VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGUỒN
TƢ TƢỞNG TRỊ NƢỚC CỦA CÁC VỊ VUA
GIA LONG, MINH MỆNH, THIỆU TRỊ VÀ Ý NGHĨA
LỊCH SỬ CỦA NÓ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGUỒN
TƢ TƢỞNG TRỊ NƢỚC CỦA CÁC VỊ VUA
GIA LONG, MINH MỆNH, THIỆU TRỊ VÀ Ý NGHĨA
LỊCH SỬ CỦA NÓ
Ngành: Triết học
Mã số: 9 22 90 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. LÊ THỊ LAN
2.1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XIX................................................. 31
2.1.1. Tình hình chính trị .................................................................................... 31
2.1.2. Tình hình kinh tế....................................................................................... 42
2.1.3. Tình hình văn hóa, tư tưởng ..................................................................... 47
2.1.4. Tình hình xã hội ........................................................................................ 49
2.2. Những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng trị nước của các vị
vua đầu triều Nguyễn .......................................................................................... 55
2.2.1. Lãnh thổ thống nhất .................................................................................. 55
2.2.2. Học thuyết chính trị Nho giáo .................................................................. 57
2.2.3. Vai trò xã hội của tầng lớp nho sĩ thời kỳ đầu nhà Nguyễn ..................... 59
2.3. Đôi nét về tiểu sử của các vị vua đầu triều Nguyễn. ................................... 62
Chƣơng 3: NHỮNG NỘI DUNG TƢ TƢỞNG TRỊ NƢỚC CƠ BẢN CỦA
CÁC VỊ VUA GIA LONG, MINH MỆNH VÀ THIỆU TRỊ .............................. 66
3.1. Xây dựng hệ tư tưởng chính trị ................................................................... 66
3.2. Tư tưởng về tổ chức và xây dựng bộ máy nhà nước ................................... 81
3.3. Những chính sách trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn ...................... 91
3.3.1. Chính sách kinh tế .................................................................................... 91
3.3.2. Chính sách an ninh - quốc phòng ............................................................. 98
3.3.3. Chính sách văn hóa - tư tưởng ................................................................ 101
3.3.4. Chính sách giáo dục - khoa cử................................................................ 102
3.3.5. Chính sách tôn giáo ................................................................................ 106
3.3.6. Chính sách ngoại giao ............................................................................ 111
Chƣơng 4: GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ TƢ
TƢỞNG TRỊ NƢỚC CỦA CÁC VỊ VUA GIA LONG, MINH MỆNH VÀ
THIỆU TRỊ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI NƢỚC TA
HIỆN NAY ............................................................................................................. 121
4.1. Giá trị và hạn chế trong tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn ... 121
4.1.1. Giá trị ...................................................................................................... 121
hội và tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước được coi là thời kỳ có một nền
pháp luật hoàn bị nhất thời kỳ phong kiến Việt Nam.
Trong lịch sử khi bàn về đạo trị nước thì các nhà Nho ở nước ta cũng
đã đề cập đến như quan niệm về dân, vai trò của dân và đạo làm vua, đạo của
bề tôi và mối quan hệ giữa vua - tôi... Những quan điểm của các nhà Nho ở
nước ta cũng chịu ảnh hưởng từ quan niệm của các nhà Nho ở Trung Quốc.
Mặc dù những quan niệm này được xây dựng dựa trên những yêu cầu từ thực
tiễn của dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Chính vì vậy, những tư tưởng của các
1
nhà Nho Việt Nam cũng góp phần không nhỏ vào trong công cuộc xây dựng
đất nước, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội phong kiến ở Việt Nam lúc
bấy giờ với những ý nghĩa hết sức tích cực.
Từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến tư
tưởng chính trị - xã hội của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị.
Thế nhưng, tư tưởng trị nước vẫn chưa được đề cập, ngay cả khái niệm tư
tưởng trị nước cũng chưa được đề cập một cách rõ ràng, có nhà nghiên cứu
khi đề cập đến tư tưởng trị nước lại cho rằng đó thực chất là trị quan. Quá
trình nghiên cứu chúng tôi cho rằng, đề cập đến tư tưởng trị nước là tư tưởng
về đường lối quản lý, xây dựng phát triển đất nước, quản lý bộ máy nhà nước.
Chính vì vậy, trong lịch sử thì tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều
Nguyễn có ảnh hưởng rất lớn đối với toàn bộ quá trình lãnh đạo của triều đại
nhà Nguyễn trong lịch sử và cả giai đoạn xây dựng đất nước sau này. Ngoài
việc xây dựng bộ Hoàng Việt luật lệ (hay là Luật Gia Long) và trên cơ sở của
nó là một loạt các định chế về hành chính và quân sự đã làm cho triều Nguyễn
có một bộ máy nhà nước mạnh trong khu vực. Các vị vua triều Nguyễn là những
người biết kế thừa các thành quả về trị nước của các triều đại phong kiến trước
đó, đồng thời thiết lập các chế định mới cho bộ máy quan lại cũng như quyền và
với đời sống xã hội nước ta hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng: Phương pháp phân tích - tổng
hợp, phương pháp lôgic - lịch sử, phương pháp so sánh - đối chiếu….
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích:
Làm rõ những nội dung căn bản trong tư tưởng trị nước của các vị vua
Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đầu triều Nguyễn, từ đó nêu những giá
trị, hạn chế và bài học lịch sử của tư tưởng đó đối với việc xây dựng đường
lối chính trị - xã hội nước ta hiện nay.
3
3.2. Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích nói trên, luận án cần tập trung giải quyết các
nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phân tích, làm rõ bối cảnh lịch sử và những tiền đề cơ bản cho
sự ra đời tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
Thứ hai, trình bày nội dung cơ bản trong tư tưởng trị nước của các vị
vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
Thứ ba, chỉ ra những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử trong tư tưởng
trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu.
* Đối tƣợng nghiên cứu: Là tư tưởng trị nước của các vị vua Gia
Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
*Phạm vi nghiên cứu: Là tư tưởng trị nước qua các tác phẩm của vua
Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị từ năm 1802 - 1847, các bộ sử, cũng như
các công trình nghiên cứu về tư tưởng đó của các học giả trong và ngoài nước
từ trước tới nay.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. Các công trình nghiên cứu về bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội
triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX
Trong thời kỳ này, nhìn một cách tổng thể đặc biệt là giai đoạn đầu
triều Nguyễn thì các vị vua như Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị đều là
những người có quyết tâm xây dựng vương triều, chú trọng đào tạo và tuyển
chọn nhân tài cho đất nước. Nửa đầu thế kỷ XIX (từ khi nhà Nguyễn thành
lập 1802 cho đến khi Pháp xâm lược 1858) được xem là thời kỳ nhà Nguyễn
củng cố quyền lực không chỉ bằng những biện pháp hành chính, mà cả về hệ
tư tưởng mang tính ý thức hệ dựa trên nền tảng của Nho giáo nhằm thiết lập
và duy trì trật tự xã hội. Có thể khái quát một số công trình cụ thể tiêu biểu về
kinh tế, chính trị, xã hội như sau:
Các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam nói chung và giai đoạn
đầu của triều Nguyễn nói riêng, như cuốn “Lịch sử Việt Nam” (Lịch sử Việt
Nam thế kỷ XIX), Nxb Khoa học xã hội do GS. Nguyễn Khánh Toàn chủ
biên; cuốn “Lịch sử cận đại Việt Nam”, tập 1, Nxb Giáo dục, 1960, do các tác
giả như Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự biên soạn và cuốn
“Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” (Từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ
XIX), tập III, Nxb Giáo dục, 1965, do các tác giả như Phan Huy Lê, Chu
Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm biên soạn. Các công trình này
đều có cách tiếp cận và một số quan điểm đánh giá tương đồng do những yêu
cầu của thực tiễn đất nước lúc bấy giờ. Trong những công trình này, các tác
giả cho rằng: “Sau khi đánh thắng Tây Sơn, trên cơ sở nước nhà được thống
nhất rộng lớn, về mặt cai trị được tổ chức chặt chẽ hơn, có đủ khả năng để
phát triển sản xuất, đáng lẽ nhà cầm quyền phải nhận những điều kiện thuận
7
bảo thủ và không có tư tưởng canh tân đất nước. Đây được xem là công trình
tham khảo cho giới nghiên cứu lý luận khi đưa ra những đánh giá về thành
tựu và hạn chế mà triều đình nhà Nguyễn đã mang lại.
Tác giả Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Đàn thì trong“Lịch sử Việt Nam
từ nguồn gốc đến năm 1858”, NXB Đại học sư phạm Hồ Chí Minh, xuất bản
năm 1993 lại đề cập đến việc đào tạo và sử dụng quan lại, tình trạng tham
nhũng của quan lại bị nhà vua trừng trị vào thời kỳ nhà Nguyễn. Mặc dù vậy,
theo tác giả thực chất là việc bao che cho quan lại và tránh đưa ra xét xử các
vụ án hối lộ vẫn còn diễn ra ở thời kỳ này. Hạn chế của công trình này là
người đọc rất khó theo dõi và hiểu tường tận về các vấn đề vì công trình
không có các chương mục cụ thể trong quá trình khảo cứu.
Công trình nghiên cứu rất đồ sộ của tác giả Alexander Barton
Woodside với tên gọi “Việt Nam và hình mẫu Trung Hoa nghiên cứu so sánh
về chính quyền dân sự nhà Nguyễn và nhà Thanh nửa đầu thế kỷ XIX”, bản
dịch tiếng Việt, công trình xuất bản năm 1971, tại Harvard University Press
Cambridge, Massachusetts. Những nội dung liên quan nhiều nhất đến luận án
chủ yếu ở chương II với nội dung là đề cập đến chính quyền dân sự trung
ương nhà Nguyễn và nhà Thanh, còn chương IV thì tác giả đề cập đến nền
giáo dục và khoa cử thời kỳ nhà Nguyễn ở Việt Nam, và trong chương V
được khái quát bằng bức tranh giao thương vào giai đoạn trị vì của nhà
Nguyễn đặc biệt là thời kỳ trị vì của vua Minh Mệnh . Trong tác phẩm này tác
giả tập trung đề cập đến văn hóa Trung Hoa và những hạn chế của nó đối với
đời sống chính trị, văn học, xã hội và giáo dục ở Việt Nam. Tác giả tập trung
nghiên cứu chủ yếu giai đoạn xã hội Việt Nam từ sau năm 1802, giai đoạn mà
theo tác giả là thời kỳ “khôi phục” của nhà Nguyễn.
Nhà nghiên cứu GS. Trần Văn Giàu với công trình “Sự phát triển của
năng thống nhất lãnh thổ, thế quyền và giáo quyền trong bộ máy Nhà nước.
Tác phẩm được xem như bài học kinh nghiệm cho những người quản lý trong
công tác cải cách hành chính, xây dựng một xã hội ngày càng phát triển tốt
đẹp hơn.
9
Tác giả Đỗ Bang với rất nhiều công trình đề cập đến giai đoạn này, thì
trong “Thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn” cũng của tác giả, do
NXB Thuận Hóa phát hành, ra đời vào năm 1997. Trong chương 2 của tác
phẩm này tác giả đã đề cập đến chính sách thương nghiệp của triều Nguyễn.
Đồng thời tác giả cũng đánh giá cao vai trò của các vua quan triều đình nhà
Nguyễn, trong việc nhận thức được tầm quan trọng của ngoại thương nhất là
việc trao đổi mua bán với các nước trong khu vực đặc biệt là kinh tế hàng
hóa. Tuy nhiên, theo tác giả triều đình nhà Nguyễn cũng có một số sai lầm đó
là chưa có chính sách khuyến khích cụ thể đối với thương nhân trong việc
thực thi chính sách về ngoại thương. Từ đó cũng đã làm hạn chế sự phát triển
của nền kinh tế đất nước vào thời kỳ này.
Tác phẩm “Việt Nam thế kỷ XIX” của Nguyễn Phan Quang, do NXB
Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản 1999, gồm 458 trang, ông cũng là một nhà
nghiên cứu có rất nhiều công trình đề cập đến giai đoạn trị vì của nhà
Nguyễn, trong công trình này thì tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến lĩnh vực
thương nghiệp. Theo tác giả thì triều đình nhà Nguyễn mặc dù có nhiều cố
gắng nhưng chính sách nội thương chưa đủ mạnh để thúc đẩy việc phát triển
nền kinh tế hàng hóa. Bên cạnh đó, tác giả cũng cho rằng triều Nguyễn có hạn
chế trong chính sách ngoại thương đó là việc không ký kết các hiệp ước
thương mại, thực hiện chính sách “trọng nông ức thương” làm kìm hãm sự
phát triển của đất nước.
Tác giả Trần Vũ Tài với tác phẩm “Quốc sử quán triều Nguyễn - từ góc
hội thảo này được đánh giá có bước đột phá, là hội thảo mang nhiều dấu ấn học
thuật. Những bài viết của hội thảo này đã trở thành căn cứ để các nhà khoa học
đứng trên quan điểm lập trường của mình để đánh giá về triều Nguyễn, nó vừa là
tác nhân, vừa là sản phẩm của lịch sử xã hội. Chính vì vậy, khi đánh giá phải
đứng trên quan điểm lập trường lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để xem xét
các hiện tượng lịch sử ấy đã được hình thành và phát triển như thế nào mới thấy
được giá trị khoa học của nó. Đặc biệt là còn thấy được công lao đóng góp của
các thế hệ đi trước và có cái nhìn nhận một cách xứng tầm.
11
GS. Phan Huy Lê với công trình “Lịch sử Việt Nam” tập II, làm chủ
biên, NXB. Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2003 là công trình tập
hợp và đánh giá tình hình đất nước từ đầu thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX.
Đặc biệt trong đó có phần “Đại Nam thời Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX” tác giả
đã trình bày rất rõ nét về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng của
triều đình nhà Nguyễn nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung. Trong đó, tác
giả còn nêu lên những mặt tích cực của vương triều Nguyễn như: “Từ Gia
Long đến Minh Mạng, bộ máy cai trị của nhà Nguyễn ngày càng hoàn thiện,
có thêm có bớt nhưng nhìn chung không cồng kềnh, thậm chí có thể coi là
gọn nhẹ”[45, tr.418]. Thông qua công trình này tác giả Phan Huy Lê cũng
đánh giá cao bộ máy của triều đình nhà Nguyễn, tác giả cho rằng giai đoạn
này đã đóng góp to lớn cho lịch sử nước nhà.
Ngoài ra, sau thời kỳ đất nước đổi mới, hội thảo “Chúa Nguyễn và
vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” vào
ngày 18/10/2008 đã có cách nhìn khách quan và khoa học hơn đối với triều
Nguyễn. GS. Phan Huy Lê đã nhận định trong trang 11 của kỷ yếu hội thảo:
“Thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn từ thế kỷ XVI đến thế kỷ
XIX là một thời kỳ lịch sử đã trải qua những cách nhìn nhận và đánh giá hết
1858)” trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, vào tháng 10 năm 2012. Theo
tác giả, lịch sử ra đời của đạo Thiên chúa giáo cách đây rất lâu rồi từ thế kỷ I
tại đế quốc Roma cổ đại. Cùng với đó là quá trình du nhập vào Việt Nam qua
việc truyền bá của một số giáo sĩ, đặc biệt là giám mục Bá Đa Lộc và cuộc
hội ngộ với vua Gia Long (Nguyễn Ánh) sau này đã giúp ông lập nên vương
triều. Cũng theo tác giả, do biết ơn sự giúp đỡ của người Pháp đặc biệt là mối
quan hệ gần gũi, thân mật với vị giám mục Bá Đa Lộc mà việc truyền giáo
cũng diễn ra hết sức thuận lợi. Tuy nhiên, việc chọn người kế vị là hoàng tử
Đảm lên ngôi của ông đã không nhận được sự đồng tình của người Pháp. Mặc
dù vậy, ông luôn là người dung hòa mối quan hệ với người Pháp, nên Gia
Long đã khéo léo ngăn chặn việc phát triển của đạo Thiên chúa vì biết rất rõ
mối đe dọa lớn lao đối với độc lập chủ quyền của đất nước. Đến thời kỳ trị vì
13
của vua Minh Mạng thì chính sách “bài đạo” đã được thực hiện, đây cũng là
nguyên nhân làm ảnh hưởng đến mối quan hệ của nước ta với Pháp. Chính
sách “cấm đạo” với 5 chỉ dụ của ông đã dẫn đến những hệ lụy sau này, làm
gay gắt thêm tình hình và ảnh hưởng không nhỏ tới quan hệ ngoại giao với
nước Pháp. Tới thời kỳ trị vì của vua Thiệu Trị và Tự Đức thì chính sách cấm
đạo của vua cha vẫn tiếp tục được duy trì, và càng ngày càng trở nên gay gắt.
Người Pháp cũng lợi dụng chính sách cấm đạo để can thiệp vũ trang vào nước
ta. Tuy nhiên, theo tác giả khi nhận định về chính sách cấm đạo, bế quan tỏa
cảng của nhà Nguyễn cần phải có cái nhìn khách quan, vì trong bối cảnh
muốn giữ vững chủ quyền của dân tộc trước họa xâm lược của thực dân
phương Tây lợi dụng chính sách truyền giáo.
Tác giả Lê Thị Lan với bài viết “Các đặc trưng của tư tưởng triết học
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX”, tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8 (93),
ra đời vào năm 2015. Trong bài viết của mình, tác giả đã đề cập đến vào nửa
trình bày từ giai đoạn vương triều nhà Nguyễn được thành lập đến thời điểm
thực dân Pháp chính thức nổ súng mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam, từ năm
1802 đến năm 1858. Một số công trình trước đây thường đánh giá về triều
đại nhà Nguyễn một cách phiến diện, một chiều, phủ nhận công lao của thời
kỳ này. Tuy nhiên, tác giả lại có cái nhìn khách quan, mới mẻ hơn khi đánh
giá về triều đại nhà Nguyễn - theo tác giả thì bên cạnh hạn chế của thời kỳ
này thì không thể phủ nhận những đóng góp không nhỏ đối với lịch sử dân
tộc, nhất là việc thống nhất non sông bờ cõi từ Bắc vào Nam, thiết lập bộ
máy hành chính nhà nước, mở rộng biên giới ở khu vực phía Nam… Tóm
lại, công trình này được đánh giá là tâm huyết của tập thể các nhà khoa học,
được kết cấu theo từng chương rất rõ ràng xuyên suốt theo dòng lịch sử của
Việt Nam từ thời kỳ sơ khai cho đến giai đoạn đất nước độc lập, non sông
thu về một mối.
Gần đây nhất là công trình “Đạo đức Nho giáo với đạo đức Việt Nam
hiện nay” của PGS.TS. Nguyễn Thanh Bình, năm 2018. Thông qua tập tài
liệu này tác giả có cách nhìn nhận về Nho giáo ở Việt Nam vào thời kỳ trước
15
đây, trong đó có cả giai đoạn trị vì của nhà Nguyễn và giai đoạn hiện nay như
thế nào. Đồng thời, theo tác giả thì giai đoạn nào cũng vậy, vấn đề đạo đức có
vai trò hết sức quan trọng cho nên cần phải nâng cao giá trị đạo đức đối với
các thế hệ đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Nhìn chung các công trình trên đây vẫn còn gây nên những tranh luận
trái chiều về công và tội của các vị vua đầu triều Nguyễn, những quan điểm
của một số tác giả phủ nhận công lao của thời kỳ này còn có những công trình
gần đây nhất thì đã có sự nhìn nhận khách quan về đóng góp của các vị vua
đầu triều Nguyễn vào thời kỳ này. Có thể nói, khái quát những công trình cơ
bản về bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội triều Nguyễn vào nửa đầu thế kỷ
Hà Nội, 1997, do Lê Sỹ Thắng chủ biên. Đây được xem là công trình nghiên
cứu hết sức công phu về nghiên cứu tiến trình lịch sử tư tưởng Việt Nam thế
kỷ XIX. Theo tác giả, thế kỷ XIX được chia thành hai giai đoạn đó là việc
thiết lập triều Nguyễn sau khi Nguyễn Ánh đánh bại vương triều Tây Sơn và
giai đoạn tiếp theo được ghi dấu là từ năm 1858 đến khi thực dân Pháp mở
đầu cuộc chiến xâm lược nước ta, kết thúc vào năm 1896 với sự thất bại của
cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng. Thông qua công trình này tác giả cho
rằng các vua đầu triều Nguyễn đều là những người uyên thâm Nho giáo, có
công rất lớn trong việc đào tạo, tuyển chọn và bồi dưỡng nhân tài cho đất
nước. Do đó, ở thời kỳ này tầng lớp Nho học đã phát triển mạnh mẽ cả về số
lượng và chất lượng. Cũng theo tác giả, khi nghiên cứu tiến trình lịch sử tư
tưởng Việt Nam thế kỷ XIX là tìm hiểu về những biến đổi hết sức quan
trọng của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Đồng thời, cũng có một số điểm cần
chú ý như bước vào thế kỷ XVIII đã được đánh dấu bằng một bước tiến, một
sự phong phú tương đối của lịch sử tư tưởng Việt Nam so với các thế kỷ
trước, mặc dù sự tồn tại của nó ở giai đoạn này vẫn còn nằm trong khuôn
khổ hệ tư tưởng phong kiến.
Một số công trình như “Nho học và Nho học ở Việt Nam – một số vấn
đề lý luận và thực tiễn” của GS. Nguyễn Tài Thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà
17
Nội, năm 1997 thì lại có sự nhìn nhận một cách thẳng thắn đối với Nho giáo
triều Nguyễn, ông cũng phủ định sạch trơn những đóng góp của Nho giáo
triều Nguyễn và đưa ra nhận định: “Nho giáo triều Nguyễn là một tập đại thành
những tư tưởng duy tâm phản động trong lịch sử của Nho giáo”[85, tr.515]. Có
thể nói, khuynh hướng nghiên cứu này của tác giả theo các nhà nghiên cứu là
cách đánh giá được xem là sự nhìn nhận trái chiều của ông khi đề cập đến những
công lao, đóng góp của triều đại nhà Nguyễn về tư tưởng Nho giáo.
giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mạng” vào năm 2002 của Nguyễn
Hoài Văn và công trình “Lịch sử nhà Nguyễn - một cách tiếp cận mới” vào
năm 2011, Nxb. Đại học sư phạm do nhóm tác giả gồm Đỗ Thanh Bình,
Nguyễn Ngọc Cơ, Phan Ngọc Liễn biên soạn đã trình bày một số vấn đề về
công tác hành chính dưới triều vua Minh Mệnh. Các tác giả cũng chỉ ra cho
chúng ta thấy một cách tiếp cận mới về triều đại phong kiến cuối cùng của
Việt Nam. Công trình này có nhiều bài viết đã nghiên cứu trình bày tư tưởng
của vua Minh Mệnh ở nhiều khía cạnh tiếp cận hết sức khác nhau, do đó nó
cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Công trình “Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước
đến đầu thế kỷ XX” do PGS.TS. Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị Quốc
gia - Sự thật, Hà Nội, vào năm 2013. Cuốn sách đã trình bày một cách có hệ
thống và khái quát quá trình hình thành, phát triển và nội dung của tư tưởng
triết học Việt Nam trên các mặt: bản thể luận, nhận thức luận, nhân sinh
quan, chính trị - xã hội và các đạo đức luân lý, qua các giai đoạn, qua các
thiền phái và qua từng nhà tư tưởng. Từ đó, làm nổi bật lên triết lý về đạo
làm người, khẳng định vai trò chủ thể của con người Việt Nam trước tự
nhiên, xã hội, trước tiến trình lịch sử và cuộc sống của chính mình. Đó là
tinh thần và ý chí độc lập dân tộc, là lòng yêu nước nồng nàn, là tinh thần
đoàn kết, là ý chí kiên cường và lòng dũng cảm; là đức tính cần cù, sáng tạo,
là lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình... đã tạo nên bản sắc, cốt cách
tinh thần của con người Việt Nam.
19
Ngoài ra còn có công trình “Khái lược lịch sử tư tưởng triết học Việt
Nam” do tác giả Nguyễn Tài Đông chủ biên, được Nhà xuất bản Đại học sư
phạm, Hà Nội, xuất bản vào năm 2016. Công trình này gồm có 5 chương,
trong đó chương 4 đề cập đến lịch sử triều Nguyễn. Tác giả đề cập đến lịch sử