triển kinh
tế nông thôn”. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được coi là
nội hàm của sự phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp Việt Nam, từ đó đưa ra các gợi ý về giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả phát triển của ngành nói riêng và phát triển kinh tế đất nước nói

10
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp và kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
ở một số nước, luận văn phân tích và làm rõ thực trạng quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất những giải
pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt
Nam theo hướng hợp lý hơn, hiệu quả hơn.
• Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa và phân tích một số luận điểm cơ bản về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành nông nghiệp và kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp của một số nước;
- Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam
từ 1986 đến nay và chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế của quá trình đó;
- Đề xuất quan điểm định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm thúc
đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp Việt Nam
hiệu quả hơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp có thể xem xét trên
nhiều góc độ khác nhau, song vì Luận văn nghiên cứu cơ cấu kinh tế
nông nghiệp trên phạm vi rộng của cả nước nên chỉ giới hạn nghiên cứu
về cơ cấu kinh tế nông nghiệp phân theo ngành (gọi tắt là cơ cấu kinh tế
ngành nông nghiệp) và sự chuyển dịch cơ cấu ấy. Đồng thời, ngành
nông nghiệp được hiểu theo nghĩa hẹp bao gồm ba nhóm ngành là: trồng
trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu: sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
Việt Nam trên phạm vi cả nước, có tham khảo kinh nghiệm chuyển dịch
11
cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước có nền nông nghiệp tiên tiến
trong khu vực.

thống thay đổi, nó chuyển sang một trạng thái khác về chất hay trở thành một
cơ cấu khác. Nếu hiểu biết cơ cấu của toàn bộ hệ thống thì sẽ nghiên cứu
được quy luật để xác định các vấn đề có tính định lượng của hệ thống đó. Vì
vậy, nghiên cứu về cơ cấu có vai trò cực kỳ quan trọng trong nghiên cứu hệ
thống và khi nghiên cứu cơ cấu, cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Không chỉ nghiên cứu về những yếu tố cấu thành hệ thống mà còn phải
nghiên cứu về mối quan hệ, liên kết hữu cơ giữa các yếu tố đó (cả về tỷ
trọng số lượng, chất lượng các yếu tố) và sự vận động, biến đổi cơ cấu của
hệ thống. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu theo chuỗi thời gian.
- Phải đứng trên quan điểm hệ thống để nghiên cứu cơ cấu.
Để nghiên cứu hệ thống kinh tế quốc dân, cần phải nghiên cứu về cơ
cấu cấu thành hệ thống đó. Trên quan điểm hệ thống như vậy, có thể hiểu cơ
cấu kinh tế của một nước là tập hợp các yếu tố cấu thành nền kinh tế của
nước đó và mối quan hệ, những tác động qua lại giữa tất cả các yếu tố cấu
thành nền kinh tế quốc dân.
Trong cơ cấu kinh tế có sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất. Theo Mác, cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ
13
phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật
chất. Khi quá trình tổ chức lao động phát triển mạnh mẽ sẽ làm thay đổi cơ
cấu kinh tế của xã hội. Vì thế có thể hiểu cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối
quan hệ chủ yếu về chất lượng và số lượng tương đối ổn định của các yếu tố
kinh tế hoặc các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong
một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế- xã hội và thời
gian nhất định. Điều đó có nghĩa là khi xem xét cơ cấu kinh tế phải xem xét
cấu trúc bên trong của nền kinh tế qua các mối quan hệ khác nhau. Các quan
hệ này không chỉ là quan hệ tỷ lệ mang tính số lượng mà còn mang tính chất
lượng thể hiện sự ràng buộc giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
Hơn thế nữa, hệ thống kinh tế có có đặc điểm: là hệ thống mở, phức tạp,
động, đa cấu trúc, phân cấp, tự điều chỉnh và bị điều khiển bởi nhà nước, vì

Thứ ba, một cơ cấu kinh tế có thể bao gồm nhiều bộ phận kinh tế khác
nhau, có bộ phận kinh tế chủ yếu, có bộ phận kinh tế thứ yếu. Bộ phận kinh
tế chủ yếu có thể được gọi là bộ phận then chốt, mũi nhọn quyết định chiều
hướng, quy mô, nhịp độ phát triển của tổng thể nền kinh tế.
Thứ tư, cơ cấu kinh tế không cố định, nó không ngừng vận động, biến
đổi và phát triển theo xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn, mở rộng hơn và
hiệu quả hơn trong quá trình phân công và hợp tác lao động giữa các ngành,
các vùng, các đơn vị kinh tế trong nước và trên phạm vi quốc tế.
15
1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và những nhân tố ảnh hưởng
tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Hệ thống kinh tế quốc dân có thể được xem xét trên nhiều khía cạnh và
tương ứng sẽ có những cơ cấu kinh tế khác nhau. Trong nghiên cứu kinh tế,
ba loại cơ cấu kinh tế thường được đề cập là: cơ cấu kinh tế ngành (xét theo
sự phân công lao động trong quá trình sản xuất xã hội), cơ cấu kinh tế thành
phần (xét trên góc độ sở hữu và hình thức tổ chức, quản lý sản xuất kinh
doanh) và cơ cấu kinh tế vùng (xét theo các đặc điểm sinh thái tự nhiên, phân
bố theo không gian). Ba loại cơ cấu kinh tế này có sự ràng buộc lẫn nhau, có
mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, đan xen nhau, trong đó cơ cấu kinh tế
ngành là cơ cấu cơ bản nhất, phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của phân
công lao động xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ
khoa học công nghệ của hệ thống kinh tế, Do đó, cơ cấu kinh tế ngành có vai
trò quan trọng nhất trong việc phân tích, đánh giá, dự báo sự phát triển của
nền kinh tế. Cũng chính vì vậy, luận văn cũng chủ yếu đề cập tới cơ cấu kinh
tế ngành và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong nghiên
cứu.
Một cách đơn giản, có thể hiểu cơ cấu ngành của nền kinh tế là kết cấu
hữu cơ theo ngành của nền kinh tế, nó phản ánh các mối quan hệ tương đối
ổn định giữa các ngành hình thành nên nền kinh tế quốc dân. Sự thay đổi cơ
cấu kinh tế ngành theo thời gian được gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế

tế hay trên phạm vi phân ngành hẹp hơn.
17
Sự hình thành và tăng trưởng của các ngành kinh tế lại phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, cả chủ quan và khách quan. Có thể tổng hợp các nhân tố tác
động tới quá trình hình thành, tăng trưởng của các ngành kinh tế, và do đó
kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là:
- Các nhân tố địa lý - tự nhiên (như tài nguyên khoáng sản, nguồn nước,
nguồn năng lượng, đất đai, khí hậu). Những yếu tố này tác động trực tiếp
và mang tính khách quan đến sự hình thành cơ cấu kinh tế ngành. Những
nước, những vùng khác nhau có ưu thế địa lý và khí hậu khác nhau sẽ có
cơ cấu ngành khác nhau, tương ứng phù hợp với các điều kiện đó. Đồng
thời, việc có tài nguyên khoáng sản hay không, nhiều hay ít cũng ảnh
hưởng tới việc tạo ra cơ cấu kinh tế ngành và tốc độ tăng trưởng của mỗi
ngành kinh tế.
- Các nhân tố kinh tế - xã hội (khoa học kỹ thuật và công nghệ, phong tục,
tập quán, truyền thống dân tộc, thị trường, sức mua ). Những nhân tố này
không chỉ có ảnh hưởng tới quá trình hình thành cơ cấu kinh tế ngành mà
còn có tác động lớn đến năng suất, tốc độ tăng trưởng của mỗi ngành và
do đó, sẽ dẫn tới sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành.
- Các nhân tố kinh tế đối ngoại và phân công lao động quốc tế. Trong môi
trường toàn cầu hoá hiện nay, một nền kinh tế mở sẽ chịu nhiều tác động
hơn của các yếu tố ngoài nước: sự biến động của giá cả thị trường thế
giới, sự thay đổi nhu cầu, yếu tố luật pháp, các rào cản thương mại, và vì
vậy sự thay đổi của những yếu tố này cũng sẽ tác động tới việc tiêu thụ
sản phẩm do đó ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô sản xuất, ảnh hưởng trực
tiếp đến sự phát triển của các ngành kinh tế dẫn tới thay đổi cơ cấu kinh
tế ngành.
18
- Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước: Trong nền kinh tế thị trường
hiện đại ngày nay, Nhà nước thường trực tiếp tham gia vào điều tiết nền

kiện các nguồn lực hạn chế. Việc phân tán nguồn lực, vốn đầu tư cho tất cả
các bộ phận kinh tế sẽ đi ngược lại nguyên tắc hiệu quả, còn nếu quá tập
trung vào một bộ phận sẽ lại gây ra sự mất cân đối của cơ cấu kinh tế, thậm
chí còn dẫn đến một nền kinh tế què quặt, gây các hậu quả kinh tế, xã
hội khác.
Chúng ta cũng cần phân biệt khái niệm chuyển dịch cơ cấu với điều
chỉnh cơ cấu và cải tổ cơ cấu. Trong ba khái niệm này, khái niệm “chuyển
dịch cơ cấu” mang ý nghĩa khái quát nhất, nó nói đến sự thay đổi cơ cấu kinh
tế qua thời gian do cả các nhân tố khách quan và chủ quan. Còn “điều chỉnh
cơ cấu” và “cải tổ cơ cấu” là sự thay đổi cơ cấu kinh tế một cách chủ động
của nhà nước, được thực hiện thông qua việc ban hành các chính sách kinh tế
vĩ mô và chính sách kinh tế ngành để tác động vào quá trình hình thành và
phát triển của các ngành khác nhau và do đó sẽ làm cho cơ cấu kinh tế ngành
thay đổi theo mục đích của nhà nước. “Điều chỉnh cơ cấu” và “cải tổ cơ cấu”
thường gắn với những thay đổi tương đối lớn của nhà nước (tương ứng trong
ngắn hạn và dài hạn) khi việc thay đổi cơ cấu kinh tế trở thành một yêu cầu
bức bách hoặc vì sự chậm trễ trong giai đoạn trước đó, hoặc vì kết quả đột
biến của từng ngành, hoặc một phân ngành nào đó, đòi hỏi phải xác lập một
cơ cấu mới, tạo ra sự đồng bộ trong toàn bộ nền kinh tế hay trong một ngành
nào đó.
20
1.2. Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành nông nghiệp
1.2.1. Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong ba khu vực lớn cấu thành nền kinh tế quốc
dân. Ngành nông nghiệp có đặc thù riêng so với hai khu vực còn lại thể hiện
ở đối tượng lao động chủ yếu của ngành là những sinh vật sống (cây trồng,
vật nuôi). Ngành nông nghiệp cũng được chia thành nhiều ngành và phân
ngành chi tiết hình thành nên cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp. Cơ cấu kinh
tế ngành nông nghiệp phản ánh sự phát triển của phân công lao động và lực

mía, trồng cây công nghiệp dài ngày, cây công nghiệp ngắn ngày , chăn
nuôi trâu, bò, cừu, lợn, gà, vịt, ngan, chim Mức độ phân ngành càng chi
tiết phản ánh trình độ chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội ngày
càng cao.
Có thể thấy rằng, cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp là một bộ phận của
cơ cấu kinh tế ngành chung. Nó vừa chịu sự chi phối, ràng buộc bởi cơ cấu
kinh tế chung vừa thể hiện các đặc thù của một ngành sản xuất lấy sinh vật
sống làm đối tượng tác động và sản phẩm của nó lại có tính phổ biến ai ai
cũng biết đến. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về các nông sản càng giảm,
nhưng đặc biệt là không bao giờ giảm tới 0 như một số hàng hoá khác.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là nền tảng của cơ cấu kinh tế quốc dân vì
trong quá trình phát triển của loài người, vấn đề đầu tiên cần đáp ứng phải là
vấn đề ăn, ở rồi mới đến các nhu cầu khác. Điều đó cũng có nghĩa là cơ cấu
kinh tế nông nghiệp vừa là chỗ dựa, vừa là động lực thúc đẩy và cũng vừa là
22
nơi trì trệ, lạc hậu nhất trong toàn bộ nền kinh tế. Kinh nghiệm phát triển
kinh tế đã chỉ rõ, không bao giờ các kỹ thuật và công nghệ sản xuất trong
nông nghiệp vượt hơn các ngành khác.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp có đầy đủ các đặc trưng chung là có tính
khách quan, tính lịch sử xã hội nhất định, tính ổn định tương đối và luôn tác
động lẫn nhau vận động biến đổi không ngừng và ngày càng hoàn thiện. Nó
cũng chịu tác động của các nhóm yếu tố như địa lý, tự nhiên, kinh tế xã hội
và các yếu tố quốc tế.
1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
Cũng giống như các cơ cấu kinh tế khác, quá trình phát triển kinh tế
nông nghiệp tất yếu cũng sẽ dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
nông nghiệp. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp cũng là kết
quả của sự tăng trưởng các ngành sản xuất trong nông nghiệp, là kết quả của
quá trình phát triển phân công lao động xã hội và lực lượng sản xuất trong
nông nghiệp. Trong quá trình phát triển, con số tỷ trọng phản ánh mối quan

thời điểm nhất định phải biết chọn lựa những lĩnh vực có lợi thế để tập
trung những nguồn lực còn khan hiếm của mỗi quốc gia nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay, các nguồn lực
phát triển là hạn chế, vì vậy, việc ứng dụng lý thuyết Tăng trưởng không cân
đối là phù hợp. Theo lý thuyết này, Nhà nước cần tham gia vào quá trình điều
tiết nhằm xác định các ngành có vai trò là “cực tăng trưởng” đóng vai trò là
ngành mũi nhọn để tập trung đầu tư. Việc xác định “cực tăng trưởng” dựa
24
trên nhiều cơ sở, trong đó đặc biệt coi trọng sự phân tích lợi thế so sánh của
từng ngành. Việc phân tích lợi thế so sánh trong sản xuất nông nghiệp của
từng ngành lại phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể gắn với mỗi vùng địa lý
cụ thể. Lý thuyết lợi thế so sánh đã chỉ ra rằng: Một nước nếu tập trung vào
sản xuất những sản phẩm có lợi thế so sánh so với nước ngoài, sau đó thực
hiện thương mại quốc tế, đem trao đổi lấy các sản phẩm khác của nước ngoài
thì sẽ thu được lợi ích, hiệu quả cao hơn so với việc tự sản xuất tất cả các mặt
hàng trong nước. Trong sản xuất nông nghiệp, vì sản xuất nông nghiệp chịu
nhiều ảnh hưởng của tự nhiên, sản phẩm nông nghiệp mang tính đặc thù gắn
với điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai, do đó, mỗi nước ở vào các vùng địa lý
khác nhau, sẽ có các sản phẩm có lợi thế so sánh khác nhau. Vì vậy, việc xác
định một cách chính xác sản phẩm mang lợi thế so sánh của quốc gia để tập
trung sản xuất và tham gia vào thương mại quốc tế sẽ mang lại hiệu quả kinh
tế cao cho quốc gia.
Trong phạm vi một quốc gia, việc ứng dụng lý thuyết này cũng có thể
đem lại lợi ích cao nhất cho mỗi vùng kinh tế, và vì vậy, đem lại hiệu quả cao
nhất cho ngành sản xuất nông nghiệp cả nước nói chung. Trong phạm vi hẹp
quốc gia, đặc biệt trong điều kiện địa hình trải dài của Việt Nam, mỗi vùng
lãnh thổ lại có những điều kiện tự nhiên, đất đai, nguồn nước, thời tiết, khí
hậu, truyền thống khá khác biệt, do vậy, mỗi vùng sẽ có những sản phẩm
lợi thế khác nhau. Việc xác định được chính xác sản phẩm có lợi thế so sánh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status