A- PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Nho giáo khổng tử (551-479) sáng lập. Cũng như mọi học thuyết khác
Nho giáo cũng có lịch sử phát triển riêng của mình. Song sự tồn tại lâu dài và
sự ảnh hưởng sâu rộng của học thuyết này tới đời sống văn hoá – chính trị xã hội – tinh thần của một số nước phương Đông cũng còn rất mạnh. Trong
những năm gần đây một số nước Đông Nam Á có sự ảnh hưởng của Nho
Giáo đã đạt được nhiều thành tựu trên nhiều mặt, đặc biệt là kinh tế. Vì vậy
việc học tập và nghiên cứu tìm hiểu nho Giáo đã trở nên vấn đề hấp dẫn lớn
với toàn thể nhân loại.
Việt Nam là một nước chịu ảnh hưởng rất lâu đời và sâu sắc của nền
văn hoá nho giáo. Nho giáo đã được giới thống trị sử dụng như tư tưởng chủ
đạo trong kiến trúc thượng tầng của xã hội, trong suốt thời kỳ phong kiến và
cho đến ngày nay, nó vẫn tồn tại hiện hữu vẫn tác động lên nhiều mặt của đời
sống xã hội.
Tư Tưởng chính trị của Nho giáo đã ảnh hưởng tới nước ta từ rất sớm:
chỉ ngay khi chế độ Bắc thuộc sụp đổ, những người Việt trong chế độ trong
triều đình phong kiến Việt Nam đã từng ý thức được vai trò của Nho giáo đối
với đời sống chính trị và thấy được sự tiếp thu Nho giáo là cần thiết, để
chuyển hoá nó từ chỗ vốn là vũ khí tinh thần của kẻ đi xâm lược đã bại trận
trở thành một công cụ có ích cho việc xây dựng một nhà nước phong kiến và
một trật tự xã hội phong kiến Việt Nam vững mạnh.
Ngày nay chúng ta tìm hiểu, làm rõ và nghiên cứu tư tưởng chính trị
của Nho giáo, không chỉ thấy sự vĩ đại của các vĩ nhân xưa như Khổng Tử,
Tuân Tử… hay một mục đích gì khác ngoài mục đích thiết thân là tiếp tục
phát huy những kinh nghiệm tiếp thu Nho giáo của cha ông ta vào giải quyết
những truyền thống và hiện đại, vận dụng những tư tưởng chính trị tích cực
của Nho giáo và công cuộc đổi mới của đất nước hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Ở nước ta trong nhiều năm qua đã có các công trình nghiên cứu về Nho
giáo đối với xã hội Việt Nam như cuốn “Nho giáo tại Việt Nam" của viện triết
học và trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia do nhà xuất bản khoa
- Làm rõ quá trình hình thành, phát sinh, phát triển tư tưởng chính trị
của Nho giáo.
- Nghiên cứu sự tiếp biến, sự ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho
giáo ở Việt Nam.
2
- Ý nghĩa, phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu trên với việc kế
thừa và phát huy tư tưởng về chính trị trong truyền thống và trong giai đoạn
hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu và phạm vi của đề tài:
4.1 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp logic lịch sử kết hợp sử dụng các
phương pháp tổng hợp, so sánh, khái quát và hệ thống hoá.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Với mục tiêu đã xác định trên, phạm vi của đề tài này chỉ nghiên cứu
những quan điểm chủ yếu nhất của Khổng Tử , Mạnh Tử, Tuân Tử về chính
trị, các quan điển đó ở trong các sách, báo, trong các bài viết về Nho giáo, các
tài liệu có sự phân tích về Nho giáo và ảnh hưởng của nó tới Việt Nam.
5. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở bài, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội
dung của đề tài có ba phần lớn:
I. Lịch sử phát triển và một số tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo.
II. Sự tiếp biến và ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho giáo ở Việt Nam.
III. Nho giáo với công cuôc đổi mới nước ta hiện nay.
3
(1)
– Lịch sử tư tưởng chính trị - NXB Chính trị Quốc gia, 4-2001, tr.28-31
4
tưởng gia đã khẳng định sự thống trị của quý tộc là do trời định, nhà vua là
"thiên tử", quản lí quốc gia theo mệnh trời.
- Chu: (thế kỉ XI - III trước công nguyên).
Người thành lập nhà Chu là Văn Vương, người có công tiêu diệt vua
Trụ bạo chúa nổi tiếng thời Thương. Trong hơn tám thế kỉ tồn tại, Triều Chu
được chia thành hai thời kì Tây Chu và Đông Chu, thời Chu nhìn chung xã
hội Trung Quốc tương đối ổn định từ 771 trước công nguyên nhà Chu rời đô
về Lạc Ấp, ở phía Đông nên gọi là Đông Chu. Thời Đông Chu tương ưng với
hai thời kì: Xuân Thu (772-481 trước công nguyên) và chiến Quốc (403 - 221
Trước công nguyên).
Thời Đông Chu là thời kì chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang
chế độ phong kiến. Đồ sắt được sử dụng rộng dãi, tạo nên cuộc cách mạng về
công cụ sản xuất. Hệ thống thuỷ lợi rất phát triển, tạo điều kiện cho nông dân
trồng lúa hai vụ, công cuộc khai hoang, khẩn hoá, mở rộng đất canh tác được
nhà nước khuyến khích. Các nghề khai khoáng, chế tác kim loại, làm muối,
làm thuỷ tinh... phát triển, theo đó xuất hiện các trung tâm buôn bán, đô thị
mở rộng hệ thống giao thông.
Trong xã hội, bên cạnh các giai cấp, tầng lớp xã hội cũ (quý tộc, nông
dân, thợ thủ công, nô lệ), đã xuất hiện những giai cấp tầng lớp mới là địa chủ,
thương nhân. Trước đây khi nhà Chu thịnh vượng thì đất đai thuộc nhà vua.
vào thời kì Chiến Quốc đất đai phần lớn thuộc địa chủ, sự phân hoá sang hèn
dựa trên cơ sở số lượng tài sản. đạo đức, trật tự xã hội suy thoái, đảo lộn, tình
trạng tôi giết vua, con giết cha, vợ giết chồng trở nên phổ biến, thời đại "lễ
ngài là Chúc Lương Ngật làm quan võ, lấy người vợ trước sinh được chín
người con gái, người vợ lẽ sinh được một người con trai tên là Mạch Bì,
nhưng lại tật què chân. Đến lúc gần già ông thân phụ mới lấy bà Nhan Thị
sinh ra ngài, ngày sinh vào mùa đông, tháng mười, năm Canh Tuất là năm thứ
21 đời vua Linh Vương nhà Chu, tức 551 trước Tây lịch kỉ nguyên, bà Nhan
Thị có lên núi Ni Khâu cầu tự cho nên khi sinh ra ngài mới nhân điềm ấy mà
đặt tên là Khâu tên tự là Trọng Ni, có sách chép rằng trán ngài cao và gồ lên
cho nên mới đặt tên là Khâu (nghĩa là gò)(1).
Sự hành chính của Khổng Tử
Năm thứ 19, đời vua Kinh Vương nhà Chu, bấy giờ Không Tử đã 51
tuổi, vua nước Lỗ mới dùng ngài làm quan Trung Đô Tể sau một năm thì ngài
làm Đại Tư Khấu, sau bốn năm vua nước Lỗ cất ngài lên làm Nhiếp Tướng
Sự. Chỉ 3 tháng sau thì việc chính trị được hoàn thành: đất nước ổn định và
cường thịnh lên(2).
Khổng Tử Đi Chu Du Thiên Hạ.
(1) , (2)
Theo sách Nho giáo - Trần Trọng Kim, NXB Văn học, H. 2003, tr.106
7
Do nước Lỗ cường thịnh, nên nước Tề dùng kế mê hoặc vua làm cho
vua xuốt ngày ăn chơi, bỏ trễ việc triều chính nên ngài chàn và bỏ đi. Ngài
sang nước Vệ, ở được mấy tháng, vua nước Vệ không dùng, ngài sang nước
Trần, chưa sang đến nơi gặp cướp lại quay về nước Vệ, sau đó người sang
nước Tống do quân Tư Mã muốn giết ngài nên ngài lại sang nước Trần, ở đây
được 3 năm ngài lại về nước Vệ được gần 3 năm lại sang nước Trần rồi lại
sang nước Thái, qua nước Sở lại về nước Vệ, lúc này ngài đã có tuổi nên sau
Lý tưởng chính trị của ông là xây dựng quốc gia Trung Quốc thông
nhất theo mẫu hình nhà Tây Chu, nhà nước đó, trên có thiên tử song vua phải
sáng tôi phải hiền,vua quan tâm chăm sóc dân như cha đối với con.
Quan niệm chung về chinh trị cũng như lý tưởng về chính trị được ông
triển khai theo phương pháp luận "Nhất Dĩ Nhi Quán Chi", (Lấy cái bao trùm
những cái khác), và lấy cái nội dung như dùng "Lễ", "Chính Danh", và
đạo"nhân" là các phương pháp cai trị
Quan niệm về "lễ trị"
"Lễ" là chuẩn mực ứng xử mang tính hình thức trong xã hội nói chung,
chính trị nói riêng. Khi thực hiện quan hệ, mọi người phải tuân theo "Lễ", và
chỉ có như vậy xã hội mới có trật tự thực hiện cai trị bằng vương đạo. Khổng
tử đề cao "Lễ" đến mức "nếu hiểu rõ giá trị của lễ giao (tế trời), lễ xã (tế đất)
và ý nghĩa của lễ đế (lễ các vua thời trước) thì việc cai trị như ngửa bàn tay ra
xem vậy " (Trung Dung), hoặc "biết dùng lễ thì cai trị khó gì" (lý nhân - luận
ngữ) : "bề trên thích lễ thì dễ sai khiến dân", (hiến vấn - luận ngữ). Lễ nhà
Tây Chu là hệ thống "Lễ"phong phú, phức tạp và nhiều khi giáo điều gò ép.
Đó là các loại lễ tế của dân thường cho tới thiên tử ; các quy định xe ngựa, vẻ
mặt khi giao tiếp, chỗ ngồi chỗ đứng, cách đi...theo ông "Lễ" quan trọng trong
việc cai trị vì các lý do sau: thứ nhất, nó quy định danh phận thứ bậc người
trong xã hội; thứ hai, lễ có tác dụng điều chỉnh hành vi con người trong quan
hệ ứng xử, "không học lễ, không có gì làm chỗ dựa " , (Quý thị - Luận ngữ):
thứ ba, "Lễ" có tác dụng hình thành thói quen đạo đức, thí dụ như con cho cha
mẹ ăn phải cung kính, nếu không cung kính thì khác nào cho chó ngựa ăn"
(cung kính dần thành thói quen ứng xử).
Quan niệm về "chính danh"
Theo ngài muốn cai trị trước hết phải chính danh, nghĩa là mọi vất phải
hợp với cai danh mà nó mang. Mỗi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm
và bổn phận, phù hợp với danh ấy. Chính danh là xác định rõ trật tự cai trị,
Kết luận: • Tư tưởng chính trị của ông có giá trị đạo đức cao là người
đầu tiên đề cập tới con người trên bình diện nhân dạo.
• Ông đề cao súc mạnh của đạo đức trong cai trị, song ông lại
tuyệt đối hoá nó. Với nguyên tắc chính trị của các triều đại phong kiến Trung
Quốc sau này lấy Nho giáo làm tư tưởng chính thống là hoàn toàn có cơ
sở.Học thuyết của ông còn ảnh hương tới nhiều nước trong khu vực và trên
thế giới: Nhật, Triều Tiên, Việt Nam ... ở những nội dung cụ thể khác nhau.
2.2 Mạnh tử (372 - 289 trước công nguyên)
Tiểu sử:
10
Phái Tăng Tử nước Lỗ, truyền đến cuối thế kỷ IV trước công nguyên,
thì có một nhà đại hiền triết đem nho giáo làm cho sáng hơn trước. Nhà hiền
triết ấy tên là Mạnh Kha, tự là Dư, người đất Châu, nay là huyện Châu, thuộc
tỉnh Sơn Đông tương truyền ông là học trò của Khổng Cấp (cháu nội Khổng
Tử), Khổng Cấp là học trò của Tăng Sâm,Tăng Sâm là học trò của Khổng Tử.
Theo sách "Mạnh tử phả" thì ông sinh vào ngày 2 tháng 4 năm thứ tư
đời vua Chu Liệt Vương (372 trước công nguyên) và mất vào 15 tháng 11
năm thứ 26 đời vua Chu Noãn Vương (289 trước Tây Lịch), lên 3 tuổi thì cha
mất, nhờ có mẹ hiền dạy dỗ sau theo học về phái Tử Tư, hiểu được rõ cái đạo
của Không Tử. Ông có tài hùng biện, thường đi du lịch nước Tề, nước Lương,
nước Tống, Đằng, muốn đem cái đạo của thánh nhân ra cứu đời nhưng cái
thủa ấy vua các nước chỉ lo việc chiến tranh, không ai để ý đến việc nhân
nghĩa. Sau đã gần già, ông thấy cái đạo không thi hành được, ông về nhà ở
với bọn môn đệ là Mạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu và Vạn Chương ghi chép
nhưng lời ông đã đối đáp với vua các nước chư hầu, hoặc với bọn môn đệ của
ông, cùng những lời phê bình, những sự chênh lệch của các học thuyết khác
mà làm thành bảy thiên sách "Tác phẩm của ông là Mạnh Tử, là một cuốn
trong bộ kinh điển "tứ thư".
trong thực tiễn chính trị, chính vì vậy học thuyết của ông không được phát tác
dụng với xã hội đương thời(1).
2.3 Tuân Tử (315 - 230 trước công nguyên)
Tiểu sử:
Tuân Tử tên là Huống tự là Khanh, người nước Triệu, ông sinh và mất
năm nào, sách không nói rõ, nhưng cứ theo sách "Sử ký" của Tư Mã Thiên,
thì ông đã 50 tuổi mời sang du học ở nước Tề. Các nhà khảo cứu đã tính ra
ông sinh vào quãng 315 và 310 trước Tây lịch, kém Mạnh Tử khoảng 60 tuổi,
đến quãng 265 và 260 thì ông sang nước Tề, cách mấy năm ông sang nước
Sở. Ông sống vào cuối thời Chiến Quốc, là thời kỳ cục diện chiến tranh "Thất
hùng" đi vào giai đoạn cuối xã hội loạn lạc, dân lành khổ sở vì chiến tranh.
Khi ở nước Sở ông là môn khách của Xuân Thân Quân từng giữ một số chức
quan như quan Tế Tửu nước Tề, huyện Lệnh Lang Lăng nước Sử khi Xuân
Thân Quân mất ông bỏ quan về nhà dạy học, viết sách. Ông có hai học trò nổi
tiếng là Lý Tư (Tể tướng nước Tần) và Hàn Phi (học giả nổi tiếng của phái
Pháp gia). Tuân Tử theo Nho học phát triển Nho học theo hướng đối lập với
Mạnh Tử về một số nội dung chính trị, triết học. Ông mất 230 trước Tây lịch,
thọ chừng 80 tuổi.
(1)
Mạnh Tử - theo sách lược tư tưởng chính trị - NXB Chính trị Quốc gia, 2001 – tr.92
12
Tác phẩm của ông
Trong số di sản ông để lại có cuốn " Tuân Tử" gồm 32 chương bàn về
những vấn đề chính trị, triết học, nhận thức.
Nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị.
Ông phát triển Nho giáo theo hướng đi sâu vào đời sống hiện thực, giải
13
II. Sự tiếp biến và ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho giáo ở
Việt Nam
.
1. Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam.
Vượt biên giới Trung Hoa, Nho giáo truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản và Việt
Nam, để hình thành một vành đai văn hoá Nho giáo, khi nghiên cứu sự xân
nhập của Nho giáo vào Việt Nam, tác giả Ngô Xuân Thảo, Nông Thị Mồng có
chung một nhận định: Hán Nho được du nhập vào Việt Nam từ những năm
cuối trước công nguyên, bằng những con đường khác nhau: một là: thông qua
con đường của những đội quân xâm lược được trang bị hệ tư tưởng Nho giáo;
hai là: thông qua con đường truyền giáo có tổ chức của đội ngũ quan chức
người Trung Quốc được cá triều đình phong kiến Trung Quốc phá thực hiện
ách thống trị Bắc thuộc ở Việt Nam, trong đó có Quang Tích, Nhâm Diên, Sĩ
Nhiếp... là những quan lại đã có nhiều nỗ lực trong việc truyền bá Nho giáo
tới Việt Nam; ba là: con đường của những thương nhân theo đường biển đưa
Nho giáo tới Việt Nam; bốn là: thông qua con đường của những dân cư tự do
người Trung Quốc có hành động chống lại triều đình và bị săn đuổi, đã di cư
tới Việt Nam để sinh sống. Sự di cư của những người dân Trung Quốc này
cũng góp phần đưa tư tưởng Nho giáo vào Việt Nam.
Trong các cách thức xâm nhập của Nho giáo vào Việt Nam thì co
đường truyền giáo có tổ chức của đội ngũ những quan lại người Trung Quốc
trong suốt thời kỳ Bắc thuộc là chủ yếu.Vì nó nằm trong chính sách chủ động
âm mưu đồng hoá của các triều đình phong kiến đối với Việt Nam.
2. Sự tiếp biến tư tưởng chính trị Nho giáo của người Việt Nam.
Nho giáo được người Việt Nam tiếp thu như thế nào? Tác giả Tô Xuân
nét, đồng quan điển với những nhà nghiên cứu về Nho giáo, trong cuốn "một
số vấn đề về Nho giáo Việt Nam" NXB chính trị QG 1999 của tác giả Nguyễn
Nam Thắng cho rằng: "Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ thời kỳ Bắc
thuộc, đến nước ta Nho giáo được dung hợp và hoà đồng theo cách nghĩ của
người Việt Nam". Từ khi được Việt Nam hoá, Nho giáo đã góp phần đáng kể
vào việc tạo dựng nền văn hiến Việt Nam, thành công cụ tề gia, trị quốc và
quan trọng hơn Nho giáo đã trở thành một thủ thuật chính trị để biểu đạt tư
tưởng yêu nước.
"Nhìn vào tư tưởng chính trị Việt Nam thì ta có thể thấy sự tiếp biến tư
tưởng chính trị Nho giáo của nhân dân ta diễn ra như thế nào qua từng giai
đoạn cụ thể"
2.1 Thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc:
(1)
Nghiên cứu khoa học: 1993 – 2003, NXB Chính trị Quốc gia, tr.92
15
Thời kỳ này hoàn toàn chưa chịu sự tác động của Nho giáo vì Nho giáo
chưa được du nhập vào nước ta.
2.2 Thơi kỳ đấu tranh chống Bắc thuộc:
Đây là thơi kỳ nô lệ kéo dài hơn một nghìn năm (từ 179 trước công
nguyên đến 938) kể từ khi Triệu Đà xâm chiếm và chia nước Âu Lạc thành
hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, Xâm chiếm nước ta xong ổn định tình hình
và cho mở các lớp dạy tiếng Hánnhằm đào tạo đội ngũ quan lại phục vụ cho
chính quyền đô hộ, rồi truyền bá Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo ... vào nước
ta. Lúc đầu, Nho giáo là công cụ của bọn đi xâm lược, áp bức nhân dân ta nên
không được nhân dân ta tiếp nhận hơn nữa nó không phù hợp với một chế độ
xã hội vừa thoát thai từ chế độ Lạc Hầu - Lạc Tướng, sau một thời gian làm
xét hai đại biểu có tư tưởng chính trị ảnh hưởng của học thuyết Nho giáo:
Trần Quốc Tuấn: (1228 - 1300)
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là vị tổng chỉ huy quân đội nhà Trần
trong kháng chiến chống quân Nguyên, là anh hùng kiệt xuất của dân tộc ta.
Ngoài tài thao lược quân sự, ông còn là nhà tư tưởng lớn, các tác phẩm: Binh
thư yếu lược. Vạn kiếp tông bí truyền thư, Hịch tướng sĩ, là những anh hùng
văn chắt lọc, đúc kết từ chính cuộc đời chiến đấu của ông; là cống hiến vị đại
vào binh pháp, đường lối quân sự nước nhà. Hịch tướng sĩ còn thể hiện tư
tưởng yêu nước, quyết tâm đánh giặc của ông. Đứng trước quân Nguyên thiện
chiến, tàn bạo và hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, Trần Quốc Tuấn đã
đánh tan tư tưởng sợ địch phát huy tư tưởng quyết chiến, quyết thắng trong
binh sĩ và nhân dân.
Tư tưởng chính trị của ông thể hiện qua đường lối chiến lược, chiến
thuật, nổi bật nhất là tư tưởng "khoan dân":
Trần Quốc Tuấn chủ trương thân dân, dựa vào dân để đánh giặc giữ
nước, theo ông triều đình phải thi hành chính sách "khoan thư sức dân, quan
tâm đến đời sống của dân, ông hiểu rằng không thể thắng địch nếu chỉ dựa
vào quân đội, vũ khí mà còn phải dựa vào dân" con chim hồng hạc kia bay
được cao là nhờ có sáu xương trụ cứng, nếu không cũng chỉ như chim thường
mà thôi".
Khoan dân là dưỡng dân, sử dụng hợp lý sức dân vì đó là "kế sâu gốc
bền rễ là thượng sách để giữ nước"
Ông có khả năng thu phục dân, huy động sức dân bằng nhân dân, công
tâm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, ông tiễn cử với vua những
vị tướng tài: Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão.
17
Khoan dân là biết lăng nghe tâm tư nguyện vọng của dân, ông còn biết
kết hợp hài hoà quền lợi của dân với quyền lợi của giai cấp phong kiến, đó là
18
Nguyễn Trãi "yêu dân là điều kiện đẻ ổn định xã hội, "nhân nghĩa" là lòng
thương người, sự khoan dung với kẻ lầm đường lạc lối. Nếu họ cải tà quy
chính thì "cả nhà lớn bé đều được bình yên vô sự".
"Nhân nghĩa" là trừ bạo, đánh đuổi ngoại xâm. Dân là người bị đau khổ
nhất trong cảnh áp bức bóc lột của giặc Minh "thui dân đen trên lò bạo ngược,
hãm con đỏ dưới hố tai ương" - Song "đồ binh là thứ không bạo, đánh nhau là
việc nguy hiểm, thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng đến".
Nhân đạo, yêu hoà bình là nét đặc sắc tronh tư tưởng "nhân nghĩa" của
Nguyễn Trãi: khi kẻ thù đã thua, muốn sống thì "thần vũ không giết, ta thể
lòng trời để tỏ hiếu sinh" mà cấp thuyền, cấp ngựa cho lũ bại binh rút chạy về
nước, nhân dân ta không những đấu tranh vì hạnh phúc của chính mình, mà
còn vì cuộc sống của người Hán. Nếu quân Minh lui quân thì "không những
may riêng cho một địa phương Giao Chỉ mà cũng là may chung cho cả thiên
hạ, nhân dân" (thư gửi Vương Thông). Vậy nhân nghĩa là chủ nghĩa nhân đạo
cao cả, toàn diện. "Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường
bạo".
Nhân nghĩa là phải xem dân là gốc nước, dân có quan hệ tới sự an nguy
của triều đại. Nguyễn Trãi đã tổng kế thực tiễn: Sự thất bại của nhà Hồ là do
phải đánh giặc một mình vì "lòng dân không theo", giặc Minh tàn ác bị dân
căm hờn mà bị tiêu diệt. Ông khuyên nhủ các vua: "'Mến người có nhân là
dân, mà chở thuyền và lật thuyền cũng la dân". Đất nước thái bình nhân dân
no đủ, vua thánh tôi hiền" là lý tưởng chân lý của ông.
Nhận xét về tư tưởng nhân nghĩa cuả Nguyễn Trãi tác giả Lê Bỉnh nhấn
mạnh rằng: " tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là nét độc đáo trong Việt
Nam hoá nho giáo". Sinh thời Nguyễn trãi, tựu nho giáo .Tuy nhiên ông đã
không họ nho giáo với kiểu sao chép, giáo điều mà trên tỉnh trần dân tộc và
dân chủ, với năng lực tư duy dộc lập, sáng tạo sắc sảo. Ông đã Việt Nam hoá
giáo không trở thành tư tưởng chính và có xu hướng mờ nhạt dần. Tuy có Nho
giáo trong cung cách ứng xử gia đình vẫn tồn tại bền vững và phổ biến cho
đến tận ngày nay.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh - (Người tiếp biến sáng tạo Nho giáo)
Hồ Chí Minh là một tấm gương thật suất sắc trong việc tiếp biến tư
tưởng chính trị của Nho giáo.
"Đối với Nho giáo Hồ Chí Minh nhận thấy sự bất lực của nó đối với
cách mạng Việt Nam nên Người đã phủ định Nho giáo, song đây là một sự
phủ định biện chứng. Hồ Chí Minh đã không thể không gạt bỏ Nho giáo trên
con đường cứu nước của mình, những người đã không "Đổ chậu nước bẩn
20
cùng đứa trẻ" mà Người đã cương quyết gạt bỏ những cái cốt lõi lạc hậu của
Nho giáo, để rồi sau đó giữ gìn và phát huy những yếu tố hợp lý của Nho giáo
nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng”(1).
Người đã kế thừa những tư tưởng chính trị tốt đẹp của Nho giáo như:
Thấy được sức mạnh của nhân dân, một nhà nước do dân, "Gốc có
vững thì cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân". Người khẳng định
nhân dân là nguồn gốc của quyền lực nhà nước, "nước ta là nước dân chủ, bao
nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều vì dân.
Người đã sử dụng những khái niện, phạm trù của Nho giáo với nội
dung mới, trình độ mới để biểu đạp tư tưởng yêu nước và việc tuyên truyền
của chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta.
Người đã nêu ra những hệ giá trị đạo đức cao cả nhân đạo như: nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín...và chính bản thân người cũng là tấm gương sáng ngời về
đạo đức cách mạng. Người có những nhận định có giá trị là kim chỉ nam cho
chúng ta nghiên cứu nho giáo để áp dụng vào xây dựng bộ máy nhà nước, các
phương thức quản lý nhà nước, cán bộ,công chức nhà nước...mà đang đặt ra
nhưng vấn đề cần quan tâm nghiên cứu để áp dụng vào việc đổi mới.
con người và nhiều mặt khách. Đó là những mặt thời nào chúng ta cũng phải
chú ý .
2. Kế thừa và phát huy những giá trị của nho giáo trong công cuộc
đổi mới đất nước.
2.1 Kế thừa và phát triển tư tưởng chính trị của nho giáo trong vấn đề
quản lý nhà nước.
Hiện nay, trong nội dung tư tưởng triết học Trung quốc cổ đại có những
quan điểm về vấn đề quản lý nhà nước được nhiều nhà nghiên cức khai thác
để kế thừa và vận dụng vào việc quản lý nhà nước hiện đại. Nhiều quốc gia
Châu Á đã nghiên cứu và vận dụng thành công một số hạt nhân trong các triết
học Trung Quốc cổ đại đặc biệt là triết học của nho giáo trong những thật kỷ
gần đây, tại nhiều nước Châu Á: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapo
là những nước có truyền thống nho giáo phát triển với tốc độ chưa từng có sự
phát triển nhanh chóng về các mặt kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật. Nhiều
nhà khoa học đã phân tích rằng chính nho giáo là nhân tố thúc đẩy của những
nước này. Người ta phân tích rằng nhờ nho giáo mà nhân dân tôn trọng kỷ
luật và trận tự, được sợ giàng buộc nghiêm khắc của lễ giáo trong quan hệ gia
đìnhvà xã hội và có thái độ trung thành và tín nhiệm với chế độ và xí
nghiệp(1). Các tư tưởng của nho giáo về "nhân trị" về "quân tử" với tư cách là
người cầm quyền đang được khai thác và vận dụng trong việc quản lý nhà
nước ở nước này.
(1)
Vũ Khiêu – Nho giáo và phát triển ở Việt Nam, NXB Khoa học - xã hội 1997, tr.22-23
22
Ở Việt Nam trong truyền thống, các tư tưởng triết học Trung Quốc cổ
(1)
Vấn đề quản lý Nhà nước trong triết học Trung Quốc cổ đại, NXB TPHCM 2002 - Nguyễn Anh Tuấn, tr.138
23
Thứ nhất: Một nhà nước do dân, vì dân, các chính sách quản lý nhà
nước phải phat huy được sức mạnh của nhân dân: tư tưởng trên được rút ra từ
tư tưởng "nhân trị ","đức trị " trong Nho giáo, thực chất đây chính là những tư
tưởng về Nhà nước vì dân, đây là tư tưởng mà vẫn còn giá trị đối với chúng ta
ngày nay...
Điều 2: Hiến pháp Việt Nam đã khẳng định nhà nước Việt Nam là nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, vậy nó phù hợp
với nội dung tư tưởng Nho gia.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh, người đã thấm nhuần các giá trị tiến bộ của tư
tưởng Nho giáo, đã sớm chỉ ra cho chúng ta thấy sức mạnh của nhân dân một
nhà nước do dân: "gốc có vững thì cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền
nhân dân". Người cũng đã dạy phải lấy dân làm gốc. Đó là sự kế thừa các giá
trị tiến bộ của các nhà tư tưởng đi trước. Nhưng người xưa mới chỉ thấy sức
mạnh của nhân dân, mà chưa thấy nhân dân là người chủ quyền cai trị, tức là
quyền lực nhà nước, Chủ Tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở thấy được sức mạnh to
lớn của nhân dân đã đi đến khẳng định rằng, nhân dân là nguồn gốc của
quyền lực nhà nước : "nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân,
bao nhiêu quyền hạn đèu của dân ".
Như vậy trong nhà nước ta, nhân dân không những là một sức mạnh to
lớn, mà con là nguồn gốc của quyền lực nhà nước.Do vậy, mọi công việc của
nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, xuất phát từ ý nguyện của nhân dân.
Còn trách nhiệm của người cầm quyền là phải làm "người đầy trung thành của
nhân dân".
nhất giữa ý trí của nhà nước và ý trí của nhân dân không thể thiếu cơ chế thực
hiện trưng cầu dân ý. Ở nước ta, thể chế trưng cầu dân ý được khẳng định
ngay trong bản hiến pháp đầu tiên qua quy phạm về phúc quyết : "nhân dân
có quyền phúc quyết về hiến pháp và những vấn đề liên quan đến vận mệnh
của quốc gia, theo điều thứ 32 và 70". Hiến pháp hiện hành cũng thừa nhận
thể chế này qua quy định về thẩm quền của quốc hội quyết định việc trưng
cầu dân ý tại điều 84, tuy nhiên trên thực tế ở Việt Nam chưa có cuộc trưng
cầu dân ý nào, mặc dù pháp luật thừa nhận song thiếu cơ sở pháp lý cụ thể
cho việc thực hiện quyền bỏ phiếu trưng cầu của nhân dân. Trong một cơ chế
dân chủ hiện đại, nhà nước pahỉ phát huy trí tuệ của nhân dân. Một nhà nước
biết lắng nghe và học hỏi dân, biết bồi dưỡng và nâng cao dân thì sẽ thấy dân
không chỉ nói lên điều mình mong muốn mà còn làm sáng tỏ trí tuệ của mình,
gợi ý và chỉ ra rằng cần luật lệ gì? và luật lệ ấy phải có nội dung như thế nào,
cơ quan nhà nước phải giải quyết các vấn đề quốc tế dân sinh ra. Để quyền bỏ
25