VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGUỒN
TƢ TƢỞNG TRỊ NƢỚC CỦA CÁC VỊ VUA GIA
LONG, MINH MỆNH, THIỆU TRỊ VÀ Ý NGHĨA
LỊCH SỬ CỦA NÓ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGUỒN
TƢ TƢỞNG TRỊ NƢỚC CỦA CÁC VỊ VUA GIA
LONG, MINH MỆNH, THIỆU TRỊ VÀ Ý NGHĨA
LỊCH SỬ CỦA NÓ
Ngành: Triết học
Mã số: 9 22 90 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Chƣơng 2: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX VÀ
NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG TRỊ
NƢỚC CỦA CÁC VUA ĐẦU TRIỀU NGUYỄN........................................................... 31
2.1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XIX........................................................... 31
2.1.1. Tình hình chính trị......................................................................................................... 31
2.1.2. Tình hình kinh tế............................................................................................................ 42
2.1.3. Tình hình văn hóa, tư tưởng................................................................................... 47
2.1.4. Tình hình xã hội............................................................................................................. 49
2.2. Những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng trị nước của các vị
vua đầu triều Nguyễn............................................................................................................... 55
2.2.1. Lãnh thổ thống nhất...................................................................................................... 55
2.2.2. Học thuyết chính trị Nho giáo................................................................................... 57
2.2.3. Vai trò xã hội của tầng lớp nho sĩ thời kỳ đầu nhà Nguyễn........................59
2.3. Đôi nét về tiểu sử của các vị vua đầu triều Nguyễn........................................... 62
Chƣơng 3: NHỮNG NỘI DUNG TƢ TƢỞNG TRỊ NƢỚC CƠ BẢN CỦA
CÁC VỊ VUA GIA LONG, MINH MỆNH VÀ THIỆU TRỊ.......................................... 66
3.1. Xây dựng hệ tư tưởng chính trị.................................................................................. 66
3.2. Tư tưởng về tổ chức và xây dựng bộ máy nhà nước........................................ 81
3.3. Những chính sách trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn......................... 91
3.3.1. Chính sách kinh tế......................................................................................................... 91
3.3.2. Chính sách an ninh - quốc phòng............................................................................ 98
3.3.3. Chính sách văn hóa - tư tưởng........................................................................... 101
3.3.4. Chính sách giáo dục - khoa cử.............................................................................. 102
3.3.5. Chính sách tôn giáo.................................................................................................... 106
3.3.6. Chính sách ngoại giao............................................................................................... 111
Chƣơng 4: GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ TƢ
TƢỞNG TRỊ NƢỚC CỦA CÁC VỊ VUA GIA LONG, MINH MỆNH VÀ
THIỆU TRỊ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI NƢỚC TA
chính trị - xã hội, văn hoá, giáo dục và tư tưởng. Đến giai đoạn trị vì của mình,
các vị vua đầu triều Nguyễn đã thực hiện sự tái độc tôn Nho giáo, coi đó là bệ
đỡ hệ tư tưởng và cẩm nang cho việc điều hành đất nước. Ngoài ra, các vị vua
đầu triều Nguyễn còn kết hợp tư tưởng đức trị với pháp trị, hình thành nên Bộ
luật Gia Long với tư cách là cơ sở luật pháp cho việc quản lý xã hội và tổ chức
hoạt động của bộ máy nhà nước được coi là thời kỳ có một nền pháp luật hoàn
bị nhất thời kỳ phong kiến Việt Nam.
Trong lịch sử khi bàn về đạo trị nước thì các nhà Nho ở nước ta cũng đã
đề cập đến như quan niệm về dân, vai trò của dân và đạo làm vua, đạo của bề
tôi và mối quan hệ giữa vua - tôi... Những quan điểm của các nhà Nho ở nước
ta cũng chịu ảnh hưởng từ quan niệm của các nhà Nho ở Trung Quốc. Mặc dù
những quan niệm này được xây dựng dựa trên những yêu cầu từ thực tiễn của
dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Chính vì vậy, những tư tưởng của các
1
nhà Nho Việt Nam cũng góp phần không nhỏ vào trong công cuộc xây dựng
đất nước, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội phong kiến ở Việt Nam
lúc bấy giờ với những ý nghĩa hết sức tích cực.
Từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến tư
tưởng chính trị - xã hội của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị. Thế
nhưng, tư tưởng trị nước vẫn chưa được đề cập, ngay cả khái niệm tư tưởng
trị nước cũng chưa được đề cập một cách rõ ràng, có nhà nghiên cứu khi đề
cập đến tư tưởng trị nước lại cho rằng đó thực chất là trị quan. Quá trình
nghiên cứu chúng tôi cho rằng, đề cập đến tư tưởng trị nước là tư tưởng về
đường lối quản lý, xây dựng phát triển đất nước, quản lý bộ máy nhà nước.
Chính vì vậy, trong lịch sử thì tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều
Nguyễn có ảnh hưởng rất lớn đối với toàn bộ quá trình lãnh đạo của triều đại nhà
Nguyễn trong lịch sử và cả giai đoạn xây dựng đất nước sau này. Ngoài việc xây
của ý thức xã hội biểu hiện qua sự tác động tích cực của nó đối với tồn tại
xã hội và sự tương tác giữa các hình thái ý thức xã hội. Ngoài ra tôi còn dựa
vào tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để đánh giá về giá trị và
hạn chế trong tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn là Gia
Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị, đồng thời rút ra ý nghĩa và bài học lịch sử
của tư tưởng đó đối với đời sống xã hội nước ta hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp lôgic - lịch sử, phương pháp so sánh - đối chiếu….
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.
Mục đích:
Làm rõ những nội dung căn bản trong tư tưởng trị nước của các vị vua
Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đầu triều Nguyễn, từ đó nêu những giá
trị, hạn chế và bài học lịch sử của tư tưởng đó đối với việc xây dựng đường
lối chính trị - xã hội nước ta hiện nay.
3
3.2. Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích nói trên, luận án cần tập trung giải quyết các
nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phân tích, làm rõ bối cảnh lịch sử và những tiền đề cơ bản cho
sự ra đời tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
4
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm có 4 chương 13 tiết.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề
liên quan đến luận án.
Chương 2: Bối cảnh lịch sử của Việt Nam đầu thế kỷ XIX và
những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tƣ tƣởng trị nƣớc của các
vua đầu triều Nguyễn.
Chương 3: Những nội dung tƣ tƣởng trị nƣớc cơ bản của các vị
vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị.
Chương 4: Giá trị, hạn chế và bài học lịch sử từ tƣ tƣởng trị
nƣớc của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đối với đời
sống chính trị - xã hội nƣớc ta hiện nay.
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. Các công trình nghiên cứu về bối cảnh kinh tế, chính trị,
xã hội triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX
Trong thời kỳ này, nhìn một cách tổng thể đặc biệt là giai đoạn đầu
triều Nguyễn thì các vị vua như Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị đều là
những người có quyết tâm xây dựng vương triều, chú trọng đào tạo và
tuyển chọn nhân tài cho đất nước. Nửa đầu thế kỷ XIX (từ khi nhà Nguyễn
thành lập 1802 cho đến khi Pháp xâm lược 1858) được xem là thời kỳ nhà
tích toàn bộ cơ quan trung ương của các triều đại như Gia Long, Minh
Mệnh và Thiệu Trị. Từ đó tìm hiểu về cơ cấu tổ chức, cùng với chức năng,
nhiệm vụ của cơ quan giám sát. Mặc dù vậy, tác giả cũng chỉ dừng lại
trong phạm vi liệt kê một số quy định của triều đình chứ chưa nghiên cứu
sâu và đánh giá cụ thể về tổ chức này cũng như thực tiễn hoạt động của nó
và chưa làm rõ việc tổ chức chính quyền ở địa phương.
Tác giả Nguyễn Thế Anh với tác phẩm “Kinh tế và xã hội Việt Nam
dưới các vua triều Nguyễn”, Nxb Lửa Thiêng, năm 1971. Trong đó, đáng chú
ý là tác giả dành toàn bộ chương V để đề cập đến các hoạt động của thương
nghiệp, hoạt động thương mại, trung tâm buôn bán, cũng như các yếu tố
về chính sách thuế khóa và vấn đề giao thông vận tải. Từ đó, tác giả chỉ rõ
vai trò của Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương trong giai đoạn nửa
đầu thế kỷ XIX trong tác phẩm của mình.
Công trình “Lịch sử Việt Nam từ năm 1427 đến 1858” của Nguyễn
Phan Quang, năm 1971 (quyển 2, tập 2) do NXB Giáo dục phát hành. Theo
tác giả, thì công trình này đã đánh giá về những hạn chế của triều đình nhà
Nguyễn chẳng hạn như sự dốt nát, bạc nhược của quan lại đó là kết quả của
chính sách giáo dục, thi cử lạc hậu, xa rời thực tế và phần lớn các quan lại đều
7
bảo thủ và không có tư tưởng canh tân đất nước. Đây được xem là công
trình tham khảo cho giới nghiên cứu lý luận khi đưa ra những đánh giá về
thành tựu và hạn chế mà triều đình nhà Nguyễn đã mang lại.
Tác giả Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Đàn thì trong“Lịch sử Việt
Nam từ nguồn gốc đến năm 1858”, NXB Đại học sư phạm Hồ Chí Minh,
xuất bản năm 1993 lại đề cập đến việc đào tạo và sử dụng quan lại, tình
trạng tham nhũng của quan lại bị nhà vua trừng trị vào thời kỳ nhà Nguyễn.
Với công trình “Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn” của Trần Thanh
Tâm do NXB Thuận Hóa Huế, xuất bản vào năm 1996. Bộ máy quan chức của
nhà Nguyễn đã được tác giả đi sâu tìm hiểu. Công việc này có ý nghĩa quyết
định hàng đầu vào sự vận hành của chế độ phong kiến. Tác giả đã có một số
đóng góp như đưa ra những ý kiến về quan chức nhà Nguyễn và góp phần chỉ
ra cho giới nghiên cứu những danh mục từ tra cứu quan chức nhà Nguyễn.
Thông qua đó người đọc có thể hình dung được chế độ quan chức một thời
đại cũng như cách gọi tên về các chức vụ quan trọng của triều đình.
Tác giả Đỗ Bang trong Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 219 với tiêu đề
“Chính sách ngoại thương của triều Nguyễn - thực trạng và hậu quả”, năm
1996. Bài viết này đã đề cập đến chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình nhà
Nguyễn, và để thực hiện tối ưu hóa chính sách này đã đề ra một số biện pháp.
Thông qua bài viết của mình tác giả chỉ rõ nhà Nguyễn đã có những chế tài trong
việc sử dụng tàu thuyền đối với thương nhân nước ngoài khi đi vào nước ta.
Tuy nhiên, công trình “Tổ chức bộ máy Nhà nước triều Nguyễn giai
đoạn 1802 - 1884” của Đỗ Bang, xuất bản vào năm 1997. Thông qua công
trình này theo tác giả triều đình nhà Nguyễn được xem đây là giai đoạn phát
triển cực thịnh của chế độ quân chủ trung ương tập quyền và cho rằng đây là
triều đại có tính uy lực tuyệt đối hơn bất kỳ triều đại nào trong lịch sử phong
kiến ở nước ta. Cũng theo tác giả thì triều đại nhà Nguyễn là triều đại có khả
năng thống nhất lãnh thổ, thế quyền và giáo quyền trong bộ máy Nhà nước.
Tác phẩm được xem như bài học kinh nghiệm cho những người quản lý trong
công tác cải cách hành chính, xây dựng một xã hội ngày càng phát triển tốt
đẹp hơn.
9
10
Bài viết trong Tập san Nghiên cứu Huế, tập 2 của tác giả Huỳnh Công
Bá vào năm 2001 là “Pháp chế triều Nguyễn đối với vấn đề nhân thân của
người phụ nữ” và bài “Vấn đề tài sản trong pháp luật hôn nhân và gia
đình dưới triều Nguyễn” trong Tập san Nghiên cứu Huế, tập 3, vào năm
2002. Thông qua các bài viết này tác giả đã đề cập đến pháp luật của thời kỳ
nhà Nguyễn đã có những điều khoản rất rõ để bảo vệ quyền lợi cho người
phụ nữ, chẳng hạn như nếu không may người chồng qua đời thì người phụ
nữ có quyền quản lý tài sản đó; hay người phụ nữ có quyền lựa chọn người
chồng để kết hôn trên tinh thần tự nguyện… họ còn được ngang hàng với
người đàn ông trong việc phải có trách nhiệm đối với gia đình, về thời hạn
đính hôn… Theo tác giả, pháp luật vào thời kỳ nhà Nguyễn mặc dù có sự kế
thừa Luật của nhà Thanh tuy nhiên trong đó cũng có sự lược bỏ đặc biệt là
rất quan tâm đối với quyền lợi của người phụ nữ.
Hội thảo Khoa học Quốc gia do Bộ giáo dục và Trường Đại học Sư Phạm
tổ chức vào năm 2002, với chủ đề: “Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thời
Nguyễn ở Đại học, Cao đẳng Sư phạm và phổ thông” đã tập hợp được hơn 100
bài tham luận của các nhà nghiên cứu và giảng dạy về lĩnh vực lịch sử. Trong đó,
những nội dung chủ yếu bao gồm: Những vấn đề chung, mang tính phương pháp
luận; những vấn đề nghiên cứu về triều Nguyễn trên các lĩnh vực từ kinh tế, chính
trị, xã hội, quân sự, văn hóa, giáo dục, tư tưởng... Cuộc hội thảo này được đánh
giá có bước đột phá, là hội thảo mang nhiều dấu ấn học thuật. Những bài viết của
hội thảo này đã trở thành căn cứ để các nhà khoa học đứng trên quan điểm lập
trường của mình để đánh giá về triều Nguyễn, nó vừa là tác nhân, vừa là sản
phẩm của lịch sử xã hội. Chính vì vậy, khi đánh giá phải
đứng trên quan điểm lập trường lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để xem xét
các hiện tượng lịch sử ấy đã được hình thành và phát triển như thế nào mới thấy
nhìn nhận, đánh giá về vị trí, vai trò của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
cần mang tính khách quan, khoa học và công bằng. Đó cũng chính là trách nhiệm
và nghĩa vụ của thế hệ chúng ta với các bậc tiền bối đã có những đóng góp cho
đất nước trong lịch sử.
Công trình “Lịch sử tư tưởng Việt Nam”, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2009
của TS. Huỳnh Công Bá chủ biên, trong đó có đề cập đến giai đoạn triều
12
Nguyễn và Nho giáo thời kỳ này theo tác giả thì nó phát triển mạnh mẽ.
Ngoài ra, ông cũng cho rằng thời kỳ này để chấn hưng Nho học, triều Nguyễn
đã chấn chỉnh lại giáo dục và đích thân vua Minh Mệnh cho ban hành “10
điều huấn dụ” trong nhân dân. Tác giả cho rằng, Nho giáo triều Nguyễn chịu
ảnh hưởng của Tống Nho, bên cạnh đó còn có các ảnh hưởng của Hán Nho và
Đường Nho. Dưới triều đại nhà Nguyễn, lịch sử cũng đã đặt ra cho các nhà
nho 3 vấn đề lớn cần giải quyết, mà trước đây chưa có đó là: cuộc đấu tranh
giữa “chính đạo” và “tà giáo”, giữa “duy tân” và “thủ cựu”, giữa “chiến” và
“hòa”. Đây cũng là 3 cuộc đấu tranh tư tưởng quan trọng, mà có giải quyết
được thì nó mới chứng minh được sức sống của Nho giáo, còn không thì chẳng
những nước bị mất, dân tộc bị nô lệ, mà cả giai cấp thống trị triều Nguyễn cũng
chấm dứt vai trò lịch sử của mình và hệ tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam. Kết quả
là, Nho giáo triều Nguyễn đã không giải quyết được đúng đắn 3 vấn đề nói
trên của thời đại, bất lực trước sứ mệnh lịch sử.
Tác giả Trần Nam Tiến với bài viết “Vấn đề đạo Thiên chúa trong quan
hệ giữa Việt Nam và các nước phương Tây thời nhà Nguyễn (1802 – 1858)” trên
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, vào tháng 10 năm 2012. Theo tác giả, lịch
sử ra đời của đạo Thiên chúa giáo cách đây rất lâu rồi từ thế kỷ I tại đế quốc
Roma cổ đại. Cùng với đó là quá trình du nhập vào Việt Nam qua việc truyền bá
ương tập quyền cao độ của nhà Nguyễn. Do đó, việc lựa chọn tư tưởng của
Nho giáo để từng bước đáp ứng được yêu cầu này. Tác giả đã phân tích rất
rõ nét và làm sáng tỏ những đặc điểm khác biệt của tư tưởng triết học Việt
Nam giai đoạn này với các giai đoạn khác. Qua đó, những vấn đề cần tiếp
tục nghiên cứu về tư tưởng triết học Việt Nam đã được tác giả gợi mở.
Tiến sĩ Huỳnh Công Bá trong tác phẩm “Định chế pháp luật và tố tụng
triều Nguyễn (1802 - 1885”), do Nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản vào năm
2016, cho rằng triều đại nhà Nguyễn là triều đại cuối cùng của chế độ phong
kiến ở nước ta, giai đoạn này đất nước thống nhất hơn hai phần ba của thế kỷ.
Sau khi lên ngôi xây dựng cơ đồ thì triều đình nhà Nguyễn đã tiếp thu, học hỏi
những kinh nghiệm của các triều đại đi trước để lại trong việc quản lý đất
14
nước. Do đó, dưới sự trị vì của triều đại nhà Nguyễn thì những định chế pháp
luật là tương đối hoàn thiện. Từ đó, theo tác giả khi nghiên cứu định chế pháp
luật Việt Nam ở triều Nguyễn sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn khách quan về
nền pháp luật được thực thi ở thời kỳ đó cùng những đóng góp và giá trị
của nó đối với lịch sử dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay.
Công trình gần đây nhất là bộ sách “Lịch sử Việt Nam” do PGS.TS.
Trần Đức Cường tổng chủ biên, do Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội,
xuất bản vào năm 2017 gồm có 15 tập được đánh giá rất cao, công trình
đạt giải vàng sách hay. Nội dung cơ bản được tập trung trong tác phẩm này
là đề cập đến lịch sử nước ta từ thủa sơ khai cho đến năm 2000.
Trong 15 tập của bộ sách thì tập 5 là đề cập đến giai đoạn trị vì của
triều đình nhà Nguyễn, liên quan trực tiếp đến đề tài của luận án. Tác giả
trình bày từ giai đoạn vương triều nhà Nguyễn được thành lập đến thời
điểm thực dân Pháp chính thức nổ súng mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam, từ
hưởng không nhỏ đối với sự phát triển của đất nước vào thời kỳ bấy giờ. Từ
đó, làm kìm hãm sự phát triển nền kinh tế, xã hội của đất nước.
1.2. Các công trình nghiên cứu về tƣ tƣởng trị nƣớc của vị
vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị
Có thể nói, khi nghiên cứu về tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều
Nguyễn nói riêng hay lịch sử triều Nguyễn nói chung có thể tạm quy vào các
phương diện khác nhau tùy thuộc vào mục đích của từng chuyên ngành khoa học
xã hội như ngành sử học, văn học, triết học... Ở phạm vi nghiên cứu của luận án
tiến sĩ triết học của mình, tôi đặc biệt chú trọng nghiên cứu quan điểm của các
học giả thuộc hai chuyên ngành tuy có khác nhau về mục đích và cách tiếp cận.
Tuy nhiên, cả hai chuyên ngành này đều có điểm chung về nghiên cứu nguồn gốc
và diễn biến của các sự kiện, đó chính là chuyên ngành Sử học và Triết học.
Những công trình nghiên cứu này có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như sau:
Tác phẩm “Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh” của tác giả
Nguyễn Minh Tường, Nxb. Khoa học xã hội, năm 1996. Trong công trình
16
này tác giả đã tập trung nghiên cứu rất sâu về cơ cấu tổ chức, hoạt động của
cơ quan giám sát dưới triều vua Minh Mệnh và đưa ra nhận định vào thời
kỳ này tư tưởng pháp trị được đề cao. Đồng thời, những tư tưởng pháp trị
này đã được thực hiện hết sức nghiêm minh nhằm tạo điều kiện cho việc
hoạt động của bộ máy hành chính hiệu quả, hạn chế tình trạng tham nhũng
của đội ngũ quan lại của triều đình. Mặc dù vậy tác phẩm lại chưa đi sâu
phân tích về các tư tưởng này mà chỉ dừng lại ở việc khái quát tư tưởng
chính trị của vua Minh Mệnh mà thôi.
Công trình “Lịch sử tư tưởng Việt Nam”, tập II, Nxb Khoa học xã
Bài viết “Vua Minh Mạng với tư tưởng “củng cố nền thống nhất
quốc gia” của tác giả Nguyễn Minh Tường, tạp chí Xưa và nay, số 286,
tháng 6/2007. Theo tác giả, trong số những vị vua của triều đình nhà Nguyễn
thì Minh Mệnh là người thông minh, có tài cai trị hơn cả. Vì vậy, dưới sự trị
vì của Minh Mệnh thì nhà Nguyễn đã đạt được rất nhiều thành tựu quan
trọng trên rất nhiều các lĩnh vực từ kinh tế, quân sự, văn hoá… và đây cũng
chính là giai đoạn triều đình phát triển mạnh mẽ nhất. Đến thời kỳ trị vì
của vua Minh Mệnh thì vấn đề củng cố nền thống nhất quốc gia trở nên hết
sức cấp bách. Trong đó, theo tác giả thì vấn đề toàn vẹn lãnh thổ được vua
Minh Mệnh đặt lên hàng đầu, đặc biệt những vùng đất ở biên cương, hải
đảo xa xôi được ông tăng cường xác lập chủ quyền.
Tác giả Bùi Huy Khiên với công trình “Những bài học từ hai cuộc cải
cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh”, Nxb.
Lao động, Hà Nội, năm 2011. Theo tác giả, giai đoạn lịch sử đó được đánh
dấu là từ khi vua Gia Long lên ngôi tới khi vua Minh Mệnh kế vị, đây chính là
kết quả của một quá trình nội chiến lâu dài, tình hình đất nước lâm vào một
cuộc khủng hoảng trầm trọng. Bức tranh của xã hội Việt Nam được mô tả là sau
nhiều năm trải qua chiến tranh khốc liệt, diễn ra ở cả 2 miền Nam - Bắc cho đến
cuộc nội chiến đẫm máu Trịnh - Nguyễn phân tranh, rồi đến chiến tranh giữa
quân Tây Sơn với Nguyễn Ánh đã làm cho nền kinh tế đất nước
kiệt quệ, xã hội mất ổn định, kỷ cương lỏng lẻo, tổ chức bộ máy hành chính
18
các cấp không thống nhất, hoạt động kém hiệu quả. Vì vậy, theo nhà nghiên
cứu Bùi Huy Khiên thì việc phải tiến hành cải cách hành chính đã làm cho bộ
máy hành chính mạnh lên đủ để quản lý một đất nước thống nhất, rộng lớn
sư phạm, Hà Nội, xuất bản vào năm 2016. Công trình này gồm có 5 chương,
trong đó chương 4 đề cập đến lịch sử triều Nguyễn. Tác giả đề cập đến lịch
sử Việt Nam từ giai đoạn sơ sử cho đến triết học Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX. Lịch sử của dân tộc Việt Nam được các tác giả khắc họa tạo nên bức
tranh sinh động đề cập trong tác phẩm này, tư tưởng của dân tộc tồn tại từ
rất lâu đời, trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử. Bởi vì, quá trình
hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Việt Nam gắn liền với điều
kiện lịch sử và cơ cấu của xã hội Việt Nam. Do đó, đề cập đến vấn đề này
theo tác giả là một vấn đề mở, lĩnh vực nghiên cứu hết sức phong phú và đa
dạng do đó có rất nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu.
Bài viết “Tìm hiểu tư tưởng trị nước của vua Minh Mạng” của tác giả
Phan Quốc Khánh, tạp chí Khoa học Chính trị số 4, năm 2004. Bài viết này, tác
giả cho rằng trong các vị vua triều Nguyễn thì vua Minh Mệnh là vị vua anh
minh nhất. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau nhưng theo tác giả thì không
thể phủ nhận rằng cách trị nước của ông có ít nhiều cũng đáng để chúng ta
tham khảo và rút ra trong việc quản lý xã hội. Cũng theo tác giả, ngay từ khi
lên ngôi Minh Mệnh đã thể hiện tư tưởng pháp trị. Ông đòi hỏi khi luật đã ban
hành thì phải thực hiện nghiêm minh. Bởi vì pháp luật mà không được thực
hiện nghiêm minh thì chẳng khác nào không có pháp luật. Mặc dù thiên về Pháp
trị nhưng Minh Mệnh tỏ ra không cực đoan như Hàn Phi mà vẫn đề cao Nho
giáo, xem trọng vai trò của đạo đức. Ông đã cho xây dựng văn miếu để thờ
Khổng Tử ở kinh đô Huế và các tỉnh, ban phát rất nhiều sách kinh điển Nho
giáo. Ngoài ra, Minh Mệnh rất ngưỡng mộ vua Lê Thánh Tông và đã cố gắng
trở thành một Lê Thánh Tông thứ hai, ông muốn xây
dựng một đất nước thịnh trị “quốc thái, dân an” nhưng lại không thành công
như ông mong muốn. Ông được đánh giá là ông vua anh minh nhất triều
20