BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
________________
ĐÀO CẢNH XUÂN
SỰ CHUYỂN BIẾN TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO
ĐỨC CỦA PHAN BỘI CHÂU
GIAI ĐOẠN 1925 -1940
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Long An, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
________________
ĐÀO CẢNH XUÂN
SỰ CHUYỂN BIẾN TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO
ĐỨC CỦA PHAN BỘI CHÂU
GIAI ĐOẠN 1925 – 1940
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60310201
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Văn Dũng
và thực hiện đề tài.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn chắc còn nhiều thiếu sót,
với ý thức luôn tự học hỏi và nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học, tôi rất
mong được sự góp ý của quý thầy, cô và các bạn.
Long An, 2015
Đào Cảnh Xuân
MỤC LỤC
TRANG
PHẦN MỞ ĐẦU...........1
PHẦN NỘI DUNG.....................................................................................10
Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐÊ VÀ ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA PHAN BỘI CHÂU............................................
1.1.Tiểu sử Phan Bội Châu....................................................................................
1.2. Bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tác
động đến tư tưởng đạo đức Phan Bội Châu...................................................
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1............................................................................
Chương 2: QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO
ĐỨC CỦA PHAN BỘI CHÂU GIAI ĐOẠN (1925 - 1940)..........................
2.1. Sự xác lập của tư tưởng đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Phan
Bội Châu trước năm 1925.............................................................................
2.2. Những yếu tố tác động trực tiếp và những nội dung cơ bản trong tư tưởng
đạo đức của Phan Bội Châu (1925 – 1940).............................................
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2....................................................................................
Chương 3: GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA PHAN
BỘI CHÂU VỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO CON
NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY...............................................................
này tồn tại rất nhiều mâu thuẫn, trong đó mâu thuẫn về lợi ích các giai cấp, mâu
thuẫn về ý thức hệ tư tưởng… nhưng mâu thuẫn cơ bản nhất, bức thiết nhất cần
giải quyết lúc này là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân
Pháp xâm lược. Để giải quyết mâu thuẫn bức thiết này, các cuộc đấu tranh của
nhân dân ta trên các lập trường, quan điểm tư tưởng khác nhau diễn ra mạnh mẽ.
6
Một bộ phận “hủ nho” vẫn giữ nguyên lập trường “trung quân ái quốc” đấu
tranh cho lợi ích giai cấp địa chủ phong kiến đang lâm vào “suy vi”. Một bộ
phận sĩ phu khác thích ứng với những điều kiện biến đổi của lịch sử như Phan
Châu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp… đã tiếp cận
những tư tưởng mới, tư tưởng của phong trào Khai Sáng qua Tân văn, Tân thư
từ Nhật Bản và Trung Quốc. Những tư tưởng mới bàn về tính thượng tôn của
pháp luật, quyền bình đẳng giữa con người với con người trong các mối quan hệ
xã hội. Mặt khác, các sĩ phu còn chịu ảnh hưởng từ những cuộc cải cách đất
nước hiệu quả của nhiều quốc gia như ở Nhật thời Minh Trị, cuộc cách mạng
Tân Hợi ở Trung Quốc. Sự tác động to lớn từ những tư tưởng mới và thực tiễn
cải cách hiệu quả của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, làm cho các sỹ
phu yêu nước Việt Nam trong đó có Phan Bội Châu nhận ra sự thiếu phù hợp
của nội dung tư tưởng cũ, tư tưởng Nho giáo nói chung và tư tưởng về đạo đức
nói riêng đối với việc giải quyết những vấn đề cấp bách của dân tộc Việt Nam ở
cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.
Phan Bội Châu với vốn hiểu biết rộng, trình độ lý luận sắc bén, ông đã tìm
đến và tiếp biến những tư tưởng mới trên cái nền của tư tưởng cũ. Rất nhiều tác
phẩm, bài viết trong quá trình hoạt động của Phan Bội Châu chứa đựng những tư
tưởng về triết học, chính trị, văn hóa, đạo đức… Đặc biệt, tư tưởng đạo đức và
cả cuộc đời chiến đấu vì lý tưởng đạo đức vì nước, vì dân của ông có giá trị rất
to lớn. Nó thôi thúc lòng tự tôn dân tộc, nó xác định vị trí và vai trò của mỗi
luận văn tốt nghiệp thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phan Bội Châu là một nhà yêu nước chân chính, với tài năng và có tầm
ảnh hưởng đối với phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX. Nhà chí sỹ cách mạng, suốt cuộc đời trăn trở về lí tưởng đạo đức độc lập
cho dân tộc, tự do cho nhân dân, bên cạnh đó ông cũng luôn tìm đến những tư
tưởng mới nhằm hiện thực hóa lí tưởng đạo đức cao cả đó. Nghiên cứu về Phan
Bội Châu cho đến nay thu hút được rất nhiều học giả trong và ngoài nước. Các
8
công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu rất đa dạng, nhưng những công trình
này nghiên cứu tập trung trên các hướng sau:
Hướng nghiên cứu thứ nhất, những công trình nghiên cứu về Phan Bội
Châu và các nhà tư tưởng gắn với lịch sử dân tộc giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX. Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu đồ sộ: “Sự phát triển của
tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám” [27], [28] ; “Đại
cương lịch sử Việt Nam” [58]. Cũng nghiên cứu về tình hình tư tưởng thời kỳ
này còn có công trình nghiên cứu “Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX” [17] v.v.. Các công trình trên chỉ ra những điều kiện kinh tế
- xã hội Việt Nam và xu thế chung của thời đại tác động cho sự ra đời tư tưởng
của Phan Bội Châu cũng như các nhà tư tưởng đương thời ông. Bên cạnh đó, các
công trình trên phân tích khá sâu sắc về tư tưởng triết học và tư tưởng chính trị
của Phan Bội Châu. Từ sự phân tích đó các tác giả chỉ ra sự khác biệt, bước
chuyển căn bản trong tư tưởng của Phan Bội Châu so với các nhà tư tưởng
đương thời. Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định Phan Bội Châu xứng đáng là
nhà tư tưởng tiêu biểu nhất của Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Hướng thứ hai, các công trình nghiên cứu một cách khái quát hệ thống
từng giai đoạn, từng nội dung tư tưởng của Phan Bội Châu. Với chủ đề này cũng
có các công trình tiêu biểu như:
Châu cũng cần nói đến như: “Tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu” [53]; “ Tư
tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châu” [36]; và luận văn thạc sĩ chính
trị học của Nguyễn Ngọc Điệp, với đề tài: “Sự chuyển biến trong tư tưởng chính
trị của Phan Bội Châu trước năm 1925”, Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014. Những công trình này chủ yếu tập trung
nghiên cứu chuyên sâu về những nội dung tư tưởng triết học, chính trị học hay
10
tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu. Đồng thời nêu bật ý nghĩa của những tư
tưởng đó đối với lịch sử dân tộc Việt Nam. Hai hướng nghiên cứu trên, nội dung
của các công trình chưa nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Phan Bội Châu, phần
lớn các công trình thông qua tấm gương chiến đấu, hoạt động chính trị và sự
chuyển biến trong lập trường chính trị của ông để rút ra nhận xét khái quát, Phan
Bội Châu xứng đáng là tấm gương đạo đức tiêu biểu cho thế hệ những nhà Nho
yêu nước đầu thế kỷ XX.
Hướng thứ ba, nghiên cứu về tư tưởng đạo đức của Phan Bội Châu có thể
kể đến công trình sau: “Tư tưởng của Phan Bội Châu về con người và ý nghĩa
lịch sử của nó”, đây là luận án tiến sỹ triết học của Cao Xuân Long, Đại học
khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, năm
2010. Bố cục của luận án được tác giả chia thành ba chương, trong đó ở chương
hai tác giả tập trung phân tích, làm rõ “Quá trình hình thành phát triển và nội
dung chủ yếu trong tư tưởng của Phan Bội Châu về con người”. Tại mục 3 của
tiết thứ 2 trong chương hai, tác giả có bàn về “Tư tưởng của Phan Bội Châu về
con người dưới góc độ giá trị đạo đức, văn hóa”. Bàn về tư tưởng đạo đức, tác
giả có lý giải nguồn gốc ra đời của đạo đức và chỉ ra những quan niệm về đạo
đức của Phan Bội Châu. Đồng thời, tác giả đã chỉ ra vai trò của đạo đức, đạo
đức được xem như chuẩn mực nó như là bánh lái của con thuyền. Bên cạnh đó
tác giả đã chỉ ra nguyên nhân cái xấu, cái ác lấn át cái tốt, cái thiện là do năm
từ đó chỉ ra sự chuyển biến tư tưởng đạo đức của Phan Bội Châu gắn bó khăng
khít với quá trình hoạt động cách mạng và tiếp nhận những tinh hoa văn hóa
nhân loại của ông.
- Thứ hai, làm rõ quá trình chuyển biến trong những nội dung tư tưởng
đạo đức của Phan Bội Châu (1925 - 1940) trên một số phạm trù cụ thể.
12
- Thứ ba, trên cơ sở phân tích những đặc điểm, yêu cầu của xã hội Việt
Nam hiện nay để từ đó chỉ ra sự cần thiết phải có giải pháp nhằm phát huy
những giá trị đạo đức tích cực của Phan Bội Châu với công tác giáo dục tư
tưởng, đạo đức cho con người Việt Nam hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn chỉ tập trung làm rõ sự chuyển biến trong tư tưởng đạo đức của
Phan Bội Châu trong giai đoạn 1925 – 1940.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện dựa trên các nguyên tắc thế giới quan và
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những
tác phẩm tiêu biểu gửi gắm những nội dung tư tưởng đạo đức của Phan Bội
Châu.
- Luận văn sử dụng phương pháp chuyên ngành và phương pháp liên
ngành để nghiên cứu, bao gồm:
+ Phương pháp nghiên cứu kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp
logic: Vận dụng quan điểm lịch sử để nêu rõ tính kế thừa, đồng thời làm nổi bật sự
chuyển biến trong tư tưởng đạo đức của Phan Bội Châu.
+ Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Đem lại sự hiểu biết về hệ thống
những tư tưởng của Phan Bội Châu nói chung và tư tưởng về đạo đức của ông nói
riêng.
+ Cùng với các phương pháp trên tác giả còn sử dụng các phương pháp
Tư tưởng của Phan Bội Châu nói chung và tư tưởng đạo đức của ông nói
riêng được hình thành và hoàn thiện gắn với các giai đoạn trong sự nghiệp cứu
nước, cứu dân của ông, cho nên thực chất của sự hình thành và hoàn thiện tư
tưởng đạo đức Phan Bội Châu là một quá trình chuyển biến. Để hiểu về tư tưởng
đạo đức của ông, chúng ta cần đặt những tư tưởng đạo đức đó gắn với cuộc đời
sự nghiệp, điều kiện kinh tế xã hội… ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Tuy
nhiên, để hiểu hơn về sự chuyển biến trong tư tưởng đạo đức của Phan Bội
Châu, trước tiên chúng ta cần làm rõ khái niệm về chuyển biến trong tư tưởng
đạo đức của ông.
Khái niệm về “chuyển biến”, đây là khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu
đưa ra, nhưng tùy theo cách tiếp cận, và đối tượng tiếp cận mà các nhà nghiên
cứu đưa ra những quan điểm khác nhau về khái niệm này. Do giới hạn nghiên
cứu của một luận văn thạc sĩ, tác giả không có điều kiện đi sâu bàn về nội dung
này, mà chỉ tiếp cận khái niệm chuyển biến trên góc độ tư tưởng đạo đức của
Phan Bội Châu để làm bật nội hàm của khái niệm này: chuyển biến trong đạo
đức của Phan Bội Châu là: sự vận động của một hệ thống tư tưởng đạo đức
trong quá trình hoạt động cách mạng cứu nước, cứu dân. Từ hoạt động cách
mạng đó, tạo ra sự thay đổi về căn bản những nội dung trong phạm trù đạo đức
của ông nhằm đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong từng giai đoạn hoạt động
cách mạng của Phan Bội Châu.
15
1.1.Tiểu sử Phan Bội Châu
1.1.1. Khái quát về thân thế và sự nghiệp của Phan Bội Châu
Phan Bội Châu tên khai sinh là Phan Văn San. Ông sinh ngày 21 - 12 1867 tại thôn Sa Nam, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và ông mất ở Huế năm
1940. Từ nhỏ ông đã nổi tiếng là người hay chữ, thông minh, Phan Bội Châu
thuật lại trong niên biểu của mình rằng: “Lúc tôi lên sáu, cha tôi dắt tôi đến thục
quán trao cho tôi sách chữ Hán, mới ba ngày tôi đã đọc trầm hết quyển Tam tự
Hội” năm 1904, nhằm thực hiện chủ trương dùng vũ trang bạo động đánh đuổi
giặc Pháp, khôi phục nước Nam tự chủ. Sự việc không thành do cầu chính phủ
Nhật viện trợ vũ khí và binh lính để đánh Pháp thất bại, Phan Bội Châu chuyển
hướng nhờ Nhật giúp đỡ đào tạo nâng cao trí thức mới cho những lưu học sinh
Việt Nam.
Từ năm 1905 đến năm 1907, Phan Bội Châu đã đưa hơn 200 lưu học sinh
có tinh thần yêu nước sang Nhật học tập. Con đường cầu học cho những người
yêu nước Việt Nam không thành. Đầu tháng 6 năm 1907, chính phủ phiệt Nhật
kí điều ước với Pháp, buộc Nhật phải giải tán những lưu học sinh Việt Nam và
trục xuất Phan Bội Châu khỏi đất nước Nhật. Nhưng “chí” trong con người Phan
Bội Châu vẫn vững, ông sang Trung Quốc, Xiêm La để liên kết và lôi kéo
những kiều bào nhằm gây dựng cơ sở để hoạt động và tiếp tục nuôi lý tưởng đạo
đức cứu nước, cứu dân.
Từ năm 1911 đến trước năm 1925, đánh dấu bước chuyển chính thức
trong thế giới quan và con đường cứu nước, từ lập trường phong kiến với sự bó
buộc của những chuẩn mực đạo đức cũ kỹ, bất bình đẳng sang lập trường dân
chủ tư sản gắn với tư tưởng đạo đức tiến bộ, đề cao quyền làm chủ của từng cá
nhân trong xã hội và ý thức được bổn phận, vị trí (chính danh) của ngưới mất
17
nước, từ đó thôi thúc mỗi cá nhân phải đứng lên đoàn kết thực hiện lý tưởng đạo
đức chung là cứu nước, cứu dân.
- Giai đoạn từ năm 1925 đến năm 1940
Cuối năm 1925, thực dân Pháp bắt và quy Phan Bội Châu vào tội chết,
sau đó bản án định tội ông đổi thành án chung thân khổ sai. Sự kết án không
minh bạch của chính quyền bảo hộ ở Việt Nam đã bị dư luận, nhân dân trong
nước phản bác và đấu tranh gay gắt, buộc thực dân Pháp phải ân xá cho Phan
Bội Châu an trí tại Huế cho đến khi ông qua đời năm 1940. Giai đoạn này, đánh
đức của Phan Bội Châu
Gia đình:
Phan Bội Châu sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo. Tư tưởng đạo
đức của quê hương và gia đình đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng đạo đức
của ông. Những tấm gương gia đình xứ Nghệ và đặc biệt ở ngay trong gia đình
Phan Bội Châu đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tâm hồn, lý tưởng của ông từ lúc
thơ bé cho đến khi trưởng thành.
Sinh trưởng trong gia đình lễ giáo, được sự kèm cặp uốn nắn dạy bảo mẫu
mực của người mẹ, đồng thời sự dạy dỗ nghiêm khắc của cha, lúc bấy giờ làm
nghề dạy học. Phụ thân ông là cụ Phan Văn Phổ một người thâm nho, thông
hiểu kinh truyện, nhưng không đỗ đạt gì và sống bằng nghề dạy học. Là một
thầy đồ nghèo sống ở thôn dã nhưng tâm hồn và cách sống thanh bạch, ông được
mọi người quý mến. Là một người “thông nho” [2, 15] ông thường được người
dân nhiều làng xung quanh nhận đón về dạy chữ cho con cháu mình. Năm 30
tuổi, ông lấy vợ và 36 tuổi hạ sinh Phan Văn San.
Mẫu thân của Phan Bội Châu tên là Nguyễn Thị Nhàn, cũng thuộc dòng
dõi Nho học. Bà là người phúc hậu có tình thương yêu con người nghèo khổ,
19
nhà tuy nghèo nhưng thường hay giúp những người khốn khó. Phan Bội Châu
có nhận xét về bà:
Mẹ rất nhân từ, ham làm ơn. Trong nhà tuy nghèo, những đụng khi thân
bằng lân lý có việc cấp nạn, tùy sức đến đâu thì giúp đến ấy; một đồng
tiền, một hột gạo cũng chia sẻ cho nhau mới đành. Khi tôi còn bé mẹ tôi
đã dỗ tôi, nửa câu nói cũng không kinh suất. Tôi hầu mẹ tôi 16 năm, tuyệt
chẳng bao giờ nghe một tiếng mắng chửi ai; dầu có ai ngang trái với
mình, chỉ mỉm cười bằng một tiếng cười lạt mà thôi [2, 16].
Thuở bé, vì các anh em trai trong nhà đều học chữ Hán, nên bà cũng học
Điều kiện tự nhiên và truyền thống đạo đức vì nước vì dân của quê hương
có ảnh hưởng sâu sắc đến con người Phan Bội Châu. Giáo sư Phạm Đức Dương
nhận xét: “Người Nghệ Tĩnh can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên
quyết đến khó khăn, tằn tiện đến cá gỗ” [20, 56]. Trong lịch sử Nghệ Tĩnh có
con người giám chơi ngông như Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Công Trứ, có
những người coi thường công danh các triều vua như Nguyễn Thiệp, có người
chống triều đình như Hoàng Phan Thái, Trần Tấn…Cái tiêu biểu của người
Nghệ Tĩnh là chí khí, nghị lực, gan góc, giỏi chịu đựng, ngang tàng không chịu
ràng buộc. Là dân xứ nghèo, họ sống rất tiết kiệm, nhưng trọng danh dự, giàu
tình nghĩa, nặng ân tình đối với bà con, làng xóm, bạn bè nhất là đối với việc
nước, việc dân họ lại rất trọng nghĩa, hào hiệp, rộng rãi mà không màng đến của
cải và tính mệnh. Viết về “dòng sông văn hóa” xứ Nghệ, Giáo Sư Ninh Viết
Giao đã trích trong “Nghệ An ký”: “xứ Nghệ An đất xấu dân nghèo kém xa bốn
trấn, nhưng phong tục mà được thuần hậu là nhờ ở chỗ đó, vì nghèo nên tập
được tinh thần nhẫn nại, chịu đựng gian khổ, lấy sự cần kiệm tiết ước làm đầu”
[29, 21-22]. Chính vì thế đã hình thành nên trong con người Phan Bội Châu một
ý chí, một nghị lực để vượt qua mọi gian nan trên con đường lý tưởng cứu dân
21
cứu nước của mình. “Phan Bội Châu sinh ra trên mảnh đất ấy, được nuôi lớn bởi
truyền thống đấu tranh bất khuất và dòng sữa ngọt thơm của quê hương với tất
cả cái “cốt tính xứ Nghệ” nhiều ưu điểm nhưng cũng không khỏi những nhược
điểm và hạn chế” [62, 18].
- Những truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc tác động đến
tư tưởng đạo đức của Phan Bội Châu
Các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống dân tộc hình thành gắn với điều
kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử. Đó là kết quả
và là động lực to lớn của quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển của đất
quốc anh hùng chi hữu chủ”, từ triết lý “Nước là của chung chứ không của một
họ nào” của nhà giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm đến quan điểm đấu tranh cho quyền
bình đẳng của mỗi con người, đấu tranh để đem lại “dân quyền” cho nhân dân
và lòng căm ghét bọn xâm lược.
Truyền thống yêu nước của dân tộc ta cũng gắn bó chặt chẽ với lòng yêu
thương và quý trọng con người, nhất là người lao động. Tình yêu thương con
người của dân tộc Việt Nam thấm đượm trong các mối quan hệ giữa các thành
viên trong gia đình, được phát triển trong quan hệ với làng xóm và mở rộng ra
cả cộng đồng dân tộc. Lấy tình yêu thương làm cơ sở cho cách xử thế ở đời là
triết lý sống của người Việt Nam. Người Việt coi trọng tình nghĩa hơn lễ nghĩa.
Trong gia đình, yêu thương là một tình cảm tự nhiên như cha mẹ yêu con cái và
con cái phải có trách nhiệm chăm sóc bố mẹ khi già yếu. Vợ chồng là những
người chủ yếu xây dựng tổ ấm gia đình, cùng nhau chia ngọt xẻ bùi nên ăn ở với
nhau phải như bát nước đầy, không nghĩ chuyện thiệt hơn. Anh em trong gia
đình phải như thể “tay chân” coi “anh thuận em hòa là nhà có phúc”. Đối với
người dưng thì phải giúp đỡ khi họ gặp khó khăn hoạn nạn, bênh vực kẻ yếu với
thái độ vô tư khi họ bị kẻ mạnh áp bức.
23
Trải qua hàng nghìn năm dưới ách thống trị của phong kiến, cuộc sống
của nhân dân lao động nước ta vô cùng cực khổ. Chính sách nô dịch, cướp bóc
của bọn thống trị nước ngoài, sự bóc lột dưới nhiều hình thức của bọn địa chủ
phong kiến trong nước cùng với điều kiện tự nhiên không thuận lợi như bão lụt,
hạn hán, mất mùa, các loại dịch bệnh… đã đè nặng lên cuộc sống của nhân dân
lao động nước ta. Trước tình cảnh đó, họ cảm thấy thương mình và cảm thương
những người có cùng chung cảnh ngộ như mình. Mọi người đồng cảm với từng
nỗi đau của người khác, sẵn sàng “nhường cơm sẻ áo” cho nhau với tinh thần “lá
lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Tư tưởng “thương người như
Bên cạnh lòng thương yêu, quý trọng con người, ý thức cộng đồng, tinh
thần đoàn kết là yếu tố tinh thần hợp thành nguồn sức mạnh thúc đẩy quá trình
phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Tinh thần đoàn kết bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước là biểu hiện của tình
yêu nước. Nhờ sức mạnh tinh thần của sự đoàn kết mà cha ông đã biến thành
sức mạnh vật chất, sức mạnh của cộng đồng dân tộc trong xây dựng và bảo vệ
tổ quốc. Nhờ đoàn kết cha ông ta đã sáng tạo nên nền văn minh sông Hồng, đặt
cơ sở cho tiến trình phát triển về sau của dân tộc. Đoàn kết giúp nhân dân vượt
qua mọi thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, phát triển sản xuất để phục vụ
đời sống của mình. Từ thực tiễn cuộc sống, cha ông ta đã nhận thức rằng: “đoàn
kết thì sống”, hay “một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi
cao”. Tinh thần đoàn kết đó là sức mạnh để nhân dân ta đánh thắng mọi kẻ thù
xâm lược. Lịch sử đã cho thấy một khi dân tộc ta không tạo nên khối đoàn kết
thì sự nghiệp bảo vệ bờ cõi biên cương sẽ thất bại. Thất bại của nhà Hồ vào thế
kỷ XV chống quân Minh là một ví dụ điển hình.
Ý thức cộng đồng là sự thống nhất cao giữa truyền thống yêu nước và
truyền thống nhân đạo, yêu thương con người. Đây là một điểm tựa tinh thần, là
25