Tư tưởng chính trị thời trần nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-----000-----

NGUYỄN THỊ THÙY DUYÊN

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
THỜI TRẦN - NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM
VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-----000----NGUYỄN THỊ THÙY DUYÊN

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
THỜI TRẦN - NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM
VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
Chuyên ngành: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Mã số: 62.22.80.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS, TS. NGUYỄN THẾ NGHĨA
Phản biện:

XIII-XIV - cơ sở xã hội hình thành tư tưởng chính trị thời Trần .......... 16
1.1.2. Nhu cầu xã hội hình thành tư tưởng chính trị thời Trần ............... 33
1.2. Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng chính trị thời Trần ......... 41
1.2.1. Giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam với việc hình thành
tư tưởng chính trị thời Trần ...................................................................... 42
1.2.2. Tư tưởng của “Tam giáo” với việc hình thành tư tưởng
chính trị thời Trần ...................................................................................... 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................... 62
Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
THỜI TRẦN .............................................................................................. 65
2.1. Tư tưởng về thể chế chính trị và tổ chức xã hội trong tư
tưởng chính trị thời Trần ....................................................................... 66
2.1.1. Tư tưởng về cơ cấu xã hội và quan hệ giai cấp xã hội trong tư
tưởng chính trị thời Trần ............................................................................. 67
2.1.2. Tư tưởng về quyền lực chính trị và thể chế chính trị trong tư
tưởng chính trị thời Trần ............................................................................. 77
2.1.3. Tư tưởng về tổ chức và quản lý xã hội trong tư tưởng chính trị
thời Trần ...................................................................................................... 82


2.2. Tư tưởng đối nội và đối ngoại trong tư tưởng chính trị thời
Trần ............................................................................................................ 99
2.2.1. Chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự chủ, tinh thần đoàn kết dân
tộc và tư tưởng vương quyền, thần quyền trong hoạt động đối nội
của thời Trần .............................................................................................. 99
2.2.2. Tư tưởng về chính sách và cách thức tổ chức quân sự của
thời Trần ................................................................................................... 106
2.2.3. Tư tưởng về chính sách và đường lối ngoại giao của thời
Trần ........................................................................................................... 115
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ......................................................................... 119

để tiến hành các hoạt động khác nhau trong xã hội.
Sau gần 30 năm đổi mới đất nước, trong bối cảnh yêu cầu hội nhập
với nền kinh tế khu vực và thế giới ngày càng khẩn trương và sâu rộng
hơn, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, tiếp thu những bài học
kinh nghiệm quan trọng, nhưng vẫn còn tồn tại của những yếu kém,
khuyết điểm. Bên cạnh những cơ hội phát triển mà quá trình toàn cầu hóa,
hội nhập quốc tế đem lại thì quá trình này cũng dẫn đến những tranh chấp
quyền lực, những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội ở một số quốc gia
trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. Điển hình là các
hoạt động tranh chấp, xung đột cục bộ, hoạt động khủng bố quốc tế đang
gây mất ổn định chính trị ở khu vực và nhiều nơi trên thế giới, như khủng
bố ở Mỹ và các nước phương Tây, khủng hoảng chính trị ở Ukcraina,
tranh chấp quyền lợi kinh tế và chính trị giữa các nước khu vực biển


2

Đông, sự nổi dậy của những phe phái tôn giáo cực đoan... Do đó, để công
nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công, Đảng ta luôn khẳng định nhiệm vụ
phát triển kinh tế là trọng tâm, còn nhiệm vụ ổn định chính trị là then chốt.
Để giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội trên một mảnh đất luôn bị đe dọa
bởi sự xâm lăng và nguy cơ đồng hóa như đất nước ta trong lịch sử, trong
suốt tiến trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã biết dựa vào sức
mạnh tổng hợp toàn dân tộc để thực hiện chủ quyền độc lập, tự do của
mình. Một trong những sức mạnh tổng hợp đó chính là bản sắc văn hóa
truyền thống, những giá trị tinh thần dân tộc, hình thành nên nội lực mạnh
mẽ của toàn thể dân tộc ta. Nội lực đó đã và đang phát huy sức ảnh hưởng
mạnh mẽ đến công cuộc bảo vệ, phát triển đất nước, đồng thời góp phần
tạo dựng cho dân tộc ta một nghệ thuật chính trị độc đáo, bởi lẽ “trong
điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt giữ

dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tổ
chức và quản lý các quá trình kinh tế - xã hội hiện nay ở nước ta, thực tế
vẫn tồn tại nhiều vấn đề cả về lý luận và thực tiễn cần tập trung giải quyết
như: những bất cập tồn tại trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước
thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội; hệ thống pháp luật chưa đồng bộ và
hoàn thiện, dẫn đến chưa theo kịp sự phát triển của đời sống, vấn đề
quyền lực thuộc về nhân dân còn mang tính hình thức,... Để hoàn thiện và
phát huy hiệu quả vai trò của chính trị và hệ thống chính trị trong quá
trình phát triển đất nước hiện nay, việc tiếp thu, kế thừa tư tưởng chính trị
của cha ông ta trong lịch sử, đặc biệt là tư tưởng chính trị thời Trần là hết
sức cần thiết và bổ ích. Do vậy, tác giả chọn đề tài “Tư tưởng chính trị
thời Trần - nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử” làm đề tài luận án của
mình với mong muốn góp phần làm sáng tỏ những điều kiện, tiền đề dẫn
đến sự hình thành và phát triển của tư tưởng chính trị thời Trần, những nội
dung cơ bản và những đặc điểm, ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị


4

thời Trần, góp phần không chỉ làm rõ quy luật kế thừa của tư tưởng, mà
còn thông qua đó gợi nên nhiều vấn đề và bài học quý báu đối với chúng
ta hiện nay.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng chính trị thời Trần với tính cách là một hình thái ý thức xã
hội, một mặt phản ánh và bị chi phối bởi đặc điểm, nhu cầu của xã hội
Việt Nam thời kỳ nhà Trần; mặt khác, là sự kế thừa những tiền đề tư
tưởng, tôn giáo trước đó. Do vậy, để tìm hiểu tư tưởng chính trị thời Trần,
đã có nhiều công trình nghiên cứu, những bài viết dưới các phương diện,
hình thức và mức độ khác nhau. Có thể khái quát các công trình nghiên
cứu đó theo các hướng nghiên cứu sau:

liệu quý giá cho việc nghiên cứu về lịch sử đất nước, xã hội, văn hóa, con
người Việt Nam thời cổ đại và trung đại. Điều đặc biệt của công trình này
là được biên soạn từ cuối thế kỉ XIII đến cuối thế kỉ XVII qua sự đóng
góp của Quốc sử viện nhiều đời từ thời Trần đến thời Lê Trung hưng, do
vậy, như nhận xét của Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn “đối với thời
kỳ lừng danh như thời Đại Việt, nó là cả một bản anh hùng ca, cái gì có
liên quan đến nó, dẫu là một câu, một dòng chữ tự tay nhân vật đã sống
hoặc đã chứng kiến những giờ phút huy hoàng viết ra, mà ta được đọc hay
được nghe, đều là tiếng nói thân thiết từ ngàn xưa vọng lại...” [120, 7-8].
Đó là nguồn tư liệu nguyên bản, đáng tin cậy nhất mà tác giả luận án sử
dụng để trích dẫn cho những nội dung nghiên cứu, những nhận định đánh
giá trong luận án của mình.
Bên cạnh bộ Đại Việt Sử ký toàn thư kể trên, lịch sử các triều đại
phong kiến Việt Nam còn được ghi chép trong bộ Khâm định Việt sử
thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn ra vào thế kỷ
XIX. Tuy nhiên, hai công trình trên chủ yếu tập trung vào các tài liệu lịch
sử, còn các tài liệu về chính trị kinh tế học, địa lý học, luật học, văn học,


6

ngoại giao, quân sự, chế độ quan liêu... lại được trình bày trong các thư
tịch Việt Nam, tiêu biểu là bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan
Huy Chú do Viện Sử học dịch và chú giải. Công trình này nghiên cứu tập
trung 10 bộ môn: Dư địa chí (tình hình địa lý và lịch sử địa lý của nước
Việt Nam), Nhân vật chí (tiểu sử các vua chúa, các quan lại, các nho sĩ,
các tướng sĩ, các người có tiết nghĩa, có tên tuổi trong lịch sử Việt Nam),
Quan chức chí (lịch sử chế độ quan liêu Việt Nam trong lịch sử), Lễ nghi
chí (nghi lễ, phẩm phục vua chúa, quan lại, các lễ của triều đình), Khoa
mục chí (chế độ khoa cử và những người thi đỗ từ tiến sĩ trở lên từ triều

Hướng thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu tư tưởng chính trị
thời Trần dưới góc độ văn hóa, tôn giáo. Thời đại nhà Trần đã để lại
những dấu ấn sâu sắc, nổi bật trong lịch sử, do vậy mà đã có khá nhiều
công trình văn hóa, tôn giáo nghiên cứu về giai đoạn lịch sử này. Để tìm
hiểu những điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng chính trị thời Trần,
những nội dung cơ bản và đặc điểm, ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị
thời Trần, tác giả đã kế thừa các công trình có liên quan đến chủ đề này
như: trọn 3 tập “Thơ văn Lý - Trần” do Viện Văn học biên soạn (Nxb.
Khoa học xã hội, tập 1 xuất bản năm 1977, tập 2 xuất bản năm 1989 và
tập 3 xuất bản năm 1978). Đây là một công trình khá đồ sộ, được thực
hiện công phu và trình bày nguyên bản các tác phẩm, bản văn, thơ, kèm
theo những lời giới thiệu, đánh giá khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của
các vị vua và quan lại, tướng lĩnh thời Trần. Theo đó, những quan điểm
chính trị, những nhìn nhận về vai trò của nhân dân, về công cuộc cai trị
đất nước, về đạo, về đời của các Vua và tướng lĩnh thời Trần được thể
hiện rõ nét qua các các tác phẩm như thơ và các bài viết răn dạy của Trần
Thái Tông, Trần Nhân Tông, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn,...
Đó là cơ sở đáng tin cậy cho tác giả luận án trong việc trích dẫn cũng như
đưa ra những nhận định, đánh giá của mình. Ngoài ra, phải kể đến những


8

công trình bàn về văn hóa chính trị, tôn giáo như: Lịch sử các định chế
chính trị và pháp quyền Việt Nam, tập 1, của Phan Đăng Thanh, Trương
Thị Hoa (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); Sự phát triển tư tưởng
Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám (ý thức phong
kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử), tập 1, của Trần
Văn Giàu (Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1993); Tổng tập văn học Phật
giáo Việt Nam, tập 1, của Lê Mạnh Thát (Nxb. Văn hóa Huế, 1999); Đại

Thư (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993); Lịch sử tư tưởng Việt Nam
của Nguyễn Đăng Thục (Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998); Tư tưởng
triết học của thiền phái Trúc Lâm đời Trần của Trương Văn Chung (Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); Đại cương lịch sử tư tưởng triết học
Việt Nam, tập 1, do Nguyễn Hùng Hậu chủ biên (Nxb. Khoa học xã hội,
Hà Nội, 2002); Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, của Nguyễn Trọng
Chuẩn (chủ biên) (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006); Tư tưởng Việt
Nam thời Lý - Trần, do Doãn Chính và Trương Văn Chung chủ biên (Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); Lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Việt
Nam từ Bắc thuộc đến thời kỳ Lý - Trần, của Lê Văn Quán (Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2008); Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, từ thời kỳ
dựng nước đến đầu thế kỷ XX do Doãn Chính chủ biên (Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2013)...
Công trình Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1 của Viện Triết
học do Nguyễn Tài Thư chủ biên, trình bày tư tưởng triết học Việt Nam từ
thời Tiền sử và Sơ sử đến thế kỷ XVIII, thông qua các chủ đề tương ứng
với 6 thời kỳ lịch sử. Qua đó, tập thể tác giả trình bày khái quát các điều
kiện xã hội, các quan điểm, tư tưởng của mỗi thời kỳ tương ứng với các
nhiệm vụ của dân tộc ta, mà tựu trung lại, nổi bật nhất là tư tưởng về độc
lập dân tộc, chủ quyền đất nước, ý thức đạo đức, quan điểm nhân sinh, tư


10

tưởng chính trị - xã hội và văn hóa tư tưởng... Trong đó, phần thứ 3, “Tư
tưởng thời kỳ phục hồi và xây dựng quốc gia độc lập thế kỷ X đến thế kỷ
XIV” là phần có liên quan trực tiếp đến chủ đề luận án, chỉ ra sự phát triển
của tư tưởng chính trị - xã hội, những quan điểm quân sự của Trần Quốc
Tuấn, sự ảnh hưởng Phật giáo và Nho giáo đến văn hóa tư tưởng của thời
Lý - Trần.

phân tích tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam qua các triều đại Ngô,
Đinh, Tiền Lê, Lý, đó là nguồn tài liệu cho tác giả luận án tham chiếu
trong việc phân tích đặc điểm tiếp biến của tư tưởng chính trị thời Trần.
Từ trang 165 đến trang 218 của công trình này, tác giả Lê Văn Quán đã
phân tích “tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam triều Trần” với những nội
dung như: tổ chức chính quyền và quan chế, tổ chức quân sự, pháp luật,
chính sách phục hồi kinh tế, phát triển đất nước; từ đó tác giả rút ra đặc
điểm tư tưởng chính trị - xã hội thời kì này như: tư tưởng yêu nước, quyết
tâm giành độc lập dân tộc, tư tưởng trọng dân, tư tưởng quân quyền, tư
tưởng thần quyền. Mặc dù những nội dung này chỉ được trình bày khái
quát với hàm lượng không nhiều, nhưng đó thật sự là những gợi mở hữu
ích cho tác giả trong quá trình thực hiện luận án của mình.
Kết quả của những công trình nghiên cứu kể trên thật sự là tài liệu
khoa học bổ ích cho chúng tôi trong việc học tập, kế thừa, phát triển
những nội dung được trình bày trong đề tài luận án. Tuy nhiên, trong các
công trình kể trên, các tác giả chủ yếu tập trung phân tích khái quát các
khía cạnh lịch sử, văn hóa, tôn giáo, triết lý tư tưởng của các nhà tư tưởng
qua các triều đại theo tiến trình lịch sử. Tiếp thu thành quả của các công
trình trên, tác giả luận án cố gắng đi sâu vào nghiên cứu, trình bày những
điều kiện, tiền đề dẫn đến sự hình thành tư tưởng chính trị thời Trần cùng
những nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị thời
Trần một cách chuyên sâu và hệ thống.


12

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án:
Mục đích của luận án là tập trung phân tích, làm rõ những nội dung
cơ bản của tư tưởng chính trị thời Trần, từ đó chỉ ra những đặc điểm và ý

cứ liệu về niên đại, sự kiện, những nhận xét của người đương thời, cũng
như của những người nghiên cứu sau này, về những nhà chính trị, nhà tư
tưởng thời Trần, nhằm không sa vào thiên kiến chủ quan trong nhận định,
đánh giá về tư tưởng chính trị thời Trần.
6. Cái mới của luận án
Một là, luận giải một cách sâu sắc, có hệ thống lý do và cơ sở ra đời
của tư tưởng chính trị thời Trần.
Hai là, hệ thống hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị
thời Trần.
Ba là, khái quát những đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng
chính trị thời Trần đối với lý luận và thực tiễn chính trị thời Trần, đồng
thời liên hệ với những vấn đề chính trị của nước ta hiện nay.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học, luận án góp phần làm rõ nội dung và đặc điểm
cơ bản của tư tưởng chính trị thời Trần, từ đó giúp người đọc tìm hiểu một
cách có hệ thống và sâu sắc về những quan điểm và thể chế chính trị được
vận dụng, thực hiện dưới thời Trần.
Về ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu nội dung tư tưởng chính trị thời
Trần, từ đó rút ra những đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của nó là góp phần
xây dựng và hoàn thiện tư duy chính trị của nước ta, gìn giữ và phát huy
những giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc trong công cuộc đổi mới,
hội nhập hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng
làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, giảng dạy và học tập
Lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Việt Nam.


14

8. Kết cấu của luận án
Với mục đích và nhiệm vụ trên, ngoài phần mở đầu, phần kết luận

quyền trung ương tập quyền vững mạnh.
1.1. CƠ SỞ VÀ NHU CẦU XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
CHÍNH TRỊ THỜI TRẦN


16

Lịch sử tồn tại và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam đã
chứng kiến sự thay thế triều đại này bằng một triều đại khác diễn ra như
một quá trình tất yếu, mang tính khách quan. Triều đại đang thống trị một
khi đi vào khủng hoảng, tỏ ra bất lực trong việc điều hành quốc gia, gây
mất ổn định xã hội thì một bước ngoặt chuyển giao quyền lực sẽ được
thực hiện. Bước chuyển giao quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần cũng
không nằm ngoài tính tất yếu đó. Vào những năm cuối thế kỷ XII, đầu thế
kỷ XIII, những vị vua cuối cùng của nhà Lý như Lý Cao Tông, Lý Huệ
Tông trên thực tế đã không còn đại diện cho lợi ích quốc gia lẫn lợi ích
của tầng lớp quý tộc phong kiến. Sự quan liêu, lũng đoạn của những kẻ
gian thần vây quanh triều đình bạc nhược và thiển cận dẫn đến sự suy yếu
của bộ máy quyền lực nhà Lý. Trong bối cảnh đó, việc phế bỏ nhà Lý suy
yếu đang cản trở con đường phát triển của dân tộc là một động thái chính
trị không thể trì hoãn. Bước chuyển giao quyền lực chính trị êm thắm từ
nhà Lý sang nhà Trần đã tạo điều kiện thuận lợi cho Đại Việt kế tục nhiều
thành tựu trong việc phát triển kinh tế, ổn định xã hội có được từ thời Lý.
Xã hội Đại Việt dưới thời Trần được xem là giai đoạn phát triển rực rỡ
của chế độ phong kiến Việt Nam.
1.1.1. Bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam thế
kỷ XIII-XIV - cơ sở xã hội hình thành tư tưởng chính trị thời Trần
Về kinh tế và các hoạt động kinh tế thời kì nhà Trần, dựa trên các
tài liệu lịch sử, các nhà sử học đều thống nhất rằng, “cơ sở kinh tế của xã
hội thời Lý - Trần (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII) về cơ bản là chế độ sở

đông, tháng 11 năm Bính Thìn (1316), sai tể thần, tôn thất cùng các quan
gặt ruộng tịch điền” [133, 101]. Ngoài ra, ruộng quốc khố còn do những
người bị tù tội, thân phận thấp hèn cày cấy, năm 1230, những người bị tội
đồ “thì thích vào mặt 6 chữ, cho ở Cảo xã (nay là xã Nhật Cảo), cày ruộng
công, mỗi người 3 mẫu, mỗi năm phải nộp 300 thăng thóc” [133, 12]. Tuy


18

nhiên, ruộng đất công thuộc về danh nghĩa của vua, nhưng thực chất là
công điền, công thổ của làng xã, do công xã quản lý và phân phối cho các
thành viên công xã cày cấy; nông dân nộp lại tô thuế, nô dịch cho nhà
nước. Ruộng công làng xã dưới thời nhà Trần đã thực sự trở thành một
cơ sở kinh tế của nhà nước. Như vậy, quyền sở hữu nhà nước được thiết
lập trên các công xã nông thôn, nghĩa là vua nắm quyền sở hữu tối cao
về ruộng đất, còn các công xã được nắm quyền chiếm dụng và phân phối
lại ruộng đất cho các thành viên công xã. Đây là mối quan hệ sở hữu kép
mang đậm màu sắc của chế độ phong kiến phương Đông. Tuy nhiên, sự
chi phối của nhà nước và ý thức bảo vệ bộ phận ruộng đất công này còn
chưa chặt chẽ, biểu hiện ra là các làng xã được phân công ruộng đất công
không bằng nhau và không phải nhân đinh nào cũng được chia đều ruộng
đất như nhau, “nhân đinh có ruộng đất thì nộp tiền thóc, người không có
ruộng đất thì miễn cả” [133, 19]. Quan hệ sở hữu kép này cộng hưởng
với chính sách ban cấp ruộng đất cho công thần của các vua Trần đã góp
phần làm lộ diện mạnh mẽ hình thức sở hữu tư nhân về ruộng đất dưới
thời Trần.
Trên bước đường xây dựng một nhà nước ngày càng hoàn chỉnh,
đến thời Trần, nhà nước định lệ cấp bổng cho các quan văn võ trong
ngoài, sử dụng ruộng đất công làng xã vào việc phong cấp cho quan lại,
họ hàng, cận thần và công thần của mình. Chính sách ban cấp ruộng đất và

khắp và trở thành một nhân tố kinh tế mới. Năm 1254, triều đình ra lệnh
“bán ruộng công, mỗi diện là 5 quan tiền (bấy giờ gọi mẫu là diện), cho
phép nhân dân mua làm ruộng tư” [133, 25]. Tiền tệ cũng đã xâm nhập
mạnh mẽ vào ruộng đất. Ruộng đất trở thành hàng hóa mua bán trao đổi,
chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân được mở rộng và phát triển mạnh. Khi
việc mua bán ruộng đất tương đối phổ biến, ruộng đất của dân nghèo được
chuyển vào tay địa chủ ngày càng nhiều sẽ gây ra những năm mất mùa đói


20

kém. Tháng 4 năm 1290 “đói to, 3 thăng gạo giá 1 quan tiền, dân nhiều
người bán ruộng đất, và bán con trai con gái làm nô tỳ cho người, mỗi
người giá 1 quan tiền” [133, 67]. Đến khi việc mua bán ruộng đất dồn dập
hơn, triều đình phải ra lệnh qui định thể thức làm văn tự bán hay đợ ruộng
đất, xuống chiếu “những người mua dân lương thiện làm nô tỳ thì cho
chuộc lại, ruộng đất và nhà ở không theo luật này” [133, 68]; “phát thóc
công chẩn cấp dân nghèo và miễn thuế dân đinh” [133, 67]. Như vậy,
ruộng đất đã thực sự biến thành hàng hóa, kích thích tầng lớp quí tộc xúc
tiến mạnh mẽ việc khai khẩn đất hoang lập điền trang, mua bán ruộng đất,
kinh doanh làm giàu. Do đó, diện tích đất của nông dân ngày càng bị thu
hẹp. Hệ quả của nó là sự phân hóa sâu sắc trong xã hội, sự bóc lột của giai
cấp thống trị tất yếu làm bùng nổ những cuộc khởi nghĩa của nông nô, nô
tỳ, tạo ra vết nứt trên bình diện chung của nền kinh tế xã hội thời Trần.
Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp với đặc trưng là
chế độ sở hữu về ruộng đất, thời Trần, triều đình cũng chú trọng xây dựng
các công trình thủy lợi, trị thủy, xây dựng hệ thống đê dọc sông Hồng và
các sông đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Năm 1255, “sai Lưu Miễn bồi
đắp đê sông các xứ ở Thanh Hóa” [133, 25], đồng thời cho nạo vét kênh
ngòi tạo điều kiện thuận lợi để sản xuất, bảo vệ mùa màng, tránh thiên tai,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status