khả năng thích ứng của ngành công nghịêp ô tô việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 13

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH CÔNG
NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Sinh viên thực hiện : Hà Vũ Huyền Dịu
Lớp : Anh 16
Khoá : K43D - KT&KDQT
Giáo viên hƣớng dẫn : PGS. TS. Nguyễn Hữu Khải
Hà Nội, 6 - 2008
LỜI CẢM ƠN

1.2.3. Tiêu chuẩn thích ứng của sản phẩm ô tô 19
1.2.3.1 Tiêu chuẩn quản lý chất lượng trong ngành công nghiệp ôtô-
ISO/TS 16949 19
1.2.3.2. Tiêu chuẩn khí thải Euro 22
1.2.3.3. Tiêu chuẩn an toàn trên ô tô 26
1.2.3.4. Các tiêu chuẩn thích ứng khác 28
1.2.4. Sự cần thiết phải nghiên cứu tính thích ứng 28
1.3. Kinh nghiệm về phát triển ngành công nghiệp ô tô của một số nƣớc
nhằm thích ứng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 30
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 30
1.3.2. Kinh nghiệm của Thái Lan 32

Chƣơng II: THỰC TRẠNG THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH CÔNG
NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP 34
2.1. Sơ lƣợc về quá trình phát triển của ngành Công nghiệp ô tô Việt
Nam 34
2.1.1. Thời kì trước năm 1975 34
2.2.2. Thời kì từ năm 1975 đến năm 1991 35
2.2.3. Thời kì từ năm 1991 đến nay 36
2.2.3.1. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 36
2.2.3.2. Doanh nghiệp trong nước 37
2.2.3.2. Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (Vietnam Motors
Association- VAMA) 37
2.2 Cơ hội và thách thức của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong
tiển trình hội nhập 39
2.2.1 Tiến trình hội nhập của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam 39
2.2.1.1 Cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA) 39
2.2.1.2 Cam kết trong khu vực Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA) 40
2.2.1.3 Cam kết trong khu vực thương mại tự do ASEAN- Trung Quốc

3.1.2.2 Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến
năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 70
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng của ngành
công nghiệp ô tô Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 75
3.2.1 Nhóm giải pháp vĩ mô 75
3.2.1.1 Có chính sách bảo hộ hợp lý 75
3.2.1.2 Có chính sách về công nghệ hiện đại, tiên tiến và thích hợp 79
3.2.1.3 Xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư hợp lý 81
3.2.1.4 Cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng 81
3.2.1.5 Xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực 82
3.2.1.6 Xây dựng chiến lược định vị Việt Nam trong mạng lưới sản xuất
Đông Á 83
3.2.2 Nhóm giải pháp vi mô 84
3.2.2.1 Nâng cao trình độ công nghệ 84
3.2.2.2 Liên kết, sáp nhập các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô 84
3.2.2.3 Hoàn thiện mạng lưới bán hàng và hệ thống phân phối 85
3.2.2.4 Cải thiện chất lượng dịch vụ sau bán hàng 86
3.2.2.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 86
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng thích ứng của ngành
công nghiệp ô tô Việt Nam 87
3.3.1 Về phía Bộ công thương 88
3.3.2 Về phía Bộ Khoa học Công nghệ 88
3.3.3 Về phía Bộ Tài Chính 89
3.3.4 Về phía Bộ Giao thông Vận tải 89
3.3.5 Về phía Bộ Kế hoạch và Đầu tư 89
3.3.6 Về phía Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương 89
3.3.7 Về phía Hiệp hội các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, Hiệp hội các
nhà sản xuất ô tô Việt Nam, Hiệp hội kỹ sư ô tô Việt Nam 90
KẾT LUẬN 91

System Evaluations
Hiệp hội hệ thống kiểm định chất
lượng
BTA
Bilateral Trade Agreement
Hiệp định thương mại Việt Mỹ
CBU
Complete Built-up
Xe nguyên chiếc
CEPT
Common Effective
Preferential Tariff
Thuế quan có hiệu lực chung
CKD
Complete Knock-Down
Xe nguyên chiếc tháo rời
EAQF
European Automobile
Quality French
Hệ thống kiểm định chất lượng
ôtô của Pháp
ESC
European Steady Cycle
Chu trình thực nghiệm ổn định
ETC
European Transient Cycle
Chu trình thực nghiệm tức thời
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài

MPV
Multi Purpose Vehicle
Xe đa dụng
NHTSA
National Highway Traffic
Safety Administration
Cơ quan an toàn giao thông quốc
gia Mỹ
JETRO
Japan External Trade
Organisation
Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật
Bản
PPAP
Production part Approval
Phê duyệt sản phẩm
OICA
Organisation Internationale
des Constructeurs
d’Automobiles
Tổ chức các nhà sản xuất xe hơi
quốc tế
SUV
Sport utility vehicles
Xe phân khúc
TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam
VDA6
Verband der

Tăng trưởng về số xe ô tô được sản xuất lắp ráp trong nước
từ năm 1998-2006
46
5
Năng lực sản xuất của VAMA
47
6
Cấu trúc thị trường ô tô Việt Nam 2005-2007
47
7
Tình hình nhập khẩu ô tô 2005-2007
53 DANH MỤC BẢNG BIỂU

STT
Tiêu đề
Trang
1
Thương mại quốc tế ở những quốc gia chính sản xuất ô tô
9
2
Tiêu chuẩn khí thải EURO đối với từng loại xe
23
3
Danh sách 18 thành viên của VAMA
38
4
Thị phần của các thành viên thuộc Hiệp hội các nhà sản xuất

thông qua sự phát triển của mạng lưới phân phối, thu hút một số lượng lớn lao
động xã hội, tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Ngoài ra phát triển ngành công nghiệp ô tô sẽ cho phép đất nước tiết kiệm
được những khoản ngoại tệ đáng kể dành cho nhập khẩu, cũng như phát huy
được một số thế mạnh nổi trội hiện nay đơn cử như chi phí cạnh tranh của
nguồn nhân lực.
Nhận thức được vai trò quan trọng đó, từ những năm đầu của thập kỉ
1990, nền công nghiệp ô tô đã bắt đầu hình thành với sự xuất hiện đầu tiên
của Công ty Sản xuất ô tô Mê kông. Cùng với quá trình mở cửa nền kinh tế,
hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới là một làn sóng đầu tư ồ ạt chảy
vào Việt Nam, các hãng sản xuất ô tô hàng đầu thế giới cũng bắt đầu có mặt
tại Việt Nam liên doanh với các đối tác trong nước để hình thành nên các liên
doanh sản xuất và lắp ráp ô tô. Đến năm 1995, gần như đủ mặt anh tài trong
làng ô tô thế giới đã có mặt tại Việt Nam như Toyota, Ford, Daewoo,
Mitsubishi, Mercedes…Thị trường ô tô Việt Nam đã thật sự sôi động.
Hà Vũ Huyền Dịu - Lớp A16 - K43D - Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
2
Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, ngành
công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn còn là một ngành sinh sau đẻ muôn và còn rất
nhiều yếu kém. Hơn nữa, từ khi ra đời đến nay, ngành này luôn được hưởng
các chính sách ưu đãi, cơ chế bảo hộ cao từ phía nhà nước. Tuy vậy, ngành
công nghiệp ô tô Việt Nam hiện có rất nhiều vấn đề bất cập như tỷ lệ nội địa
hoá thấp, trình độ công nghệ thấp dẫn đến không đáp ứng được các tiêu chuẩn
so với ngành công nghiệp ô tô trên thế giới.
Xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ
trên tất cả các quốc gia, trên các lĩnh vực kinh tế. Việt Nam cùng với ngành
công nghiệp ô tô không nằm ngoài xu thế đó. Làm thế nào để ô tô Việt Nam

ô tô Việt Nam và thực trạng áp dụng các tiêu chuẩn thích ứng so với ngành
công nghiệp ô tô thế giới.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản đó là phương
pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin;
các phương pháp toán- thống kê; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương
pháp biểu đồ; phương pháp so sánh; phương pháp khảo sát và một số phương
pháp kinh tế khác.
5. KẾT CẤU CỦA KHOÁ LUẬN
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục chữ viết tắt, Danh mục bảng,
kết cấu của khoá luận chia làm 3 chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận liên quan đến khả năng thích ứng
của ngành công nghiệp ô tô
Chƣơng 2: Thực trạng thích ứng của ngành công nghiệp ô tô Việt
Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao khả năng thích ứng của ngành công
nghiệp ô tô Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hà Vũ Huyền Dịu - Lớp A16 - K43D - Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
4
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN
KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ

1.1. Tổng quan về ngành công nghiệp ô tô thế giới
1.1.1. Vài nét sơ lược về sự ra đời và phát triển của ngành công nghiệp ô tô
thế giới

Bản và các nước Châu Âu đã thành công trong việc sản xuất ra nhiên liệu cho
xe ô tô, bắt buộc Mỹ phải cạnh tranh với các nước này. Đến năm 1982, Nhật
Bản đã trở thành người dẫn đầu thế giới trên thị trường Mỹ. Những cơ hội
tăng trưởng tiềm tàng đã gây ra hiện tượng công suất thừa trên toàn cầu trong
ngành công nghiệp ô tô. Những năm 1990 đã chứng kiến những cuộc mua lại
và sáp nhập (M&A), nhờ đó mà vấn đề thừa công suất đã được giải quyết.
Cạnh tranh ngày càng khốc liệt cộng với sự gia tăng thương mại toàn
cầu là những nhân tố chính góp phần cải thiện hệ thống phân phối toàn cầu và
buộc các tập đoàn lớn về ô tô như General Motors, Ford, Toyota, Honda,
Volkswagen và Daimler Chrysler phải chuyển việc sản xuất sang các nước
đang phát triển với mục đích các nước này sẽ giúp các tập đoàn ô tô lớn hoạt
động có hiệu quả trên thị trường cạnh tranh toàn cầu. Trong những năm cuối
của thập kỉ 1990, toàn cầu hoá trong ngành công nghiệp ô tô phát triển mạnh
mẽ nhờ có sự thành lập các cơ sở sản xuất quan trọng ở nước ngoài và sự mua
lại, sáp nhập giữa các tập đoàn ô tô đa quốc gia. Thực tế cho thấy rằng, trong
giai đoạn này Châu Á nổi lên như là một trung tâm ô tô toàn cầu. Xuất khẩu ô
tô bao gồm cả linh kiện phụ tùng từ khu vực này tăng lên một cách nhanh
chóng. Có thể nói, Châu Á đã trở thành thị trường tiêu dùng cũng như trung
tâm sản xuất cung ứng chủ yếu trên thế giới. Trong đó có thể kể đến như Thái
Lan là nước xuất khẩu chính của Châu Á, chủ yếu được điều hành bởi các
doanh nghiệp FDI của Nhật Bản; ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc đang
phát triển với tốc độ nhanh chóng với thế mạnh về linh kiện, phụ tùng; còn
Ấn Độ vẫn đang giữ vững vị trí của mình với nhu cầu lớn về xe ô tô nội
Hà Vũ Huyền Dịu - Lớp A16 - K43D - Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
6
địa…Riêng Nhật Bản và Hàn Quốc đã có một ngành công nghiệp ô tô phát
triển so với trong khu vực cũng như trên thế giới.

7
hơn để cạnh tranh với nhóm thứ nhất. Có thể thấy rõ được xu hướng này qua
sơ đồ sau:
Hình 1: Tình hình tái cơ cấu trong ngành công nghiệp ô tô năm 2000

Nguồn: Asia-Pacific Research and Training Network on Trade
Working Paper Series, No. 37, July 2007
1.1.3. Thương mại quốc tế trong ngành công nghiệp ô tô thế giới
Sự phát triển của thương mại quốc tế trong ngành công nghiệp ô tô đã
thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách để
hoạch định các chiến lược kinh doanh. Thương mại quốc tế trong ngành công
nghiệp ô tô đã ảnh hưởng lên cả tự do hoá cũng như bảo hộ thương mại. Vào
những năm 1970 và 1980, ngành công nghiệp ô tô của Mỹ đã phải đối mặt với
Hà Vũ Huyền Dịu - Lớp A16 - K43D - Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
8
sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nhà sản xuất ô tô nước ngoài, đặc biệt là từ các
nhà sản xuất ô tô của Nhật bản. Sự suy giảm của nền công nghiệp ô tô nội địa
cộng thêm sự gia tăng về nhập khẩu ô tô từ Nhật Bản đã khiến chính phủ Mỹ
đã phải đưa ra các chính sách để bảo hộ nền sản xuất nội địa, trong đó chủ
yếu là áp dụng hạn ngạch. Trong giai đoạn khủng hoảng dầu, nhiên liệu dùng
cho xe ô tô sản xuất tại Nhật Bản có nhu cầu cao ở Mỹ. Thêm vào đó, ba tập
đoàn ô tô lớn của Mỹ không mấy mặn mà trong việc sản xuất ô tô cỡ nhỏ đã
làm cho nhu cầu nhập khẩu xe từ Nhật Bản tăng mạnh. Những ước tính vào
những năm đầu 1980 mỗi năm các nhà sản xuất xe ô tô Nhật Bản thu về được
5 tỷ USD từ hạn ngạch nhờ việc bán những loại xe ô tô nằm trong hạn ngạch
với giá cao. Các nhà sản xuất ô tô chính Nhật Bản như Toyota, Honda,
Nissan…đã vượt qua được rào cản hạn ngạch và đầu tư vào thị trường Mỹ.

Linh kiện ô tô
17.53
19.67
28.86
11.83
13.56
24.84
Xe nguyên
chiếc
20.62
24.09
42.54
21.49
22.43
36.64
Đức
Linh kiện ô tô
29.93
35.59
73.33
15.88
22.63
47.03
Xe nguyên
chiếc
60.83
72.37
131.18
29.95
27.61

18.93
25.78
42.40
Nhật
Bản
Linh kiện ô tô
40.26
35.23
47.93
3.11
4.68
8.53
Xe nguyên
chiếc
57.28
70.38
97.27
10.55
7.47
8.94
Hàn
Quốc
Linh kiện ô tô
1.18
2.63
9.78
3.31
2.80
5.09
Xe nguyên

2005 Đức đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nước xuất khẩu ô tô chính trên thế
giới. Trong giai đoạn này các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản đang tập trung vào việc
cải tổ lại các nhà máy sản xuất xe cũng như đầu tư mới vào khu vực Đông Nam
Á và các quốc gia đang phát triển khác và sử dụng những khu vực này làm trung
tâm xuất khẩu. Vì những lí do đó mà giá trị xuất khẩu ô tô của Nhật Bản bị giảm
sút. Nhìn vào bảng trên ta cũng nhận thấy rằng các quốc gia lớn của Châu Âu
nhập khẩu rất nhiều bao gồm cả linh kiện phụ tùng và xe nguyên chiếc, kim
ngạch nhập khẩu đạt giá trị lớn đáng kể trong suốt giai đoạn 2000-2005. Trong
khi đó, các quốc gia sản xuất ô tô chủ yếu ở khu vực Châu Á như Nhật Bản và
Hàn Quốc lại nhập khẩu rất ít các linh kiện phụ tùng.
Năm 2006, sản lượng ô tô toàn cầu vượt mức 70 triệu xe, tăng 5% so
với năm 2005. Hãng Toyota (Nhật Bản) đang hướng tới vị thế hàng đầu trong
ngành công nghiệp ô tô toàn cầu. Dự báo Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga
sẽ chiếm tới 52% sản lượng xe xuất xưởng trên thế giới trong vòng 4 năm tới.
Hiệp hội sản xuất ôtô quốc tế (OICA) cho biết, trong 6 tháng đầu năm nay các
hãng ôtô thế giới đã xuất xưởng 35,4 triệu xe, tăng 6% so với cùng kỳ năm
trước. Mỹ tiếp tục giữ vị trí hàng đầu thế giới, xuất xưởng 6,1 triệu xe. Nhật
Bản đứng thứ 2 với 5,7 triệu xe, tăng 4%. Trung Quốc có sản lượng xe hơi
tăng mạnh nhất, đạt 3,6 triệu xe, tăng 28,8%, vượt cả Đức có sản lượng 3 triệu
xe. Sản lượng xe Hàn Quốc đạt 1,96 triệu chiếc, tăng 5,5%, vượt sản lượng
của Pháp 1,76 triệu xe. Ngành sản xuất ô tô của Liên minh châu Âu (EU) chỉ
tăng 1,5%. Sản lượng ô tô của các nước thành viên EU cũ đạt 8,65 triệu xe,
giảm 1%.
Trong cuộc cạnh tranh quyết liệt với các hãng ô tô ở châu Á, các hãng sản
xuất ô tô của Mỹ đã phải giảm lượng xe bán ra. Trong quý IV/2006 General
Motor (GM) tuyên bố cắt giảm 12% công suất. Riêng trong tháng 9/2006, doanh
số bán xe con các loại của GM giảm 6,4%, các loại xe tải và xe thể thao giảm
Hà Vũ Huyền Dịu - Lớp A16 - K43D - Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
12
kinh tế khiến chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao, hứa hẹn Trung Quốc
là thị trường tiêu thị ô tô tiềm năng nhất thế giới.
1.2 Những tiêu chí cơ bản đánh giá tính thích ứng
1.2.1 Khái niệm
Từ điển Webster’s New Collegiate năm 1973 định nghĩa “Khả năng
thích ứng là khả năng thích nghi với các điều kiện của môi trường”. Khả
năng thích ứng của sản phẩm là khả năng của doanh nghiệp trong việc thay
đổi các sản phẩm và hệ thống hỗ trợ sản phẩm để thích nghi với các thay đổi
trong các môi trường như: môi trường cạnh tranh, môi trường kỹ thuật và môi
trường kinh doanh.
Các yếu tố quyết định đến khả năng thích ứng của sản phẩm bao gồm:
các tiêu chuẩn hoạt động và lĩnh vực của sản phẩm. Các tiêu chuẩn hoạt động
là các tiêu chuẩn thuộc nội tại (ví dụ: hiệu suất) hoặc các tiêu chuẩn về ngoại
cảnh (ví dụ: sự chấp nhận của thị trường). Còn lĩnh vực sản phẩm có thể được
giới hạn trong một dây chuyền sản xuất đơn lẻ hoặc các dây chuyền sản xuất
phức tạp.
Việc phân biệt các tiêu chuẩn hoạt động nội tại với các tiêu chuẩn hoạt
động ngoại cảnh là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp. Các tiêu chuẩn hoạt động nội tại là các tiêu chuẩn có
liên quan đến hiệu suất, chẳng hạn như chi phí sản xuất. Trong khi đó, các
tiêu chuẩn hoạt động ngoại cảnh lại đề cập đến khía cạnh pháp lý như các quy
định của xã hội đối với một sản phẩm thông qua các cơ chế như nhu cầu thị
trường, tính hợp pháp, khả năng chấp nhận của xã hội đối với việc tiêu dùng
sản phẩm đó. Sự vô hiệu trong bất kỳ một khía cạnh nào nói trên đều có thể là
nguy cơ dẫn tới sự thất bại của sản phẩm. Quy trình sản xuất không hiệu quả
thì có thể làm gia tăng chi phí sản xuất, thu hẹp lợi nhuận và đe doạ sự sống

môi trường sống. Do đó, nghiên cứu khả năng thích ứng của ngành ô tô thì
thường tập trung vào nghiên cứu các tiêu chuẩn liên quan đến kĩ thuật, các
biện pháp làm giảm ô nhiễm môi trường cũng như các chính sách, biện pháp
tác động đến sự phát triển của ngành.
Hà Vũ Huyền Dịu - Lớp A16 - K43D - Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
14
1.2.2 Các yếu tố quyết định khả năng thích ứng của sản phẩm
1.2.2.1 Khả năng thay đổi
Theo từ điển Webster’s New Collegiate năm 1973 định nghĩa Khả năng
thay đổi là khả năng tạo ra sự thay đổi, những thay đổi này “đưa ra một định
hướng mới hoặc giới hạn mới”. Ở đây, khả năng thay đổi có liên quan đến
hiệu quả thay đổi một sản phẩm của doanh nghiệp, bao gồm nghiên cứu và
phát triển, quy trình sản xuất hay các hệ thống liên quan đến sản xuất khác.
Khả năng thay đổi phản ánh sự phù hợp của sản phẩm với môi trường hoạt
động của doanh nghiệp, có nghĩa là môi trường hoạt động bên trong (chẳng
hạn như yếu tố hiệu suất) và tập trung vào một sản phẩm đơn lẻ chứ không
phải là nhiều sản phẩm.
Sự phù hợp liên quan đến sự hài hoà giữa các yếu tố với nhau. Khả
năng thay đổi sản phẩm của doanh nghiệp phụ thuộc vào sự phù hợp giữa các
kỹ năng của doanh nghiệp trong việc thiết kế mẫu mã, sản xuất, phân phối,
và/ hoặc cung cấp dịch vụ và các thiết bị kỹ thuật cần thiết để tạo ra các đặc
điểm mới của sản phẩm. Sự không tương xứng giữa các kỹ năng và thiết bị kỹ
thuật cần thiết có thể làm giảm khả năng thích ứng với những thay đổi trên thị
trường của doanh nghiệp.
1.2.2.2 Khả năng tương thích
Theo từ điển Webster’s New Collegiate năm 1973, Khả năng tương
thích là khả năng “ cùng tồn tại trong sự hài hoà” của các yếu tố độc lập. Khả

Khả năng chấp nhận phản ánh khả năng chấp nhận sản phẩm của thị
trường thông qua các nhóm khách hàng hoặc theo thời gian khác với các yếu
tố quyết định khả năng thích ứng dựa trên các tiêu chuẩn nội tại, khả năng
chấp nhận dựa trên các tiêu chuẩn thuộc về ngoại cảnh như tính hợp pháp của
sản phẩm. Các đặc điểm làm tăng khả năng chấp nhận của sản phẩm sẽ nâng
cao khả năng thích ứng của sản phẩm đó đối với sự thay đổi của môi trường.
Để đánh giá khả năng chấp nhận có thể đứng trên cả hai quan điểm là
tĩnh và động. Quan điểm tĩnh phản ánh mức độ chấp nhận sản phẩm của thị
trường thông qua các nhóm khách hàng tại một thời điểm nhất định. Quan
Hà Vũ Huyền Dịu - Lớp A16 - K43D - Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
16
điểm động liên quan đến sự chấp nhận liên tục của sản phẩm cho dù nhu cầu
của thị trường có thay đổi theo thời gian.
Khả năng thích ứng nội tại của một doanh nghiệp sẽ trở nên vô nghĩa
nếu như các sản phẩm của doanh nghiệp đó không được thị trường chấp nhận.
Khả năng chấp nhận quyết định sự tồn tại của sản phẩm trong lòng người tiêu
dùng hoặc theo thời gian. Nếu như tập trung vào thị trường ngách (chẳng hạn
như một phân đoạn thị trường) thì khả năng được chấp nhận của sản phẩm sẽ
cao hơn so với việc đem các sản phẩm đó bán tại các thị trường lớn hơn.
Nếu như doanh nghiệp sản xuất một loại sản phẩm để đáp ứng một
phân đoạn thị trường thì sản phẩm này chỉ được phân đoạn thị trường đó chấp
nhận, còn nếu như sản phẩm được tiêu chuẩn hoá thì nó có thể đáp ứng được
nhiều phân đoạn thị trường khác nhau.
1.2.2.4 .Khả năng ảnh hưởng
Khả năng ảnh hưởng đề cập đến sự liên kết của sản phẩm đối với các
sản phẩm khác trong cùng một chuỗi sản phẩm thông qua các nhãn hiệu,
chiến lược xúc tiến và chiến lược hiện hữu chung. Khả năng ảnh hưởng của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status