Những lát cắt về đạo đức nghề nghiệp trong tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện sớm trong quá trình vận động, phát triển gắn liền
với biến đổi của nền kinh tế xã hội. Từ khi được xã hội hình thành, phạm trù về đạo đức đã được phản
ánh một cách sinh động trong đời sống xã hội thông qua mối quan hệ biện chứng giữa con người với con
người, giữa con người với xã hội. Kể từ đó, đạo đức luôn là một trong những khái niệm biến đổi thành
phương thức hữu hiệu điều chỉnh hành vi của con người, góp phần quan trọng trong việc duy trì trật tự
xã hội trong các chế độ. Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đạo đức nghề nghiệp của mỗi lĩnh vực,
mỗi ngành nghề là một trong những lát cắt nhỏ trong phạm trù đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh.
I. 1.Những chuẩn mực đạo đức bị chi phối bởi điều kiện kinh tế xã hội
Bản chất của hành vi đạo đức là tính tự nguyện, tự giác của chủ thể, là hành động vì lợi ích của
người khác và có thống nhất với lợi ích xã hội nói chung. Vì vậy các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện
dưới hình thức khẳng định lợi ích chính đáng hay không chính đáng theo yêu cầu, chuẩn mực của xã hội.
Căn cứ vào đó, cộng đồng có thể bày tỏ sự tán thành hoặc phản đối hành vi ứng xử của cá nhân, dùng
sức mạnh của dư luận để giúp chủ thể nhận thức lại tính lợi ích trong hoạt động của họ.
Đạo đức bắt nguồn từ cuộc sống, phản ánh tồn tại xã hội, thực tiễn lao động sản xuất, điều kiện
sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người Đạo đức và sự phát triển đạo đức là nhu cầu của cuộc
sống, là kết quả của sự phát triển lịch sử loài người. Chính trong lao động sản xuất và thông qua các mối
quan hệ xã hội, bằng chính cuộc sống của mình, những chuẩn mực đạo đức được hình thành.
Sống trong cộng đồng, con người phải suy nghĩ về vấn đề đạo đức, nhằm tìm ra con đường, cách
thức, phương tiện hành động sao cho thỏa mãn lợi ích của mình, gia tăng lợi ích cho cộng đồng. Hơn
thế, khi nhận thức, con người đạt tới trình độ nhất định, đạo đức chính là cảm xúc, trách nhiệm của con
người trước những điều kiện sống hiện tại. Sự phát triển của xã hội từ xưa đến nay đã chứng minh vai
trò và sức mạnh của đạo đức. Đạo đức đã trở thành mục tiêu, động lực phát triển và là tiêu chí của sự
tiến bộ xã hội.
Đạo đức là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng
xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi
truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
Vận dụng hệ thống nguyên tắc, chuẩn mực vào trong mỗi nghề nghiệp cụ thể, đạo đức nghề
nghiệp được hình thành. Vì vậy, có thể coi đạo đức nghề nghiệp là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực
đạo đức điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ nghề nghiệp, chúng bị quy định bởi tính đặc thù của
phát triển nghiêm trọng
”. Trong giáo dục, các nhà quản lý và một số giáo viên, nhà báo, thầy thuốc,
chiến sĩ công an, tòa án, luật sư sử dụng quyền hạn của mình trong nghề nghiệp, có biểu hiện chạy
theo thành tích không quan tâm đến chất lượng hay hậu quả xảy ra, hình ảnh một số bộ phận người làm
nghề đã để lại tiếng xấu trong người dân, mất lòng tin trong họ và tổn hại cho thế hệ trong tương lai.
Trong một số ngành nghề trên, vi phạm đạo đức nghề xảy ra nhiều ở mức độ khác nhau, khiến
tâm lý xã hội không khỏi bất ổn hoang mang. Như chuyện nhà báo tống tiền doanh nghiệp, hay nhà báo
đã vì tiền mà đánh đổi sự nghiệp của mình, ăn tiền hối lộ để che đậy tội lỗi của đối tượng vi phạm, hay
dùng ngòi bút của mình để đe dọa người này người khác,việc bác sỹ làm chết bệnh nhân, phi tang xác
bệnh nhân xuống sông để bịt đầu mối, hay việc xử oan sai của tòa án cho phạm nhân phải ngồi tù oan
hàng chục năm đó là những hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp một cách nghiêm trọng trong thời
gian qua mà dư luận xã hội đang rất bất bình.
Bác Hồ về thăm Bệnh xá Vân Đình, Hà Nội
Thứ nhất nghề y.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề sức khỏe của nhân
dân và y đức của người thầy thuốc. Người luôn căn dặn thầy thuốc "
lương y như từ mẫu"
. Người cũng đã
để lại cho chúng ta những tư tưởng, quan điểm vô cùng sâu sắc, phong phú và có ý nghĩa định hướng
cho việc phát triển một nền y học Việt Nam hiện đại trong tương lai. Người nói: "
Giữ gìn dân chủ, xây
dựng nước nhà, gây dựng đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công
…".
Ðạo đức nghề y, hay còn gọi là y đức đối với người làm nghề y. Đó không phải là một quy chuẩn
của luật pháp, hay nghĩa vụ pháp lý, mà là những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người nói chung và
người làm nghề y nói riêng. Mặt khác, đó cũng là quy tắc, là chuẩn mực của ngành y, là kim chỉ nam
trong hoạt động nghề nghiệp, để thầy thuốc tự giác điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với lợi ích, tiến
bộ ngành y để đem lại sức khỏe và sự an lành cho con người. Y đức hình thành và phát triển cùng với
lịch sử y học và xã hội.
Ngay từ những năm đầu xây dựng đất nước, trên cương vị người lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh
cùng sinh động và thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa "hồng" vừa "chuyên",
có tri thức, lý tưởng, đạo đức, sức khoẻ và thẩm mỹ
Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “
Ngủ thì ai cũng như lương thiện, tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên
”. Người nhấn mạnh mục đích giáo dục
phải gắn liền với nội dung giáo dục; giáo dục phải toàn diện. “
Trong việc giáo dục và học tập phải chú
trọng đến các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản
xuất
”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là sự kết hợp giữa lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là sự kết hợp giữa lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục.
UNESCO từng đánh giá: "
Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh
vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt
Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng
định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau
”. Chủ tịch Hồ Chí
Minh là điển hình mẫu mực trong việc lựa chọn, kế thừa những mặt tích cực trong quan điểm giáo dục,
đào tạo con người. Những lời dạy của Người đã trở thành phương pháp luận trong chiến lược xây dựng
con người mới “
xứng tầm thời đại
”, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta hiện nay.
Thứ ba nghề báo
. Đạo đức nghề báo chính là những nguyên tắc, những chuẩn mực được hình
thành trong các mối quan hệ ứng xử nghề nghiệp của nhà báo, được thể chế hóa, được nhà báo và dư
luận xã hội thừa nhận, trở thành những chuẩn mực điều chỉnh hành vi của nhà báo trong hoạt động thực
tiễn nghề nghiệp.Trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức trong hoạt động nghề
nghiệp của nhà báo là 3 mặt của một vấn đề, hòa quyện, liên kết chặt chẽ, là điều kiện, là tiền đề của
nhau, cùng hướng tới một mục tiêu duy nhất là hoàn thành tốt trách nhiệm của nhà báo với sự phát triển
nghiệp, học tập theo gương Bác Hồ - Người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh luôn kêu gọi mọi người thi đua học tập, coi học tập là nhiệm vụ thường xuyên, suốt
đời, “còn sống thì còn phải học”. Và trong việc học tập Người đặc biệt chú trọng đến động cơ, thái độ học
tập: “
Muốn học tập có kết quả thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng
”. Tức là, trước hết phải có
động cơ học tập đúng để xác định rõ và đúng xu hướng nghề nghiệp chân chính của mình là vì mục tiêu,
lý tưởng cao cả của cách mạng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì con người và vì sự tiến bộ của chính bản thân
mình. Theo Hồ Chí Minh, mục đích của việc học tập là: “
Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để
phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại
”.
Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “
Học để sửa chữa tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, học
để tin vào đoàn thể, vào nhân dân, vào tương lai của dân tộc và tương lai của cách mạng, học để hành”;
“học để làm việc
”;
chứ không phải học để “làm ông nọ bà kia”, hay là để “làm quan cách mạng”…
cho
nên, “tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch”
Thứ tư về quân đội
. Quan điểm về quân sự là một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng của
Người. Tư tưởng đó có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần định hướng, soi dọi cho con đường
cách mạng của Đảng ta trong các cuộc kháng chiến. Theo Người, xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân
phải được toàn diện, cả về số lượng và chất lượng, quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức cách
mạng, coi trọng xây dựng tính đại đoàn kết dân tộc
Người nói: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song
chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Người nói
“Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến
đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn
kết giữa cán bộ, công nhân và đồng bào địa phương; phải chăm lo đào tạo nguồn nhân lực, phải xây
dựng văn hóa doanh nghiệp, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của cán bộ công nhân viên, đặc biệt,
phải chăm lo đến cán bộ và công nhân nữ… Theo Người, doanh nhân cần phải có đủ các đức tính cần -
kiệm - liêm - chính - chí công vô tư, có tri thức chuyên môn vững vàng, nắm vững pháp luật, sâu sát
thực tế, lý trí vững chắc, bản lĩnh kiên cường, tình cảm trong sáng, kết hợp giữa chính trị và khoa học,
chấp hành pháp luật, hiểu biết pháp luật, đặc biệt quan tâm tới việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu
cửa quyền…
Sự suy thoái về đạo đức nghề nghiệp xảy ra ở mọi lĩnh vực, trên bình diện. Đây là một vấn đề lớn,
có ảnh hưởng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực trong cuộc sống hàng ngày Ai cũng lo kiếm lợi ích cho mình
trước khi nghĩ tới hậu quả về đạo đức, đẩy việc vi phạm đạo đức lên cấp độ cao dẫn đến không kiểm
soát.
Rõ ràng cho ta thấy, vì lợi ích trước mặt, nhiều người làm trong các nghề khác nhau đã phá vỡ nền
tảng đạo đức truyền thống. Mặt khác cũng phải thấy rằng, trong bối cảnh hiện nay, quy định về đạo đức
trong mỗi nghề nghiệp phải gắn với quy định của pháp luật, được tuyên truyền rộng rãi, nhắc nhở
thường xuyên và có hướng dẫn cụ thể về xử phạt có như vậy con người vi phạm đạo đức mới nhận
thức đúng hành vi vi phạm của mình.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ : “
Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân
cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ CNH, HĐH hội nhập
kinh tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên học sinh sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối
sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam
”. Định hướng đặt ra yêu cầu xây
dựng và hoàn thiện hệ thống các giá trị mới của con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH; từ 5 đức tính
được xác đinh trong nghị quyết TƯ5 khóa VIII, cụ thể hóa thành những chuẩn mục phù hợp từng lĩnh
vực, từng giới, từng ngành, đấu tranh kiên quyết chống những biểu hiện tiêu cực trong tư tưởng, đạo
đức, lối sống trong một số bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Toàn bộ xã hội phải lắng nghe những
hồi chuông cảnh tỉnh về sự suy thoái đạo đức nghề nghiệp gây hậu quả nghiêm trọng qua hàng loạt vụ
việc xảy ra. Việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp trở nên cấp thiết hơn và trở thành mối quan tâm của các
cấp các ngành và toàn xã hội, với tinh thần xã hội hóa.
Hoạt động nghề nghiệp là phương thức sống chủ yếu nhất của con người. Vì vậy, đạo đức nghề