ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC
ĐẨY TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP AFTA CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. DỰ BÁO TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP AFTA VÀ ĐỊNH HƯỚNG
CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ
3.1.1. Dự báo bối cảnh quốc tế mới và tác động của chúng đến quá trình
hội nhập AFTA [2], [13], [33], [40], [47], [75]
Bối cảnh quốc tế và khu vực là điều kiện bên ngoài của sự phát triển mỗi quốc
gia. Trong thế giới ngày nay, điều kiện phát triển ở trong nước phải được xem xét
trong mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện quốc tế mới có khả năng phát triển được
và hơn thế, phát triển năng động và có hiệu quả. Chính vì vậy, bối cảnh thế giới và
khu vực là một căn cứ khoa học quan trọng khi hoạch định chiến lược phát triển
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Tác động của bối cảnh quốc tế bao gồm: Xu thế hoà bình và hợp tác; Tác
động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ toàn cầu hoá và khu vực hoá.
Những xu hướng biến đổi môi trường và yêu cầu phát triển bền vững toàn cầu tác
động đến Việt Nam, cho thấy những cơ hội và khó khăn cơ bản trong giai đoạn
chiến lược sắp tới. Những cơ hội:
- Có cơ hội tranh thủ điều kiện hoà bình và ổn định trong khu vực để tập trung sức
cho phát triển kinh tế.
- Ngăn ngừa được tình trạng bị phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế.
- Có điều kiện phát huy lợi thế so sánh, mở rộng thị trường quốc tế, thu hút đầu tư,
chuyển giao công nghệ. Tiến bộ khoa học và công nghệ là một nguồn lực và động
lực lớn nếu tranh thủ được.
- Có cơ sở đấu tranh để được hưởng những đối xử ưu đãi dành cho các nước chậm
phát triển và có nền kinh tế đang chuyển đổi.
- Nâng cao vị thế quốc tế trong đàm phán với các nước lớn, cùng với các nước đang
phát triển bảo vệ quyền lợi quốc gia, dân tộc.
- Thúc đẩy tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế và đẩy mạnh cải cách kinh tế, cải cách
hành chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
vực cũng sẽ có những thay đổi.
• Làm thay đổi các luồng đầu tư, hình thành sự chuyên môn hoá sản xuất và phân bố
các ngành sản xuất khác so với trước.
• Tạo một sự kiểm soát và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ASEAN trong buôn bán
nội bộ và hình thành một tương quan mới với bên ngoài.
Trước hết tác động của khu vực mậu dịch tự do sẽ rõ ràng nhất trong điều
kiện các nước thành viên có trình độ phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế và buôn bán
tương tự như nhau. Tính cạnh tranh sẽ rất mạnh và sự thay đổi hàng rào thuế quan
sẽ có tác dụng quyết định. Đồng thời, khả năng tạo lập sự hợp tác và chuyên môn
hoá cũng lớn. Nếu cơ cấu kinh tế của các nước thành viên là khác nhau và mang
tính chất bổ sung cho nhau, đã có tồn tại chuyên môn hoá sản xuất giữa các nước
thành viên trước khi hình thành khu vực mậu dịch tự do, thì tác động của việc hình
thành khu vực mậu dịch tự do không lớn.
Xu hướng chung phân bố sản xuất là chuyển các cơ sở sản xuất từ nơi giá
thành cao sang nơi có giá thành thấp. Mức chênh lệch giá thành càng lớn thì luồng
di chuyển sản xuất sẽ càng mạnh khi các hàng rào mậu dịch được xoá bỏ. Tuy
nhiên, ở đây cũng có thể xảy ra hiện tượng phân bố lại sản xuất không mang lại
hiệu quả cao. Hiện tượng này có thể xảy ra khi hàng rào mậu dịch bên trong khu
vực mậu dịch tự do được xoá bỏ, nhưng hàng rào với bên ngoài không thay đổi
nhiều. Như vậy, các nước thành viên khu vực mậu dịch tự do sẽ mua bán lẫn nhau
các mặt hàng mà một nước thứ ba ngoài khu vực mậu dịch tự do cũng sản xuất với
giá thành tương đương, nhưng bị hàng rào thuế quan ngăn chặn thâm nhập.
Khi dự báo bối cảnh quốc tế mới cần chú ý đến những xu hướng phát triển
của AFTA :
* Các nước thành viên ASEAN, trước hết là ASEAN - 6 đi tới quyết định tăng
tốc quá trình hình thành AFTA nhằn đảm bảo để AFTA không bị tụt hậu so với sự
phát triển của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, thực hiện điều này không dễ dàng vì
trình độ phát triển kinh tế của các nước thành viên AFTA là rất khác nhau, việc
tăng tốc sẽ làm sâu sắc hơn sự phân bổ không đồng đều về chi phí và lợi ích giữa
các nước thành viên AFTA. Bởi vậy, tính sẵn sàng để tăng tốc cũng không giống
“Trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các
nguồn lực bên ngoài”, trong đó những biện pháp quan trọng hàng đầu là cần tiếp
tục tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư nước ngoài, “tích cực và
chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế”. Nghị quyết cũng nhấn mạnh
nhiệm vụ “chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp và nhất là
những sản phẩm mà Việt Nam có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu
vực và thị trường quốc tế”.
Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) đã nhấn mạnh chủ
trương: chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối
đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định
hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ gìn an ninh quốc gia, phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái. Theo chủ trương này, hội nhập kinh
tế quốc tế vừa là đòi hỏi khách quan của sự phát triển nền kinh tế thế giới nói
chung, vừa là nhu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế của đất nước ta. Hội nhập
kinh tế quốc tế giúp cho việc mở rộng cơ hội kinh doanh, thâm nhập thị trường thế
giới, tìm kiếm và tạo lập thị trường ổn định, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để xây
dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phát huy tối đa lợi thế so sánh của đất nước.
Khẳng định tầm quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết số 07 -
NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 27/11/2001 đã nhấn mạnh mục tiêu và những quan
điểm chủ đạo chi phối toàn bộ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trong
thời gian tới. Mục tiêu của việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là nhằm mở
rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN, thực hiện dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những quan điểm chỉ đạo trong quá
trình hội nhập là:
Thứ nhất, chủ động hội nhập theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao
hiệu quả hợp tác quốc tế, phải đảm bảo giữ vững độc lập tự chủ và định hướng
XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn bản
sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường. Việc chủ động tham gia hội nhập phải dựa
trên cơ sở một tiềm năng nhất định, được chuẩn bị chu đáo, với một tư thế và vị trí
âm mưu của các thế lực thù định lợi dụng quan hệ kinh tế để thực hiện “diễn biến
hoà bình”.
b. Phương châm hội nhập.
Trên cơ sở những quan điểm trên, phương châm hội nhập được cụ thể hoá như
sau:
• Điều quyết định sự thành công và nhịp độ của hội nhập là sức cạnh tranh của nền
kinh tế, trong đó khả năng cạnh tranh của hàng hoá và các doanh nghiệp Việt Nam
đóng vai trò then chốt. Do đó, điều cốt yếu là sự chuẩn bị bên trong nhằm tạo ra
được các điều kiện kỹ thuật và pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp của nước ta
nâng cao nội lực và khả năng thích ứng với các điều kiện cạnh tranh; chủ động,
khẩn trương xây dựng và thực hiện chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách
hợp lý để nhanh chóng tăng cường chất lượng, hạ giá thành sản phẩm mà ta có lợi
thế cạnh tranh hoặc có tiềm năng để phát triển.
Các quá trình đàm phán và tiến trình tham gia các thể chế kinh tế quốc tế cần
phải dựa trên cơ sở không ngừng tăng hiệu quả và khả năng cạnh tranh kinh tế của
nước ta;
• Đổi mới bên trong và tiến trình hội nhập cần được tiến hành đồng bộ. Đối với một
số vấn đề, lĩnh vực, việc chuẩn bị bên trong cần chủ động đi trước một bước để
thúc đẩy hội nhập như điều chỉnh, bổ sung các luật lệ, cơ chế phù hợp với luật lệ và
tập quán quốc tế, trình độ phát triển của nền kinh tế và hoàn cảnh cụ thể của đất
nước, đồng thời vận dụng triệt để những ngoại lệ của các định chế quốc tế.
• Phấn đấu đàm phán, cam kết quốc tế có khả năng thực thi phù hợp với trình độ của
nước ta là một nước đang phát triển, đang trong quá trình chuyển đổi với những ưu
đãi cần thiết về mức độ và thời gian thực hiện cam kết mở cửa thị trường mà các
định chế quốc tế dành cho các nước đang phát triển. Vận dụng các mối quan hệ
quốc tế đa dạng ở mọi cấp độ để tranh thủ tối đa sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ
quốc tế, tạo thế đàm phán tốt với tất cả các đối tác.
• Chủ động, khẩn trương với sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành và chính
quyền các cấp từ trung ương đến cơ sở, hết sức coi trọng hoạt động của các doanh
nghiệp, các đơn vị và tổ chức kinh tế thuộc tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt
giới và thời đại.
Với việc thực hiện chiến lược 10 năm qua đã tạo ra những điều kiện và tiền đề
cơ bản để đẩy mạnh CNH, HĐH. Với chiến lược phát triển 10 năm tới, cần và có
thể tạo dựng nền tảng cho việc về cơ bản thực hiện CNH và xây dựng nước ta
thành một nước công nghiệp.
b. Cần có tầm nhìn dài hạn về lựa chọn chiến lược phát triển công nghiệp.
Lựa chọn chiến lược công nghiệp là việc xác định các mục tiêu và xem xét các
điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu đó, trong những bối cảnh và tình hình
thực tế, trong đó bao gồm cả môi trường chính sách. Các mục tiêu của việc lựa
chọn phát triển công nghiệp có thể nêu ra như sau: (1) Có tốc độ phát triển nhanh,
đóng góp phần quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất
nước, góp phần nhanh chóng làm thay đổi cơ cấu kinh tế; (2) Đẩy nhanh quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, qua đó làm xoay chuyển cơ cấu kinh tế và
cơ cấu lao động, nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao sức cạnh tranh của
nền kinh tế; (3) Phát huy những lợi thế so sánh của đất nước, trước hết là đội ngũ
lao động đông đảo; (4) Góp phần hiện đại hoá nền kinh tế xã hội, rút ngắn khoảng
cách với các nước đi trước. Nâng cao mức sống của nhân dân, thu hẹp dần khoảng
cách giữa các vùng trong nước.
Nhận biết và đặt lại trọng tâm cho các ngành công nghiệp là một nội dung
trong chiến lược hội nhập tổng thể, trên cơ sở đó xác định các mức độ cam kết ràng
buộc với WTO. Điểm khó trong việc đưa ra các cam kết là nhận biết các ngành cần
có và có thể xuất hiện trong tương lai phù hợp với chiến lược công nghiệp hoá của
đất nước. Phát triển 3 thế hệ các ngành công nghiệp, phù hợp với các lợi thế so
sánh của đất nước. Việc phân ra 3 thế hệ ngành công nghiệp đã thể hiện tư tưởng
chiến lược của việc chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo các xu hướng: (1) Đi từ
những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lợi thế của Việt nam về nguồn lao động
và tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt trong nông, lâm, thuỷ hải sản) sang các ngành
công nghiệp chế biến sâu; (2) Đi từ các ngành công nghiệp hạ nguồn, cần không
nhiều vốn, sang các ngành công nghiệp thượng nguồn trong mối liên kết công
nghiệp bền vững; (3) Nâng cấp công nghệ của ngành công nghiệp từ thấp đến cao,
công nghiệp sản xuất thay thế nhập khẩu là chủ yếu.
Nâng cao sức cạnh tranh của ngành công nghiệp là điều kiện tiên quyết đảm
bảo cho việc giảm thiểu những thiệt hại và tranh thủ tối đa các lợi ích trong quá
trình hội nhập. Nâng cao sức cạnh tranh cũng là một biện pháp quan trọng phát huy
các tiềm năng đã có trong ngành công nghiệp. Có ba yếu tố chính tác động tới sức
cạnh tranh là: (1) Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định với các thiết chế chính trị vững
chắc; (2) Chất lượng của môi trường kinh doanh; (3) Chiến lược của các doanh
nghiệp và năng lực hoạt động trên thị trường của các doanh nghiệp.
Để có một nền công nghiệp có tính cạnh tranh, chất lượng hoạt động và chiến
lược của các doanh nghiệp phải được nâng cao. Muốn vậy cần phải tiếp tục đổi
mới cơ chế quản lý, chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh
nghiệp, tổ chức kiểm toán các doanh nghiệp nhà nước, đẩy nhanh quá trình cổ
phần hoá, tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể tăng khả năng tự chủ trong sản xuất
kinh doanh...
Doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân. Gần 90% doanh nghiệp công nghiệp của Việt Nam là doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ chính là khai thác mặt năng động của
doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh công nghiệp, tạo môi trường thu hút
mạnh mẽ khu vực tư nhân đầu tư phát triển công nghiệp. Những rủi ro đối với nhà
nước trong phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ không lớn so với phát triển các
doanh nghiệp lớn.
Trong khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ có một bộ phận rất quan trọng đó là
công nghiệp nông thôn. Công nghiệp nông thôn là những doanh nghiệp gần với
việc sử dụng nguyên liệu từ nông nghiệp và nông thôn hay các doanh nghiệp có thể
phân bố ở nông thôn, sử dụng nguồn lao động tại chỗ. Công nghiệp nông thôn do
đó có vai trò quan trọng tác động mạnh mẽ đến công nghiệp hoá nông nghiệp và
nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn từ khu vực nông nghiệp sang
công nghiệp và dịch vụ.
Cần có các chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, cụ
thể: (1) Hình thành những tổ chức hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc
cạnh tranh thì đồng thời với việc tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, cần nâng
cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Việc sắp xếp lại khu vực doanh
nghiệp nhà nước và tạo một môi trường thuận lợi cho khu vực sản xuất tư nhân,
trong đó đặc biệt là khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất cần thiết, cần
thực hiện đồng bộ và khẩn trương.
Bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu 2001 – 2020, thế và
lực của Việt Nam đã khác so với 10 năm trước đây. Đất nước đã thoát khỏi khủng
hoảng kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng và năng lực sản xuất được cải thiện đáng kể, thị
trường được mở rộng, đời sống của nhân dân được nâng cao. Với việc hội nhập
vào ASEAN, ký kết hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, chúng ta đã
thay đổi được vị thế của Việt Nam trong con mắt của cộng đồng quốc tế, tạo tiền
đề cho quá trình đàm phán gia nhập WTO (dự kiến vào năm 2006), nhằm đưa nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Để thực hiện đầy đủ quá
trình hội nhập vào ASEAN và AFTA trong thời gian tới, chúng ta cần có các định
hướng đúng đắn, cụ thể nhằm đưa ra những giải pháp hợp lý và vạch ra một lộ
trình tối ưu cho việc thực hiện các cam kết kinh tế - thương mại trong khuôn khổ
ASEAN. Nếu đặt mốc cho năm 2006 cho việc hội nhập hoàn toàn của Việt nam
vào ASEAN thì triển vọng hợp tác đó có thể qui tụ ở những nét chính sau:
• Qui mô thương mại hàng hoá - dịch vụ giữa Việt nam với các nước ASEAN ngày
càng được mở rộng. ASEAN là một thị trường khá lớn và khi Việt Nam hoàn thành
AFTA, hàng hoá của các nước ASEAN càng có điều kiện thuận lợi hơn trong việc
xâm nhập vào thị trường Việt Nam trong khi khả năng xuất khẩu gạo, dầu thô sang
khu vực này của Việt Nam sẽ giảm. Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đối
với các nước chủ chốt trong ASEAN sẽ gia tăng với một tốc độ nhanh chóng với
các mặt hàng xuất của chúng ta sẽ là hải sản, nông sản, thực phẩm, cao su, than đá,
giày da… và mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt nam từ thị trường này chủ yếu
là phân bón, máy móc, thiết bị công nghệ cao, chất dẻo nguyên liệu, linh kiện điện
tử tin học…
• Quá trình chuyên môn hoá, hợp tác hoá và phân công lao động giữa Việt Nam với
các nước trong ASEAN ngày càng sâu sắc. Các mặt hàng mà Việt Nam sẽ tăng
hợp tác giữa các nước thành viên vì sự phát triển ổn định và lâu dài trong những
năm tới, nhằm biến Đông Á thành khu vực thịnh vượng và năng động nhất thế
giới. Tại Hội nghị cấp cao không chính thức lần thứ 4 họp tại Singapore vào tháng
11/ 2000 vừa qua, các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
tăng cường liên kết ASEAN, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển, về công
nghệ, thông tin và củng cố tinh thần đoàn kết trong phạm vi toàn khối đối với sự
phát triển của khu vực.
3.2. ĐỊNH HƯỚNG THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT VỚI AFTA VÀ
NHỮNG NỘI DUNG CÔNG VIỆC CHỦ YẾU CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
3.2.1. Định hướng chủ yếu cho việc thực hiện có hiệu quả các cam kết
kinh tế - thương mại với ASEAN và AFTA [7], [20], [57]
Nhìn chung, nguyên tắc chủ đạo để định hướng cho việc thực hiện một cách
có hiệu quả các cam kết kinh tế - thương mại của Việt Nam trong khuôn khổ
ASEAN và AFTA là đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, kiên trì, bền bỉ điều chỉnh lại
hệ thống cơ chế chính sách cho phù hợp với những qui tắc và chuẩn mực quốc tế
trong các khối này, thích ứng với những điều kiện cụ thể của đất nước. Khi tham
gia vào ASEAN và AFTA, Việt Nam cũng như các nước khác phải chấp nhận “luật
chơi”, điều này có nghĩa là chúng ta phải thừa nhận các nguyên tắc cũng như các
nghĩa vụ trong phạm vi ASEAN và AFTA: dành Đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN), Đãi
ngộ quốc gia (NT), các ưu đãi miễn trừ về thuế và phi thuế quan, chấp nhận cùng
các nước thành viên mở cửa thị trường cho nhau trên cơ sở đàm phán nhưng thực
hiện từng bước theo một lộ trình thời gian nhất định. Do đó, có thể nói, việc thực
hiện các cam kết kinh tế - thương mại của Việt Nam đối với ASEAN và AFTA
trong thời gian tới được tiến hành theo những định hướng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đặt trọng
tâm trước hết vào lĩnh vực hợp tác kinh tế - thương mại với các nước ASEAN và
AFTA, đồng thời quan tâm một cách đúng mức các lĩnh vực khác. Đây không chỉ
là định hướng chung cho ASEAN và AFTA mà còn là định hướng chung cho toàn
bộ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Định hướng này được khẳng
• Để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, con đường tất yếu là phải đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và
khu vực.
• Cũng cần nhận thức rõ rằng: hội nhập kinh tế quốc tế về bản chất là quá trình vừa
hợp tác vừa đấu tranh mở rộng thị trường cho hàng hoá và thương nhân nước ta
vươn mạnh ra thị trường quốc tế và khu vực, đồng thời tạo cơ hội tranh thủ những
tiến bộ về khoa học, công nghệ mới phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nước nhà, trong đó nâng cao sức cạnh tranh của chính mình là
yếu tố quyết định thành công.
• Có thể nói Đảng ta đã có quyết sách rất đúng đắn và kịp thời cho quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế. Xu thế chung của quốc tế là chuyển đổi cơ cấu kinh tế cho
phù hợp với những tiến bộ như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật,
đồng thời đẩy nhanh liên minh, liên kết khu vực và quốc tế để tạo thế và lực cạnh
tranh giành giật thị trường, mở đường cho sản xuất phát triển. Tất cả các nước lớn,
nhỏ trên thế giới đang vận động theo xu thế này bởi họ nhận thức rằng nếu đơn
độc, đứng ngoài cuộc sẽ bị cô lập, nghèo nàn, lạc hậu. Chính vì thế, Nghị quyết
Đại hội VIII đã vạch rõ: “phải đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới”. Đây cũng là một trong những nội dung rất quan trọng của đường lối đổi mới
mà Đảng ta đã khởi xướng ngay từ năm 1986. Truyền thống hàng ngàn đời nay của
cha ông ta là: “giàu vì bạn”. Do vậy, để thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng và văn minh chúng ta không thể không hội nhập. Đổi mới với Hội nhập
kinh tế quốc tế là phù hợp với nhau. Hội nhập để thực hiện đổi mới. Đổi mới để
đẩy nhanh quá trình hội nhập trên cơ sở phát huy nội lực, đẩy mạnh hợp tác quốc
tế, giữ gìn bản sắc dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ đắc lực cho sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
• Mục tiêu cuối cùng của hội nhập về mặt kinh tế là mở rộng thị trường và tranh thủ
tiếp thu khoa học – kỹ thuật mới, tạo thế và lực mới cho đất nước ta vươn lên
ngang tầm quốc tế. Trong quá trình đó, thách thức và vận hội đan xen. Chúng ta
cần các nước mở cửa thị trường cho hàng hoá, dịch vụ và thương nhân của chúng
ta, thì ngược lại họ cũng cần chúng ta như vậy. Với nguyên tắc có đi có lại thì
sắc dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy phát huy nội lực làm nền tảng,
tranh thủ hợp tác quốc tế để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nước nhà.
3.2.2.2. Về mặt hành động.
Trước mắt các doanh nghiệp cần triển khai sớm sáu việc sau đây:
• Tổ chức nghiên cứu quán triệt các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung
ương Đảng về vấn đề phát huy nội lực và hợp tác kinh tế quốc tế, nhất là Nghị
quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) để có định
hướng đúng đắn, đồng thời đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu rõ nội dung cụ thể của các
chương trình hợp tác của các tổ chức WTO, ASEAN, APEC, ASEM, vv…, nhằm
định hình được rõ nết những việc mình cần làm, trước mắt và lâu dài, cho phù hợp
với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế chung của cả nước.
• Cần khẳng định rằng trong quá trình hội nhập kinh tế vươn ra thị trường quốc tế và
khu vực, Nhà nước chỉ hỗ trợ, tạo môi trường pháp lý thông thoáng và thuận lợi.
Sự thành công tới đâu trong quá trình này là tuỳ thuộc vào sức cạnh tranh, tính
năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp. Do vậy, các doanh nghiệp phải thực sự
vào cuộc, vì sự sống còn của mình. Tư tưởng trông chờ vào Nhà nước hỗ trợ tất
yếu sẽ dẫn tới sự đào thải. Trong quá trình cạnh tranh vươn lên này, Nhà nước sẽ
hỗ trợ thích đáng cho các doanh nghiệp, nhưng sự hỗ trợ đó phải có chọn lọc, có
điều kiện, có thời gian. Như vậy, con đường tất yếu cho các doanh nghiệp là: kết
hợp chặt chẽ sản xuất với kinh doanh. Mỗi đơn vị cần có chiến lược riêng cho đơn
vị mình. Một mặt qui hoạch sản xuất, điều chỉnh cơ cấu, ưu tiên tập trung đầu tư
cho sản xuất các mặt hàng chủ lực có thế mạnh, có khả năng cạnh tranh của đơn vị,
của địa phương mình. Không nên đầu tư dàn trảI, cần chuyên sâu theo thế mạnh.
Một mặt cần đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh, khai thác lợi thế từ các cam kết
trong hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu
tư. Kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất và kinh doanh tiêu thụ trên thị trường trong và
ngoài nước. Xem thị trường trong nước là hậu thuẫn, là thế mạnh cho việc thâm
nhập thị trường nước ngoài.
• Cần nghiên cứu nắm vững cam kết cụ thể của các nước đối với nước ta, và của