ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN LĨNH VỰC DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI TỚI NĂM 2010 TẦM NHÌN 2020 - Pdf 68

ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN
LĨNH VỰC DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI TỚI NĂM 2010 TẦM
NHÌN 2020
3.1. MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Ở HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN
5-10 NĂM TỚI
3.1.1. Mục tiêu, định hướng chung phát triển dịch vụ Thủ đô
a/ Mục tiêu phát triển dịch vụ trong kế hoạch 5 năm 2006-2010:
- Chuyển nhanh và vững chắc cơ cấu kinh tế Thủ đô sang cơ cấu: dịch vụ -
công nghiệp - nông nghiệp. Phấn đấu đến năm 2020, lĩnh vực dịch vụ Thủ đô đạt
trình độ phát triển trung bình trên thế giới, trở thành động lực thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống nhân dân Thủ đô.
- Tập trung phát triển các hoạt động dịch vụ gắn với tiềm năng và điều kiện
đặc thù của Thủ đô; khuyến khích phát triển dịch vụ Hà Nội có lợi thế và đáp ứng
yêu cầu hội nhập; phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng dịch vụ cao hơn tốc độ tăng
trưởng chung của GDP, từng bước ổn định và nâng dần tỷ trọng dịch vụ trong
GDP.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trên thị trường nội địa, khu vực và quốc tế; tăng
cường hợp tác, cạnh tranh lành mạnh giữa các loại hình dịch vụ để cùng phát triển.
b/ Định hướng phát triển dịch vụ Hà Nội
- Đa dạng hoá, phát triển toàn diện, đồng bộ; thiết kế các sản phẩm dịch vụ
mới, tạo dựng sản phẩm dịch vụ mũi nhọn trong từng ngành, đáp ứng người tiêu
dùng và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tập trung mọi nguồn tài chính và
nhân lực có trình độ chuyên môn cao, nhanh chóng tiếp cận và phát triển dịch vụ
chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng trong và ngoài
nước.
- Tạo khung khổ pháp lý thích hợp, cơ chế khuyến khích đủ mạnh để tạo điều
kiện cho các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ chất
lượng cao. Mở rộng xã hội hoá sẽ giúp huy động mọi nguồn lực từ mọi thành phần
kinh tế trong nước (nhất là các doanh nghiệp, công ty, dân cư) và quốc tế để nâng
cấp, xây dựng mới kết cấu hạ tầng, trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại cho phát

- Cho phép các thành phần kinh tế mở rộng thị phần theo chiều rộng và sâu
trên thị trường dịch vụ, đặc biệt loại dịch vụ chất lượng cao. Tạo thuận lợi cho các
thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng và lợi thế của họ trong phát triển dịch
vụ, tạo nên cách làm mới và nâng cao toàn diện chất lượng dịch vụ. Thực thi hệ
thống tiêu chuẩn và tăng cường giám sát nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ ngày
càng được nâng cao.
- Xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm cung cấp dịch vụ chất lượng cao một
cách đồng bộ, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển dịch vụ của các địa phương khác
trong cả nước.
b/ Định hướng phát triển dịch vụ chất lượng cao một số chuyên ngành
* Trong ngành Thương mại
Hướng tới xây dựng Hà Nội thành trung tâm bán buôn và xuất nhập khẩu dẫn
đầu cả nước, cần tập trung vào các điểm sau:
- Nâng cấp hệ thống siêu thị, quy hoạch lại mạng lưới chợ.
- Xây dựng và phát triển hệ thống trung tâm thương mại quốc tế ngang tầm
với các nước trong khu vực.
- Tiếp tục tạo dựng một số cơ sở hạ tầng cần thiết ban đầu nhằm khuyến khích
áp dụng thương mại điện tử.
- Mở rộng hoạt động xuất, nhập khẩu trên cơ sở đẩy mạnh các hoạt động xúc
tiến thương mại nhằm khai thác nguồn hàng trong và ngoài nước, thu hút mạnh
FDI vào sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội
- Đẩy mạnh sự hợp tác thương mại giữa Hà Nội với các tỉnh, thành trong cả
nước, đặc biệt là các tỉnh, thành lân cận nhằm khai thác tối đa lợi thế từng địa
phương và hạn chế những cạnh tranh không đáng có giữa các địa phương.
- Hoàn thiện thể chế, pháp luật; hiện đại hoá cơ sở vật chất cho các hoạt động
thương mại như hệ thống kho hàng, phương tiện vận chuyển hàng hoá, hệ thống
thanh toán.
* Trong ngành Du lịch
- Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thủ đô, hiện đại,
đậm đà bản sắc Thăng Long - Hà Nội. Cùng với thương mại, du lịch phải góp phần

hoá, đa dạng hoá, xã hội hoá các hoạt động giáo dục - đào tạo Thủ đô .
- Phát triển mạnh các loại hình trường tư thục ở các bậc học phù hợp với quy
hoạch giáo dục - đào tạo Thủ đô.
- Đổi mới nội dung và phương thức đào tạo, tạo sự liên thông giữa các bậc
học, ngành học. Huy động thêm nguồn lực cho giáo dục - đào tạo từ ngân sách
(người học, doanh nghiệp) và nguồn hỗ trợ quốc tế.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ và
đạt chuẩn hoá, có lòng yêu nghề và trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng đáp
ứng yêu cầu của việc đổi mới nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học.
- Hiện đại hoá các cơ sở giáo dục- đào tạo, đặc biệt là mạng lưới các trường
trọng điểm chất lượng cao ở các bậc học, ngành học.
* Trong ngành dịch vụ y tế
- Phấn đấu 100% xã (phường) đạt tiêu chuẩn quốc gia về y tế. Phát triển dịch
vụ y tế cơ động để phục vụ những yêu cầu mới.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về y tế, đặc biệt là quản lý bệnh viện
và sự phối hợp hoạt động giữa các bệnh viện trên địa bàn Hà Nội. Từng bước áp
dụng các hình thức quản lý chất lượng vào cơ sở y tế.
- Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật nâng cấp chất lượng bệnh viện và công nghệ
thông tin trong quản lý và điều trị. Xây dựng mới bệnh viện đa khoa kỹ thuật cao.
Đầu tư thiết bị cơ bản cho các bệnh viện, thiết bị chuyên sâu cho các bệnh viện
hạng 1 đạt trình độ quốc tế để bệnh nhân trong nước không phải ra nước ngoài
chữa trị phổ biến như thời gian gần đây.
- Đổi mới quản lý kinh tế y tế trong bệnh viện, quản lý tốt hành nghề y dược
tư nhân.
- Huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư xây dựng và phát triển
sự nghiệp khám chữa bệnh cho nhân dân thủ đô, đa dạng hoá các hình thức tổ chức
chăm sóc sức khoẻ.
- Có cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước để phát triển
ứng dụng kỹ thuật cao, dịch vụ chất lượng cao vào những lĩnh vực quan trọng như
y tế dự phòng, y tế cơ sở, các chương trình y tế.

thương mại điện tử, là những dịch vụ hạt nhân của xã hội thông tin và nền kinh tế
tri thức trong tương lai.
- Đẩy mạng khai thác các dịch vụ mang tính xã hội cao như dịch vụ thông tin
qua hộp thư trả lời tự động, dịch vụ thông tin giải trí, các dịch vụ gắn giữa viễn
thông và truyền hình.
- Đối với dịch vụ internet: khẩn trương phổ cập dịch vụ internet 100% các
trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, bệnh viện trên địa bàn. Đến năm 2010,
dịch vụ internet được cung cấp rộng rãi tới các trường phổ thông trung học, phổ
thông cơ sở trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Phấn đấu tỷ lệ người sử dụng internet
đạt mức trung bình thế giới.
- Mật độ điện thoại bình quân đạt 55 máy/100 dân vào năm 2010, 100% số hộ
gia đình có máy điện thoại.Tăng cường khai thác dịch vụ VNN 1268, 1269, 1260-P
và internet công cộng làm phong phú khả năng lựa chọn của khách hàng.
3.2. CÁC GIẢI PHÁP TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THỦ ĐÔ THỜI KỲ ĐẾN NĂM
2010.
3.2.1. Đổi mới tư duy - nhận thức đối với phát triển dịch vụ
Tiếp tục đổi mới toàn diện và sâu sắc tư duy lãnh đạo, tư duy quản lý đối với
sự phát triển lĩnh vực dịch vụ Thủ đô; tư duy của người cung ứng và người sử dụng
về dịch vụ chất lượng cao trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đổi mới tư duy các nhà lãnh đạo, quản lý nhà nước trước hết là đổi mới trong
cách suy nghĩ về khái niệm, vai trò các ngành dịch vụ, trên cơ sở đó tiến tới đổi
mới về cách làm, về tổ chức quản lý. Nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trước đây không
được coi là dịch vụ, nay vẫn tồn tại như vậy trong tư duy không ít nhà lãnh đạo,
quản lý. Do đó, họ vẫn coi đây là công việc nhà nước phải làm và không tính đến
lợi nhuận để đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ. Họ cản trở các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh đầu tư, phát triển dịch vụ trong “ sân chơi” quen thuộc của các
doanh nghiệp nhà nước. Nhiều doanh nghiệp dịch vụ công không có khả năng đáp
ứng đầy đủ các nhu cầu của người dân như điện, nước sạch, giao thông công cộng,
vệ sinh môi trường...song lại cản ngăn việc xã hội hoá các hoạt động dịch vụ do sợ
giảm thu nhập, mất việc làm. Trên tầm vĩ mô, xã hội hoá thực chất tạo ra thêm

y tế…) đối với một bộ phận dân cư.
Xuất phát từ vị thế đầu não của Thủ đô, việc phát triển dịch vụ Thủ đô trong
giai đoạn tới phải nắm chắc tính quy luật trong phát triển dịch vụ Thủ đô, với biểu
hiện đặc trưng là phát triển rút ngắn; trong sự liên kết Trung ương - địa phương,
liên ngành - liên vùng; từ trung tâm lan toả ra các địa phương khắp cả nước; triệt
để phát huy lợi thế so sánh của Thủ đô; và quá trình “hút - đẩy” các hoạt động dịch
vụ trong mối quan hệ hữu cơ cùng phát triển với các địa phương cả nước.
Dịch vụ Thủ đô phát triển đột phá trong sự kích cầu đi đôi với kích cung, từng
bước vững chắc trở thành khâu dẫn dắt phát triển toàn nền kinh tế - xã hội Thủ đô,
và là tụ điểm của hội nhập WTO. Trong việc phổ biến, quán triệt các nhận thức
mới nêu trên, chú trọng các công tác sau:
Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền quảng cáo qua đài, tivi với nhiều hình thức
đa dạng phong phú, giới thiệu các sản phẩm dịch vụ nhằm giúp cho mọi người có
nhận thức sâu sắc về nội dung, ý nghĩa của các loại hình dịch vụ. Từ đó, người sử
dụng sẽ dùng dịch vụ nhiều hơn và đòi hỏi chất lượng dịch vụ phải ngày càng được
cải tiến, nâng cao.
Thứ hai, mở các hội thảo chuyên đề giới thiệu các loại hình dịch vụ chất lượng
cao, trình độ cao ở các nước khu vực và thế giới cho những đối tượng sử dụng và
các nhà cung cấp dịch vụ.
Thứ ba, giới thiệu và tổ chức tạo đàm về hội nhập kinh tế khu vực và thế giới,
làm rõ những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển lĩnh vực dịch vụ.
3.2.2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho phát
triển dịch vụ
- Trên cơ sở phân loại dịch vụ của Tổ chức Thương mại thế giới và hướng
dẫn của Bộ Thương mại và Tổng cục Thống kê, Thành phố chủ động xây dựng
chiến lược phát triển dịch vụ, đề xuất cơ chế, chính sách thích hợp để phát triển
dịch vụ, đưa dịch vụ vào nội dung của Kế hoạch 5 năm 2006-2010 với nhận thức
và vị thế mới.
- Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách về xuất nhập khẩu và thương mại
dịch vụ phù hợp với các định chế của Tổ chức Thương mại thế giới WTO và Hiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status