Tư tưởng trị nước của các vị vua gia long, minh mệnh, thiệu trị và ý nghĩa lịch sử của nó - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NGUỒN

TƢ TƢỞNG TRỊ NƢỚC CỦA CÁC VỊ VUA
GIA LONG, MINH MỆNH, THIỆU TRỊ VÀ Ý NGHĨA
LỊCH SỬ CỦA NÓ

Ngành: Triết học
Mã số: 9 22 90 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. LÊ THỊ LAN

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các tư liệu, kết quả nêu trong luận án này là trung thực, chính xác
và có xuất xứ rõ ràng.

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Nguồn


MỤC LỤC

3.1. Xây dựng hệ tư tưởng chính trị ................................................................... 66
3.2. Tư tưởng về tổ chức và xây dựng bộ máy nhà nước ................................... 81
3.3. Những chính sách trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn ...................... 91
3.3.1. Chính sách kinh tế .................................................................................... 91
3.3.2. Chính sách an ninh - quốc phòng ............................................................. 98
3.3.3. Chính sách văn hóa - tư tưởng ................................................................ 101
3.3.4. Chính sách giáo dục - khoa cử................................................................ 102
3.3.5. Chính sách tôn giáo ................................................................................ 106
3.3.6. Chính sách ngoại giao ............................................................................ 111
Chƣơng 4: GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ TƢ
TƢỞNG TRỊ NƢỚC CỦA CÁC VỊ VUA GIA LONG, MINH MỆNH VÀ
THIỆU TRỊ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI NƢỚC TA
HIỆN NAY ............................................................................................................. 121
4.1. Giá trị và hạn chế trong tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn ... 121
4.1.1. Giá trị ...................................................................................................... 121
4.1.2. Hạn chế ................................................................................................... 128
4.2. Bài học lịch sử từ tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh
và Thiệu Trị đối với đời sống chính trị - xã hội nước ta hiện nay.......................... 136
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 143

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .............................................................................. 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 149


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử truyền thống văn hoá lâu đời của dân tộc ta không thể không
nhắc đến những đóng góp to lớn của các thế hệ đi trước, mà trong đó phải kể
đến sự trị vì của các triều đại đã qua. Từ đó, có sự kế thừa và phát huy những

Từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến tư
tưởng chính trị - xã hội của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị.
Thế nhưng, tư tưởng trị nước vẫn chưa được đề cập, ngay cả khái niệm tư
tưởng trị nước cũng chưa được đề cập một cách rõ ràng, có nhà nghiên cứu
khi đề cập đến tư tưởng trị nước lại cho rằng đó thực chất là trị quan. Quá
trình nghiên cứu chúng tôi cho rằng, đề cập đến tư tưởng trị nước là tư tưởng
về đường lối quản lý, xây dựng phát triển đất nước, quản lý bộ máy nhà nước.
Chính vì vậy, trong lịch sử thì tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều
Nguyễn có ảnh hưởng rất lớn đối với toàn bộ quá trình lãnh đạo của triều đại
nhà Nguyễn trong lịch sử và cả giai đoạn xây dựng đất nước sau này. Ngoài
việc xây dựng bộ Hoàng Việt luật lệ (hay là Luật Gia Long) và trên cơ sở của
nó là một loạt các định chế về hành chính và quân sự đã làm cho triều Nguyễn
có một bộ máy nhà nước mạnh trong khu vực. Các vị vua triều Nguyễn là những
người biết kế thừa các thành quả về trị nước của các triều đại phong kiến trước
đó, đồng thời thiết lập các chế định mới cho bộ máy quan lại cũng như quyền và
nghĩa vụ của quan lại trong các bộ máy đó. Nhiều điều khoản của bộ Luật Gia
Long cũng như các định chế cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị để chúng ta
tham khảo như luật Hồi tỵ, qui định về khảo hạch, sát hạch quan lại, v.v… Để sự
nghiệp cải cách hành chính và cuộc chiến chống tham nhũng thành công, chắc
chắn chúng ta phải xây dựng một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, trong đó có sự
tham khảo kinh nghiệm lịch sử của các triều đại phong kiến trước đây từng thực
hiện một cách có hiệu quả về phòng chống tham nhũng.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách đó, đồng thời
trên cơ sở thành quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội từ trước đến
nay ở trong và ngoài nước về đường lối trị nước của các vị vua đầu triều

2


Nguyễn, tôi quyết định chọn: “Tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long,

nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phân tích, làm rõ bối cảnh lịch sử và những tiền đề cơ bản cho
sự ra đời tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
Thứ hai, trình bày nội dung cơ bản trong tư tưởng trị nước của các vị
vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
Thứ ba, chỉ ra những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử trong tư tưởng
trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu.
* Đối tƣợng nghiên cứu: Là tư tưởng trị nước của các vị vua Gia
Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
*Phạm vi nghiên cứu: Là tư tưởng trị nước qua các tác phẩm của vua
Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị từ năm 1802 - 1847, các bộ sử, cũng như
các công trình nghiên cứu về tư tưởng đó của các học giả trong và ngoài nước
từ trước tới nay.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Một là, luận án làm rõ tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh
Mệnh và Thiệu Trị trong nửa đầu thế kỷ XIX với sự phân tích triết học về
cách thức tổ chức và hoàn thiện bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện
luật pháp vì mục tiêu căn bản được xác định ngay từ đầu triều đại là nhà nước
phong kiến trung ương tập quyền.
Hai là, làm rõ những giá trị, hạn chế của các vị vua Gia Long, Minh
Mệnh và Thiệu Trị trong quản lý, điều hành trên các lĩnh vực kinh tế, chính
trị, văn hóa, giáo dục và tôn giáo...
Ba là, luận án rút ra bài học lịch sử từ những giá trị và hạn chế trong tư
tưởng trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn đối với đời sống chính trị - xã
hội nước ta hiện nay.

4



kinh tế, chính trị, xã hội như sau:
Các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam nói chung và giai đoạn
đầu của triều Nguyễn nói riêng, như cuốn “Lịch sử Việt Nam” (Lịch sử Việt
Nam thế kỷ XIX), Nxb Khoa học xã hội do GS. Nguyễn Khánh Toàn chủ
biên; cuốn “Lịch sử cận đại Việt Nam”, tập 1, Nxb Giáo dục, 1960, do các tác
giả như Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự biên soạn và cuốn
“Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” (Từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ
XIX), tập III, Nxb Giáo dục, 1965, do các tác giả như Phan Huy Lê, Chu
Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm biên soạn. Các công trình này
đều có cách tiếp cận và một số quan điểm đánh giá tương đồng do những yêu
cầu của thực tiễn đất nước lúc bấy giờ. Trong những công trình này, các tác
giả cho rằng: “Sau khi đánh thắng Tây Sơn, trên cơ sở nước nhà được thống
nhất rộng lớn, về mặt cai trị được tổ chức chặt chẽ hơn, có đủ khả năng để
phát triển sản xuất, đáng lẽ nhà cầm quyền phải nhận những điều kiện thuận

6


tiện ấy để đưa ra những chính sách thích hợp làm cho nước thịnh dân giàu;
trái lại, bè lũ phong kiến thống trị triều Nguyễn càng ngày càng đi sâu vào
con đường phản động, phục hồi và ra sức củng cố quan hệ sản xuất cũ và cố
bóp nghẹt lực lượng sản xuất mới đã manh nha phát triển hồi thế kỷ
XVIII”[42; tr.402]. Có thể nói, đây chính là một trong những hạn chế rất lớn
trong chính sách cai trị của nhà Nguyễn.
Luận án “Tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn sơ: 1802 1847” của Nguyễn Sĩ Hải, vào năm 1962. Công trình này được xem là một
trong những công trình đầu tiên đề cập đến cơ quan giám sát, tổ chức bộ máy
chính quyền của triều đình nhà Nguyễn. Tác giả tập trung đi sâu phân tích
toàn bộ cơ quan trung ương của các triều đại như Gia Long, Minh Mệnh và
Thiệu Trị. Từ đó tìm hiểu về cơ cấu tổ chức, cùng với chức năng, nhiệm vụ
của cơ quan giám sát. Mặc dù vậy, tác giả cũng chỉ dừng lại trong phạm vi liệt

Công trình nghiên cứu rất đồ sộ của tác giả Alexander Barton
Woodside với tên gọi “Việt Nam và hình mẫu Trung Hoa nghiên cứu so sánh
về chính quyền dân sự nhà Nguyễn và nhà Thanh nửa đầu thế kỷ XIX”, bản
dịch tiếng Việt, công trình xuất bản năm 1971, tại Harvard University Press
Cambridge, Massachusetts. Những nội dung liên quan nhiều nhất đến luận án
chủ yếu ở chương II với nội dung là đề cập đến chính quyền dân sự trung
ương nhà Nguyễn và nhà Thanh, còn chương IV thì tác giả đề cập đến nền
giáo dục và khoa cử thời kỳ nhà Nguyễn ở Việt Nam, và trong chương V
được khái quát bằng bức tranh giao thương vào giai đoạn trị vì của nhà
Nguyễn đặc biệt là thời kỳ trị vì của vua Minh Mệnh . Trong tác phẩm này tác
giả tập trung đề cập đến văn hóa Trung Hoa và những hạn chế của nó đối với
đời sống chính trị, văn học, xã hội và giáo dục ở Việt Nam. Tác giả tập trung
nghiên cứu chủ yếu giai đoạn xã hội Việt Nam từ sau năm 1802, giai đoạn mà
theo tác giả là thời kỳ “khôi phục” của nhà Nguyễn.
Nhà nghiên cứu GS. Trần Văn Giàu với công trình “Sự phát triển của
tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám”, tập 1, do NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản vào năm 1996. Đây là công trình có ý

8


nghĩa rất lớn của tác giả, đóng góp không nhỏ vào việc nghiên cứu lịch sử tư
tưởng triết học Việt Nam. Nội dung của công trình này được tác giả đề cập
đến ý thức hệ phong kiến và sự thất bại của nó trong sự nghiệp bảo vệ đất
nước, chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp.
Với công trình “Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn” của Trần Thanh
Tâm do NXB Thuận Hóa Huế, xuất bản vào năm 1996. Bộ máy quan chức
của nhà Nguyễn đã được tác giả đi sâu tìm hiểu. Công việc này có ý nghĩa
quyết định hàng đầu vào sự vận hành của chế độ phong kiến. Tác giả đã có
một số đóng góp như đưa ra những ý kiến về quan chức nhà Nguyễn và góp

hóa. Tuy nhiên, theo tác giả triều đình nhà Nguyễn cũng có một số sai lầm đó
là chưa có chính sách khuyến khích cụ thể đối với thương nhân trong việc
thực thi chính sách về ngoại thương. Từ đó cũng đã làm hạn chế sự phát triển
của nền kinh tế đất nước vào thời kỳ này.
Tác phẩm “Việt Nam thế kỷ XIX” của Nguyễn Phan Quang, do NXB
Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản 1999, gồm 458 trang, ông cũng là một nhà
nghiên cứu có rất nhiều công trình đề cập đến giai đoạn trị vì của nhà
Nguyễn, trong công trình này thì tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến lĩnh vực
thương nghiệp. Theo tác giả thì triều đình nhà Nguyễn mặc dù có nhiều cố
gắng nhưng chính sách nội thương chưa đủ mạnh để thúc đẩy việc phát triển
nền kinh tế hàng hóa. Bên cạnh đó, tác giả cũng cho rằng triều Nguyễn có hạn
chế trong chính sách ngoại thương đó là việc không ký kết các hiệp ước
thương mại, thực hiện chính sách “trọng nông ức thương” làm kìm hãm sự
phát triển của đất nước.
Tác giả Trần Vũ Tài với tác phẩm “Quốc sử quán triều Nguyễn - từ góc
độ văn hóa”, được xuất bản vào năm 2000. Từ công trình này tác giả đã trình
bày về hoàn cảnh, mục đích ra đời của tác phẩm này, triều đình nhà Nguyễn
cho biên soạn lịch sử nhằm khẳng định vị trí, công lao của Nhà nước trung
ương tập quyền. Theo tác giả thì tác phẩm này đã thể hiện những đóng góp rất
lớn trong việc viết sử với khối lượng tư liệu phong phú, đồ sộ để lại cho thế hệ
sau của triều Nguyễn. Công trình này thể hiện tâm huyết rất lớn của tác giả.

10


Bài viết trong Tập san Nghiên cứu Huế, tập 2 của tác giả Huỳnh Công
Bá vào năm 2001 là “Pháp chế triều Nguyễn đối với vấn đề nhân thân của
người phụ nữ” và bài “Vấn đề tài sản trong pháp luật hôn nhân và gia đình
dưới triều Nguyễn” trong Tập san Nghiên cứu Huế, tập 3, vào năm 2002.
Thông qua các bài viết này tác giả đã đề cập đến pháp luật của thời kỳ nhà

Đặc biệt trong đó có phần “Đại Nam thời Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX” tác giả
đã trình bày rất rõ nét về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng của
triều đình nhà Nguyễn nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung. Trong đó, tác
giả còn nêu lên những mặt tích cực của vương triều Nguyễn như: “Từ Gia
Long đến Minh Mạng, bộ máy cai trị của nhà Nguyễn ngày càng hoàn thiện,
có thêm có bớt nhưng nhìn chung không cồng kềnh, thậm chí có thể coi là
gọn nhẹ”[45, tr.418]. Thông qua công trình này tác giả Phan Huy Lê cũng
đánh giá cao bộ máy của triều đình nhà Nguyễn, tác giả cho rằng giai đoạn
này đã đóng góp to lớn cho lịch sử nước nhà.
Ngoài ra, sau thời kỳ đất nước đổi mới, hội thảo “Chúa Nguyễn và
vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” vào
ngày 18/10/2008 đã có cách nhìn khách quan và khoa học hơn đối với triều
Nguyễn. GS. Phan Huy Lê đã nhận định trong trang 11 của kỷ yếu hội thảo:
“Thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn từ thế kỷ XVI đến thế kỷ
XIX là một thời kỳ lịch sử đã trải qua những cách nhìn nhận và đánh giá hết
sức khác nhau, có những lúc gần như đảo ngược lại. Triều Nguyễn được đặt
trong khung lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội, là triều đại suy vong, lâm vào
khủng hoảng nặng nề, và chịu phán xét không công bằng”. Theo ông, khi
nghiên cứu nhận thức về lịch sử cần phải rút ngắn khoảng cách giữa lịch sử
khách quan và lịch sử đươc nhận thức, nghĩa là sự nhìn nhận, đánh giá về vị trí,
vai trò của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn cần mang tính khách quan,
khoa học và công bằng. Đó cũng chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của thế hệ
chúng ta với các bậc tiền bối đã có những đóng góp cho đất nước trong lịch sử.
Công trình “Lịch sử tư tưởng Việt Nam”, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2009
của TS. Huỳnh Công Bá chủ biên, trong đó có đề cập đến giai đoạn triều

12


Nguyễn và Nho giáo thời kỳ này theo tác giả thì nó phát triển mạnh mẽ.


của vua Minh Mạng thì chính sách “bài đạo” đã được thực hiện, đây cũng là
nguyên nhân làm ảnh hưởng đến mối quan hệ của nước ta với Pháp. Chính
sách “cấm đạo” với 5 chỉ dụ của ông đã dẫn đến những hệ lụy sau này, làm
gay gắt thêm tình hình và ảnh hưởng không nhỏ tới quan hệ ngoại giao với
nước Pháp. Tới thời kỳ trị vì của vua Thiệu Trị và Tự Đức thì chính sách cấm
đạo của vua cha vẫn tiếp tục được duy trì, và càng ngày càng trở nên gay gắt.
Người Pháp cũng lợi dụng chính sách cấm đạo để can thiệp vũ trang vào nước
ta. Tuy nhiên, theo tác giả khi nhận định về chính sách cấm đạo, bế quan tỏa
cảng của nhà Nguyễn cần phải có cái nhìn khách quan, vì trong bối cảnh
muốn giữ vững chủ quyền của dân tộc trước họa xâm lược của thực dân
phương Tây lợi dụng chính sách truyền giáo.
Tác giả Lê Thị Lan với bài viết “Các đặc trưng của tư tưởng triết học
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX”, tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8 (93),
ra đời vào năm 2015. Trong bài viết của mình, tác giả đã đề cập đến vào nửa
đầu thế kỷ XIX thì quá trình vận động và phát triển của tư tưởng triết học Việt
Nam cần phải có một hệ tư tưởng chính thống dẫn dắt về mặt tinh thần trong
việc củng cố, xây dựng và bảo vệ nhà nước phong kiến trung ương tập quyền
cao độ của nhà Nguyễn. Do đó, việc lựa chọn tư tưởng của Nho giáo để từng
bước đáp ứng được yêu cầu này. Tác giả đã phân tích rất rõ nét và làm sáng tỏ
những đặc điểm khác biệt của tư tưởng triết học Việt Nam giai đoạn này với
các giai đoạn khác. Qua đó, những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về tư tưởng
triết học Việt Nam đã được tác giả gợi mở.
Tiến sĩ Huỳnh Công Bá trong tác phẩm “Định chế pháp luật và tố tụng
triều Nguyễn (1802 - 1885”), do Nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản vào năm
2016, cho rằng triều đại nhà Nguyễn là triều đại cuối cùng của chế độ phong
kiến ở nước ta, giai đoạn này đất nước thống nhất hơn hai phần ba của thế kỷ.
Sau khi lên ngôi xây dựng cơ đồ thì triều đình nhà Nguyễn đã tiếp thu, học
hỏi những kinh nghiệm của các triều đại đi trước để lại trong việc quản lý đất


liệu này tác giả có cách nhìn nhận về Nho giáo ở Việt Nam vào thời kỳ trước

15


đây, trong đó có cả giai đoạn trị vì của nhà Nguyễn và giai đoạn hiện nay như
thế nào. Đồng thời, theo tác giả thì giai đoạn nào cũng vậy, vấn đề đạo đức có
vai trò hết sức quan trọng cho nên cần phải nâng cao giá trị đạo đức đối với
các thế hệ đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Nhìn chung các công trình trên đây vẫn còn gây nên những tranh luận
trái chiều về công và tội của các vị vua đầu triều Nguyễn, những quan điểm
của một số tác giả phủ nhận công lao của thời kỳ này còn có những công trình
gần đây nhất thì đã có sự nhìn nhận khách quan về đóng góp của các vị vua
đầu triều Nguyễn vào thời kỳ này. Có thể nói, khái quát những công trình cơ
bản về bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội triều Nguyễn vào nửa đầu thế kỷ
XIX đã đề cập tới một bức tranh khá rõ nét của thời kỳ này. Đồng thời một số
tác giả còn chỉ rõ những hạn chế của chính sách mà triều đình nhà Nguyễn đã
làm ảnh hưởng không nhỏ đối với sự phát triển của đất nước vào thời kỳ bấy
giờ. Từ đó, làm kìm hãm sự phát triển nền kinh tế, xã hội của đất nước.
1.2. Các công trình nghiên cứu về tƣ tƣởng trị nƣớc của vị vua Gia
Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị
Có thể nói, khi nghiên cứu về tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều
Nguyễn nói riêng hay lịch sử triều Nguyễn nói chung có thể tạm quy vào các
phương diện khác nhau tùy thuộc vào mục đích của từng chuyên ngành khoa học
xã hội như ngành sử học, văn học, triết học... Ở phạm vi nghiên cứu của luận án
tiến sĩ triết học của mình, tôi đặc biệt chú trọng nghiên cứu quan điểm của các học
giả thuộc hai chuyên ngành tuy có khác nhau về mục đích và cách tiếp cận. Tuy
nhiên, cả hai chuyên ngành này đều có điểm chung về nghiên cứu nguồn gốc và
diễn biến của các sự kiện, đó chính là chuyên ngành Sử học và Triết học. Những
công trình nghiên cứu này có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như sau:

trước, mặc dù sự tồn tại của nó ở giai đoạn này vẫn còn nằm trong khuôn
khổ hệ tư tưởng phong kiến.
Một số công trình như “Nho học và Nho học ở Việt Nam – một số vấn
đề lý luận và thực tiễn” của GS. Nguyễn Tài Thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà

17


Nội, năm 1997 thì lại có sự nhìn nhận một cách thẳng thắn đối với Nho giáo
triều Nguyễn, ông cũng phủ định sạch trơn những đóng góp của Nho giáo
triều Nguyễn và đưa ra nhận định: “Nho giáo triều Nguyễn là một tập đại thành
những tư tưởng duy tâm phản động trong lịch sử của Nho giáo”[85, tr.515]. Có
thể nói, khuynh hướng nghiên cứu này của tác giả theo các nhà nghiên cứu là
cách đánh giá được xem là sự nhìn nhận trái chiều của ông khi đề cập đến những
công lao, đóng góp của triều đại nhà Nguyễn về tư tưởng Nho giáo.
Bài viết “Vua Minh Mạng với tư tưởng “củng cố nền thống nhất quốc
gia” của tác giả Nguyễn Minh Tường, tạp chí Xưa và nay, số 286, tháng
6/2007. Theo tác giả, trong số những vị vua của triều đình nhà Nguyễn thì
Minh Mệnh là người thông minh, có tài cai trị hơn cả. Vì vậy, dưới sự trị vì
của Minh Mệnh thì nhà Nguyễn đã đạt được rất nhiều thành tựu quan trọng
trên rất nhiều các lĩnh vực từ kinh tế, quân sự, văn hoá… và đây cũng chính là
giai đoạn triều đình phát triển mạnh mẽ nhất. Đến thời kỳ trị vì của vua Minh
Mệnh thì vấn đề củng cố nền thống nhất quốc gia trở nên hết sức cấp bách.
Trong đó, theo tác giả thì vấn đề toàn vẹn lãnh thổ được vua Minh Mệnh đặt
lên hàng đầu, đặc biệt những vùng đất ở biên cương, hải đảo xa xôi được ông
tăng cường xác lập chủ quyền.
Tác giả Bùi Huy Khiên với công trình “Những bài học từ hai cuộc cải
cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh”, Nxb.
Lao động, Hà Nội, năm 2011. Theo tác giả, giai đoạn lịch sử đó được đánh
dấu là từ khi vua Gia Long lên ngôi tới khi vua Minh Mệnh kế vị, đây chính

thiền phái và qua từng nhà tư tưởng. Từ đó, làm nổi bật lên triết lý về đạo
làm người, khẳng định vai trò chủ thể của con người Việt Nam trước tự
nhiên, xã hội, trước tiến trình lịch sử và cuộc sống của chính mình. Đó là
tinh thần và ý chí độc lập dân tộc, là lòng yêu nước nồng nàn, là tinh thần
đoàn kết, là ý chí kiên cường và lòng dũng cảm; là đức tính cần cù, sáng tạo,
là lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình... đã tạo nên bản sắc, cốt cách
tinh thần của con người Việt Nam.

19


Ngoài ra còn có công trình “Khái lược lịch sử tư tưởng triết học Việt
Nam” do tác giả Nguyễn Tài Đông chủ biên, được Nhà xuất bản Đại học sư
phạm, Hà Nội, xuất bản vào năm 2016. Công trình này gồm có 5 chương,
trong đó chương 4 đề cập đến lịch sử triều Nguyễn. Tác giả đề cập đến lịch sử
Việt Nam từ giai đoạn sơ sử cho đến triết học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Lịch sử của dân tộc Việt Nam được các tác giả khắc họa tạo nên bức tranh
sinh động đề cập trong tác phẩm này, tư tưởng của dân tộc tồn tại từ rất lâu
đời, trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử. Bởi vì, quá trình hình
thành và phát triển của tư tưởng triết học Việt Nam gắn liền với điều kiện lịch
sử và cơ cấu của xã hội Việt Nam. Do đó, đề cập đến vấn đề này theo tác giả
là một vấn đề mở, lĩnh vực nghiên cứu hết sức phong phú và đa dạng do đó có
rất nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu.
Bài viết “Tìm hiểu tư tưởng trị nước của vua Minh Mạng” của tác giả
Phan Quốc Khánh, tạp chí Khoa học Chính trị số 4, năm 2004. Bài viết này,
tác giả cho rằng trong các vị vua triều Nguyễn thì vua Minh Mệnh là vị vua
anh minh nhất. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau nhưng theo tác giả thì
không thể phủ nhận rằng cách trị nước của ông có ít nhiều cũng đáng để
chúng ta tham khảo và rút ra trong việc quản lý xã hội. Cũng theo tác giả,
ngay từ khi lên ngôi Minh Mệnh đã thể hiện tư tưởng pháp trị. Ông đòi hỏi

Minh Mệnh đến nay theo tác giả chủ yếu được thực hiện thông qua các công
trình nghiên cứu, các hội thảo khoa học về nhà Nguyễn hoặc các bài viết đăng
trên tạp chí khoa học, ít có các công trình nghiên cứu một cách hệ thống, toàn
diện về tư tưởng của vị vua này. Thứ hai, về tư tưởng chính trị của Minh Mệnh
thì tác giả cũng đưa ra một số nội dung như độc tôn Nho giáo, đề cập pháp trị và
tiếp nối tư tưởng củng cố nền thống nhất quốc gia. Ngoài ra, tác giả còn đề cập
đến một số công trình về tư tưởng xây dựng các chuẩn mực đạo đức - văn hóa;
tư tưởng giáo dục - đào tạo hiền tài và tư tưởng của Minh Mệnh về vấn đề tôn
giáo. Cuối cùng, theo tác giả hầu hết các công trình nghiên cứu hoặc là tập trung
vào một số vấn đề, như chế độ ruộng đất, bộ máy hành chính, văn hóa giáo dục,
hoặc là nghiên cứu đường lối trị nước của vua Minh Mệnh.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status