vấn đề kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức nho giáo trong tư tưởng đạo đức hồ chí minh - Pdf 24

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN TH HNG DOAN
VấN Đề Kế THừA, PHáT TRIểN MộT Số PHạM TRù
CƠ BảN CủA ĐạO ĐứC NHO GIáO TRONG
TƯ TƯởNG ĐạO ĐứC Hồ CHí MINH
Chuyờn ngnh : CNDVBC & CNDVLS
Mó s : 62 22 80 05
LUN N TIN S TRIT HC
Ng i h ng d n khoa h c: 1. PGS.TS NGUYN TH NGA
2. GS.TS NGUYN HNG HU
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các tài liệu trích dẫn sử dụng trong luận án là trung thực,
có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Những kết luận khoa học rút ra
trong luận án là kết quả tìm tòi, nghiên cứu nghiêm túc của bản
thân tác giả luận án.
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Doan
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
5
1.1. Những công trình nghiên cứu về đạo đức nho giáo
5
1.2. Những công trình nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
và sự kế thừa, phát triển đạo đức nho giáo trong tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh

KẾT LUẬN
148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
152
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chí Minh không chỉ để lại cho dân tộc ta một sự nghiệp cách mạng
vẻ vang, một sự nghiệp văn hoá đồ sộ mà qua cuộc đời đầy gian khổ hy sinh,
vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ của mình,
Người còn để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản lớn, đó là tư tưởng và
tấm gương đạo đức sáng ngời của người cách mạng, tượng trưng cho những
gì cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách Việt Nam.
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một vĩ nhân, không chỉ ở tầm dân
tộc, mà ở tầm thời đại, tầm nhân loại. Trong diễn văn đọc tại lễ kỷ niệm 77 năm
thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã đánh giá:
“Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, tiêu biểu cho phẩm chất và
khí phách của dân tộc ta, Đảng ta. Giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống tốt đẹp
theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vừa là yêu cầu cấp bách hiện nay, vừa là
nhiệm vụ cơ bản lâu dài” [75, tr.4]. Có thể nói rằng, cả cuộc đời Hồ Chí Minh là
một bài học lớn về đạo đức cách mạng mà ngày nay mỗi người Việt Nam nói
chung và mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng cần học tập và noi theo.
Hiện nay, Đảng ta xác định: sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức ở
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên biểu hiện tập trung ở tình trạng
tham nhũng đang làm băng hoại nền đạo đức xã hội, băng hoại truyền thống
nhân văn của dân tộc, đang là thách thức lớn nhất của công cuộc đổi mới đất
nước, là nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế độ ta, đang làm mất thanh danh
uy tín của Đảng, Nhà nước, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào

Bản thân tác giả nhận thấy đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng,
mang tính thời sự cấp thiết trong việc nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh. Cũng bởi ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này nên tác giả chọn:
“Vấ n đề kế thừ a, phát triể n mộ t số phạ m trù cơ bả n củ a đạ o đứ c Nho giáo
trong tư tư ở ng đạ o đứ c Hồ Chí Minh” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mụ c đích
- Phân tích sự kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức
Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó rút ra ý nghĩa lý luận và
thực tiễn của việc kế thừa, phát triển đó đối với việc giáo dục đạo đức, lối
sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay.
2.2. Nhiệ m vụ
- Tổng quan các công trình nghiên cứu về đạo đức Nho giáo; các công
trình nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và sự kế thừa, phát triển
đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
- Phân tích, làm rõ một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo ở
Trung Quốc và Việt Nam.
- Phân tích, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng và nội dung chủ yếu của
việc kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
- Phân tích ý nghĩa rút ra từ việc kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ
bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với việc
giáo dục đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đố i tư ợ ng nghiên cứ u
Sự kế thừa, phát triển số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
3.2. Phạ m vi nghiên cứ u
Đạo đức Nho giáo là một hệ thống đồ sộ và phong phú, trong luận án chỉ

vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về đạo đức Nho giáo và đạo đức Hồ
Chí Minh.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận án gồm 4 chương, 8 tiết.
5
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO
Nho giáo ra đời trong bối cảnh đất nước Trung Hoa có nhiều biến động
và tự thân Nho giáo đã trải qua nhiều bước thăng trầm trong lịch sử. Mục đích
của Nho giáo là mong muốn xây dựng một xã hội thái bình, thịnh trị có trật tự
kỷ cương, nề nếp. Nho giáo chủ trương lấy Đức trị làm phương thức cai quản
đất nước, vì vậy, Nho giáo đã xây dựng được hệ thống các phạm trù đạo đức,
đề cao việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, xây dựng các mối quan hệ phù hợp với
những chuẩn mực đạo đức. Xét về mặt ý thức hệ, Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu
đậm của tư tưởng phong kiến Trung Quốc, mà nền tảng là Nho giáo.
Đạo đức Nho giáo, bên cạnh một số yếu tố tích cực, vẫn chứa đựng
không ít những yếu tố tiêu cực mà cho đến nay còn ảnh hưởng khá nặng nề
trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta. Trong nhiều năm trở lại
đây, Nho giáo và đạo đức Nho giáo đã được nhiều học giả quan tâm nghiên
cứu, được đánh dấu bởi các công trình nghiên cứu sau:
Nhóm công trình luận giải nguồn gốc, nội dung của Nho giáo và hệ
thống những yêu cầu đạo đức của Nho giáo, có thể kể tới một số công trình
tiêu biểu sau:
Trong “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu [10]. Tác giả trình bày,
phân tích những tư tưởng cơ bản của Nho giáo trong quá trình hình thành và
phát triển. Qua đó, khi đánh giá, nhận xét về Nho giáo tác giả đã nêu bật và đề
cao những nhân tố tích cực của Nho giáo và cho rằng đạo đức Nho giáo có vai

không thế vượt ra ngoài không gian và thời gian mà lập túc được. Vì tư tưởng
của Khổng Tử không đơn giản như một người dung phàm, vì vậy, chúng ta
không những không nên phủ nhận mà cần nhận rõ chân những điều phức tạp
mâu thuẫn của ông. Nghĩa là, chúng ta phải quan sát sự nghiệp và học thuyết
7
của ông bằng con mắt biện chứng mới khỏi thất chân. Từ quan điểm đó, tác
giả đi vào nghiên cứu: sự xuất hiện và chân tướng của Khổng giáo; Vì sao
Khổng giáo tồn tại được hơn hai nghìn năm? Kết quả Khổng giáo ở Trung
Quốc và Việt Nam; Khổng giáo gặp văn hóa phương Tây ở Trung Quốc và ở
nước ta; Khổng giáo không thể tồn tại ở xã hội ta ngày nay, vì vậy thái độ của
chúng ta với Khổng giáo như thế nào?
Qua những phần nghiên cứu trên tác giả đã đưa ra phương pháp khoa
học để nhìn nhận và đánh giá Khổng giáo một cách công bằng. Cho dù hiện
nay, nó không còn thích hợp nữa, song không thể phủ nhận công dụng và sự
nghiệp của nó trọn vẹn ở trong lịch sử, không ai có thể chối cãi hay xóa bỏ đi
được. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở những nghiên cứu ban đầu về
những ưu và nhược điểm của Khổng giáo đối với xã hội nước ta.
- “Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu” của Cao
Xuân Huy [50]. Trong cuốn sách này, người soạn đã dành hẳn phần III với
tiêu đề “ Đề cương bài giảng triết học cổ đại Trung Quốc” là nội dung nghiên
cứu về Nho giáo của tác giả. Những bài giảng này là chuyên đề triết học
phương Đông được trình bày tại Viện Văn học năm 1962 - 1963. Tác giả tập
trung đi vào nghiên cứu về xã hội và tư tưởng cổ đại Trung Quốc; về Khổng
Tử và nội dung học thuyết của ông. Tác giả chỉ ra tư tưởng chính trị - xã hội,
nhân sinh quan của Khổng Tử thông qua các sách Luận ngữ và Trung dung.
Khi bàn về “Nhân” của Khổng Tử, tác giả cho rằng hai chữ “trung” và “thứ”
chưa phải là bản thể của chữ “nhân”. Đặc biệt, tác giả nêu được những mâu
thuẫn nội tại trong chữ “nhân” của Khổng Tử, vì xuất phát từ một tâm lý phổ
cập (tính tương cận) mà lại quy kết ở một lý tưởng cao nhất, cần phải một đại
thánh mới thực hiện nổi. Tiếp theo, vì chữ “nhân” đã là thuộc tính phổ cập, thì

Nam, nêu rõ ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực đạo đức, chính trị - xã hội,
hệ tư tưởng, văn hóa, giáo dục . Liên quan đến vấn đề này có:
- “Các bài giảng về tư tưởng phương Đông” của Trần Đình Hượu [54].
Phần 1: Tác giả trình bày về tư tưởng Nho gia và Lão Trang và lịch sử vận
9
động của các hệ tư tưởng này ở Trung Quốc. Phần 2: Nho giáo và Nho giáo ở
Việt Nam trình bày nội dung học thuyết Nho giáo, cơ sở kinh tế xã hội của
Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội Việt Nam hiện đại. Đóng
góp của tác giả là đã thể hiện được sự hiểu biết sâu về kinh sử nên chỉ ra được
nguyên lý về sự phát triển của các hệ tư tưởng; từ các vấn đề chung của Nho
giáo góp phần soi sáng sự kiện đại cách mạng văn hóa, chủ nghĩa Mao hay
hiện tượng vươn lên của bốn con rồng Châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Nam
Triều Tiên, Đài Loan; soi sáng cả các vấn đề thực tế của Việt Nam như: làng
xã, tổ chức làng xã, bộ máy quan lại, đô thị và khởi nghĩa nông dân Những
trang viết về gia đình Nho giáo như: quan hệ giữa những người thân trong gia
đình, vấn đề thờ cúng tổ tiên, quan hệ họ hàng đều được tác giả trình bày
khoa học và hệ thống.
- “Nho giáo xưa và nay” của Vũ Khiêu [60]. Cuốn sách là tập hợp các
bài viết của các nhà nghiên cứu về Nho giáo. Cuốn sách đề cập đến phương
hướng và phương pháp tiếp cận, nội dung và ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt
Nam, Nho giáo và sự phát triển ở một số nước châu Á. Tiêu biểu là các bài
viết: “Hiện đại đối thoại với Nho giáo” của Bùi Đăng Duy, “Khổng giáo và
gia đình” của Quang Đạm, “”Nho giáo và văn hóa Việt Nam” của Trần Quốc
Vượng . Tựu trung, cuốn sách đặt vấn đề: Nho giáo đã từng bao đời là hệ tư
tưởng thống trị trong kiến trúc thượng tầng Trung Quốc, của nhiều nước
phương Đông và của Việt Nam. Nho giáo đã góp phần xây dưng một hệ thống
hành chính và quản lý xã hội bao gồm những người trí thức được đào tạo
công phu về kiến thức, về cách ứng xử xã hội, về phẩm chất kẻ làm quan.
Phải chăng Nho giáo còn có thể giúp ích gì, cả về mặt chính diện và phản diện
cho giới quản lý trong xã hội Việt Nam ngày nay?

Xuất phát từ những nhận định trên, trong cuốn sách này, tác giả đã dày
công sưu tầm và ghi lại những câu trích của Nho giáo, chủ yếu là của Khổng
Mạnh. Cuốn sách có ý nghĩa quan trọng đối với những người nghiên cứu về
đạo đức Nho giáo. Song cuốn sách mới dừng lại ở việc nêu lên những câu
11
trích của Nho giáo về đạo đức chứ chưa có sự phân tích, đánh giá về những
câu trích đó.
- “Nho giáo tại Việt Nam” của Lê Sỹ Thắng [125]. Trong cuốn sách
này, có một số bài viết liên quan đến vấn đề ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo
đối với con người và xã hội Việt Nam như:
+ “Vài nét về tinh thần chống ý thức hệ Nho giáo trong văn học dân
gian Việt Nam” của Bùi Văn Nguyên. Tác giả cho rằng: Tổ tiên ta chẳng cần
biết đến Nho giáo, biết đến thuyết chính danh, định phận, biết đến thuyết tam
cương, ngũ thường, mới biết thương cha, thương mẹ, thương vợ, thương chồng,
thương đồng bào dân tộc, mới biết kính trên nhường dưới. Trong quá trình lịch
sử, do sự giao lưu văn hóa hoặc do sự ngoại xâm tác động, những hệ tư tưởng
như Nho giáo đã du nhập nước ta. Quá trình tiếp thu và chống đối ý thức hệ Nho
giáo đó là một quá trình biện chứng dai dẳng, xen kẽ và phức tạp.
Về ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo tác giả quan niệm: dần dần những
khái niệm chủ quan của giai cấp thống trị phong kiến, như ở Trung Quốc và ở
ta là: trung hiếu, đi vào lĩnh vực tình cảm từ thế hệ này qua thế hệ khác, trở
thành yếu tố của chủ nghĩa tình cảm, bất chấp mọi phân tích và chứng minh
của trí tuệ và khoa học.”.
Về ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong xã hội Việt Nam
hiện nay, tác giả cho rằng, trải qua thời gian, biết bao tàn dư và tác hại của ý
thức hệ Nho giáo, như tác hại về thuyết định mệnh, về lẽ trọng nam khinh nữ,
vốn nảy sinh từ thuyết tam cương .Và cùng biết bao nhiêu là tàn dư và tác hại
khác do ý thức hệ Nho giáo gây nên, có khi từ thời Triệu Đà đến mãi ngày nay.
+ “Ảnh hưởng của Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam” của
Nguyễn Đức Quỳ: Tác giả cho rằng, tư tưởng Nho giáo có ảnh hưởng vô cùng

cơ hội để cho Nho giáo dễ dàng thâm nhập vào đời sống. Bởi vì Nho giáo với
các khái niệm hiếu, đễ, tiết, hạnh đã góp phần củng cố uy quyền của người gia
trưởng và tôn ty trật tự trong gia đình. Hơn nữa, suốt các triều đại Lý, Trần,
Lê, người nông dân Việt Nam tuy sinh hoạt trong gia đình nhưng không tách
13
rời những quan hệ xã hội của họ. Từ đó, tác giả kết luận: cho nên không phải ngẫu
nhiên mà thôn xã Việt Nam đã giành cho Nho giáo một chỗ đứng nhất định.
Tác giả nêu bật được những nét đặc thù và vị trí của Nho giáo trong thời kỳ
cực thịnh của nó. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra, Nho giáo ở Việt Nam lúc này
chủ yếu xoay quanh đạo tu thân và phép đối nhân xử thế, đạo trị bình thiên hạ,
nên nó không giải đáp được những vấn đề số phận con người, không cắt nghĩa
được sự bất hạnh và rủi ro cũng như không đáp ứng được yêu cầu giải thoát của
con người. Vì vậy, dù có chiếm được địa vị độc tôn và đạt tới đỉnh cao nhất của
sự thịnh trị thì Nho giáo ở Việt Nam giai đoạn này vẫn không giữ nguyên bộ mặt
vốn có của nó như ở Trung Quốc. Nó đã thực sự thay hình, đổi dạng và được cải
biến cho thích hợp với mảnh đất và nhu cầu của xã hội Việt Nam.
- “Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam” của GS. Phan Đại Doãn [17].
Ở đây, các tác giả đã phân tích rõ những nét cơ bản của tiến trình xác lập vị
thế và những thành tựu của Nho giáo Việt Nam trong chặng đường lịch sử từ
thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX, mà đỉnh điểm của nó là thời Lê Thánh Tông
(1460 - 1497). Đây là thời kỳ Nho giáo Việt Nam chiếm địa vị độc tôn của
chế độ quân chủ chuyên chế ở nước ta.
Các tác giả chỉ rõ, cuối thế kỷ XIX, mặc dù Nho giáo Việt Nam ngày
càng suy tàn, không còn đáp ứng được yêu cầu của xã hội Việt Nam, nhưng
những thành tựu của nó về giáo dục, khoa cử, những yếu tố tiến bộ, hợp lý
của nó về xây dựng gia đình, xây dựng cộng đồng, tu dưỡng cá nhân, tinh
thần hiếu học, tôn sư trọng đạo vẫn cần được khai thác phát huy với hướng
gạn đục khơi trong, nối tiếp truyền thống nhằm góp phần tích cực vào công
cuộc xây dưng đất nước ngày một phát triển nhanh và bền vững.
Cuốn sách cũng nêu lên được Nho giáo khi vào Việt Nam không còn

CHÍ MINH VÀ SỰ KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TRONG TƯ
TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
Nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và sự kế thừa, phát triển
đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đã nhiều tác giả bàn
luận đến, có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau đây:
15
- “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh truyền thống dân tộc và nhân loại”,
của Vũ Khiêu [61]. Đây là công trình được xuất bản trong khuôn khổ chương
trình nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh (đề tài KX02). Công trình là tập
hợp các bài tham luận và bài phát biểu tại Hội thảo về nguồn gốc hình thành
và đặc điểm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh; về Hồ Chí Minh với các giá trị
và tinh hoa đạo đức của nhân loại. Công trình tập trung vào nhận định: quá
trình hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một cuộc cách mạng trên lĩnh
vực đạo đức, nó thể hiện một thái độ khoa học đối với đạo đức cũ. Trên cơ sở
của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Hồ Chí Minh đã gạt bỏ những cái đã lỗi thời, phát
huy những nhân tố tích cực của đạo đức cũ để xây dựng một kiểu đạo đức mới.
Đạo đức mới là đạo đức chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng của dân tộc, vì sự tiến
bộ của cả nhân loại, vì tự do và hạnh phúc của mỗi con người.
Công trình chỉ rõ: Từ những quan điểm đạo đức rất cơ bản, rất lớn đến
những nội dung đạo đức rất bình thường đều được Hồ Chí Minh trình bày rõ
ràng, ngắn gọn, giản dị, nhiều khi rất cô đọng và súc tích như những châm
ngôn. Giúp chúng ta tìm thấy những căn cứ đúng đắn nhất để xét người xét
việc và xem xét chính bản thân mình. Giúp chúng ta tìm thấy ở đây những
chuẩn mực để yêu hay ghét, trọng hay khinh, ca ngợi hay chê trách, tán thành
hay phản bác, và đặc biệt quan trọng là để phấn đấu và vươn tới những cái
cao đẹp nhất của con người. Đó là những vấn đề tư tưởng đạo đức được thể
hiện trong lời nói và bài viết của Người.
Trong công trình này, đặc biệt có hẳn một phần nội dung về Hồ Chí
Minh với học thuyết của Khổng Tử và tư tưởng đạo đức phương Đông. Đáng
chú ý là các bài: “Tư tưởng đạo đức ở Khổng Tử và Hồ Chí Minh” của Phan

được sống giữa một quê hương bao đời theo Nho học, lại được chứng kiến
những hành vi yêu nước và chống giặc đầy nhiệt tình và khí phách của nhân
dân. Trong hoàn cảnh ấy, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những truyền thống đạo
đức của dân tộc thể hiện trong sinh hoạt của nhân dân và chứa đựng trong
nhiều câu chữ của Nho giáo.
17
Tác giả phân tích, Hồ Chí Minh chứng kiến sự bất lực của Nho giáo
trước chủ nghĩa đế quốc; Hồ Chí Minh thấy rõ được những ưu điểm, nhược
điểm của Nho giáo trước nhu cầu mới của đất nước và cũng chính Hồ Chí
Minh là người đã vận dụng thành công ưu điểm đó trong việc xây dựng nên
nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng.
Tác giả so sánh: Nếu như Nho giáo đặt vấn đề tu dưỡng đạo đức lên
hàng đầu “từ bậc thiên tử xuống tới hạng bình dân, ai nấy đều phải lấy tu thân
làm gốc” nhằm thực hiện một xã hội lý tưởng theo mô hình Nho giáo với sự
thống trị của “vua hiền, tôi giỏi” thì trong sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minh
cũng coi “đạo đức là gốc” và đòi hỏi người cách mạng phải có bản lĩnh đạo đức.
Nếu Nho giáo coi thực hiện lý tưởng của mình là một nhiệm vụ rất khó khăn thì
Hồ Chí Minh cũng coi nhiệm vụ cách mạng là nặng nề, phức tạp và gian khổ.
Tác giả cũng cho rằng, trải qua hai cuộc kháng chiến đầy gian lao thử
thách, có thể nói Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng khá nhiều những kinh
nghiệm của Nho giáo vào việc giáo dục đạo đức và phát động tinh thần của
nhân dân nhưng sự vận dụng đó được nhìn dưới lăng kính của chủ nghĩa Mác
- Lê nin. Trong quá trình lịch sử này không thể bỏ qua sự đóng góp những lời
răn dạy được rút ra từ trong Nho giáo. Tuy nhiên, không phải để thực hiện
mục tiêu của Nho giáo mà để đi ngược lại mục tiêu ấy, hướng vào sự nghiệp
giải phóng cho tổ quốc và nhân dân.
Song sự phân tích của tác giả về vấn đề này mới dừng lại ở những nét
khái quát nhất, chưa đi sâu phân tích cụ thể trong cách vận dụng từng phạm
trù đạo đức của Nho giáo trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh.
- “Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh” của Trần Văn Giàu

về các mối quan hệ xã hội. Ảnh hưởng và ý nghĩa của nó đối với xã hội ta
ngày nay” [7]. Tác giả luận án đã trình bày được đặc điểm của xã hội Việt
Nam qua các triều đại phong kiến và sự vận dụng Nho giáo. Quan niệm của
Nho giáo về các mối quan hệ xã hội như quan hệ gia đình, quan hệ vợ chồng,
quan hệ anh em Ví dụ khi đề cập đến các mối quan hệ trong cộng đồng gia
19
đình, tác giả lập luận: gia đình được Nho giáo coi là gốc của xã hội. Vì vậy,
Nho giáo đòi hỏi mỗi gia đình phải là một tổ chức chặt chẽ.
Tác giả đi sâu phân tích về đạo Hiếu của Nho gia và khẳng định: Hiếu là
đạo thường của trời, là lẽ phải của đất, là bản tính tự nhiên vốn có của người,
là gốc của đạo làm người, là nết đầu trong trăm nết của con người, là cơ sở để
con người trở thành người quân tử, thành kẻ đại trượng phu, thậm chí có thể
trở thành thánh nhân.
Tác giả viện dẫn quan niệm về Hiếu của Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử.
Đến Đổng Trọng Thư thì quan niệm về Hiếu không còn giữ nguyên ý nghĩa
tốt đẹp ban đầu, mà thay vào đó là một hệ thống lý luận chặt chẽ, giáo điều,
gắn với những nghi thức rườm rà, những đòi hỏi vô lý buộc con người phải
tuân theo một cách gò bó, hình thức và an phận dưới chế độ phong kiến nhiều
bất công. Nó khiến cho mọi người vì chữ Hiếu mà không ai dám chống lại trật
tự xã hội đã được an bài theo mệnh trời, theo lệnh vua và ý trời.
Do giới hạn của đề tài luận án, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân tích
các mối quan hệ trong xã hội, chứ không chủ tâm phân tích về các phạm trù
đạo đức cơ bản của Nho giáo.
- Luận án tiến sĩ của Hoàng Trung với đề tài: “Đạo đức cách mạng trong
tư tưởng Hồ Chí Minh qua các phạm trù mà người sử dụng” [142]. Tác giả
nêu về khái niệm đạo đức cách mạng mà Hồ Chí Minh đã sử dụng và đi sâu
phân tích nội dung đạo đức cách mạng theo quan điểm của Hồ Chí Minh. Tác
giả chỉ rõ: Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách
mạng. Theo Hồ Chí Minh thì đối với con người, sức có mạnh mới gánh được
nặng và đi được xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn

Hồ Chí Minh, một số ý kiến của Hồ Chí Minh về đạo đức, những câu chuyện
chân thật, sinh động về tấm gương đạo đức của Người. Tiêu biểu là những
bài: “Giá trị tư tưởng đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh” của Đào Duy
Tùng; “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” của Nguyễn Bá Linh; “Hồ Chí Minh
và đạo đức” của Phạm Văn Đồng…
21
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Mai “Ảnh hưởng của đạo đức
Nho giáo đối với đạo đức người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện
nay” [74]. Tác giả trình bày được những vấn đề cơ bản sau: Nội dung chủ yếu
của đạo đức Nho giáo và nét riêng của đạo đức Nho giáo Việt Nam; Phân tích
thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức cán bộ lãnh đạo,
quản lý hiện nay ở nước ta; Đưa ra một số giải pháp cơ bản để phát huy
những mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong việc
xây dựng đạo đức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay.
- “Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh”, của Hội đồng Trung ương chỉ
đạo biên soạn [49]. Đây là một công trình công phu của nhóm biên soạn do
GS. Đặng Xuân Kỳ chủ biên. Công trình này đã giới thiệu được tương đối
toàn diện và có hệ thống những những tư tưởng lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh
về cách mạng Việt Nam. Phản ánh được những thành tựu mới nhất trong
nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh từ sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII đến nay. Trình bày được những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh kết hợp
với việc đề xuất vận dụng, quán triệt tư tưởng ấy trong công cuộc đổi mới.
Đặc biệt, công trình giành hẳn một chương trình bày về tư tưởng Hồ
Chí Minh về đạo đức và khẳng định đạo đức là một trong những vấn đề quan
tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Đồng thời chỉ rõ,
những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới
theo tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương
con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong
sáng. Bên cạnh đó cũng chỉ ra những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới theo
tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức;

luận án để thấy rõ, các công trình trên đã nghiên cứu và giải quyết được ở
mức độ khác nhau những vấn đề:
- Nguồn gốc, đặc điểm của Nho giáo và đạo đức đức Nho giáo;
- Mức độ ảnh hưởng của Nho giáo và đạo đức Nho giáo trong xã hội
Việt Nam từ phong kiến đến ngày nay;

Trích đoạn Phạm trù Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Phạm trù Trung, Hiếu Phạm trù Cần, Kiệm, Liêm, Chính Một số vấn đề đặt ra về đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viênở nước ta hiện nay nghĩa một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo đã được Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển trong việc giáo dục đạo đức, lố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status