HỒI SỨC TRONG SỐC GIẢM THỂ TÍCH - Pdf 19


12
HỒI SỨC TRONG SỐC GIẢM THỂ TÍCH

I. ĐỊNH NGHĨA:
- Sốc giảm thể tích là kết quả của giảm nghiêm trọng và đột ngột khối lượng máu, là
nguyên nhân của giảm dòng máu TM trở về tim, giảm lưu lượng tim, giảm tưới máu mô với
rối loạn chuyển hóa tế bào.
- Nguyên nhân thường xảy ra là do chảy máu nghiêm trọng, dễ nhận biết. Đôi khi sốc
giảm thể tích do mất huyết tương hoặc do mất nuớc lớn, có nguồn gốc từ tiêu hóa, thận
hoặc da.
- Điều trị hợp lý nhất là bổ sung khẩn trương các lượng đã mất, về số luợng cũng như chất
lượng.
II. SINH LÝ BỆNH HỌC:
II.1. Cường độ và khả năng hồi phục của sốc giảm thể tích: tùy thuộc vào mức độ và
tốc độ mất dịch cũng như tình trạng huyết động lực của bệnh nhân trước đó. Ở một người
trước kia khoẻ mạnh, không có rối loạn huyết động lực, trên lý thuyết sốc giảm thể tích chỉ
có thể xuất hiện khi khối lượng máu toàn cơ thể giảm từ 20 – 30 %. Nhưng nếu trước khi
bệnh nhân vốn sẵn có giảm khối lượng lưu hành, thiếu máu mãn tính, tổn thương tim phổi
tiềm tàng hoặc bị nhiễm khuẩn… thì suy sụp tuần hoàn có thể xảy ra với lượng máu mất ít
hơn.

13
II.2. Trong tất cả các trường hợp cơ thể đáp ứng bằng 2 cơ chế bù trừ đồng thời: Di
chuyển các dịch thể và phản ứng cường giao cảm:
- Quá trình phục hồi thể tích bắt đầu ngay lập tức bằng cách di chuyển các dịch khe kẽ
vào khu vực nội mạch. Trong giai đoạn cấp, nước chuyển dịch nhanh và nhiều vào khoảng
20 – 80 ml/giờ. Trong khi đó hồng cầu hồi phục chậm hơn nhiều (vào khoảng 20 ml/ 24
giờ). Vì thế cho nên trong những giờ đầu, Hct giảm, chứng tỏ có hiện tượng pha loãng máu.
Triệu chứng này có tính chất đặc hiệu cho sốc giảm thể tích nhưng không thể căn cứ vào
mức độ Hct giảm để lượng giá mức độ quan trọng của sốc giảm thể tích.

- Thiểu – vô niệu
III.1.2. Chẩn đoán:

15
Trạng thái giảm thể tích, chẩn đoán không khó nhưng tìm hiểu được nguyên nhân không
phải lúc nào cũng dễ. Có những khó khăn nhất định do vị trí của tổn thương ( ví dụ: tràn
máu phế mạc lớn) hoặc do tính chất tổn thương. Vì thế nhiều khi cần phải có các biện pháp
chẩn đoán kết hợp như:
- Dẫn lưu phế mạc: để tìm hiểu lượng máu mất trong phế mạc
- Chọc rửa ổ bụng: để tìm hiểu lượng máu mất trong ổ phúc mạc
- Siêu âm bụng: để khám phá các ổ máu tụ sau phúc mạc
- Đặt ống thông dạ dày, ống thông hậu môn, theo dõi lượng phân đen, theo dõi chảy máu
thực quản, dạ dày, tá tràng, trực tràng
- Ơ phụ nữ chú ý đến nguyên nhân thai ngoài tử cung.
III.2. Sốc giảm thể tích đơn thuần, không kèm theo mất máu:
Tương đối hiếm gặp, chỉ xảy ra với người già, vào tuổi cuối đời
III.2.1. Nguyên nhân:
- Nguyên nhân tiêu hóa: nôn mửa, hút dạ dày, đi lỏng không được bù đắp hặc bù đắp
kém, tắc ruột… lượng giá mức độ mất nước thiếu chính xác thậm chí thiếu chú ý trong theo
dõi các lượng nước mất
- Nguyên nhân nội tiết: đái tháo nhạt, đa niệu thẩm thấu, suy tuyến thượng thận
- Nguyên nhân ngoài da: say nắng, đổ mồ hôi đầm đìa, bỏng rộng, hội chứng Lyell  sốc
do mất một lượng huyết tương lớn

16
III.2.2. Sốc giảm thể tích không kèm theo mất máu làm tăng thêm các loại sốc có
nguyên nhân khác và chẩn đoán khó khăn hơn. Ví dụ: viêm tụy cấp, viêm phúc mạc,
nhồi máu mạc treo, tắc ruột, hoại thư sinh hơi
III.2.3. Những đặc điểm khác của sốc giảm thể tích:
- Các triệu chứng rối loạn huyết động lực

+ HEA))

18
>1,5 TTLH (>150
%)
Như trên. Truyền bổ sung tiểu cầu ( nếu số lượng tiểu cầu <
60000 mm
3
, hoặc thời gian chảy máu > 8 phút)

IV.2. Các chỉ tiêu bù đắp TTLH có kết qua
IV.2.1. Lâm sàng
- Giảm nhịp tim nhanh
- Huyết áp động mạch (HA tâm thu tăng, HA tâm trương bình thường, không có hiện
tượng kẹp HA). HA động mạch bình thường: 100 – 110 mmHg.
- Tình hình tri thức bệnh nhân cải thiện
- Triệu chứng ở da: hồng ấm, đặc biệt không còn nổi vân đá
- Lượng nước tiểu > 50 ml/giờ
IV.2.2. Mục tiêu tối thiểu cần đạt được trong bù đắp giảm thể tích lưu hành do
sốc mất máu:

Mục tiêu Tỷ lệ % của chỉ số
bình thường cần đạt
được
Trị số tuyệt đối cần đạt
được trong bù đắp TTLH

19
Thể tích lưu hành
Hématocrite

chấn thương gây nên (và nhiễm khuẩn thứ phát) do yếu tố giảm thể tích là chủ yếu, cho nên
có sách tác giả gọi sốc chấn thương là sốc giảm thể tích.
IV.3.2. Điều trị sốc chấn thương:

21
I.3.2.1 Điều trị cơ bản:
Phẫu thuật để giải quyết nguyên nhân gây sốc (chảy máu + tổn thương các tạng + xương
khớp + phần mềm…)
- Phẫu thuật cơ bản: giải quyết tất cả các tổn thương cùng một lúc. Tùy tình hình tổn
thương, tình trạng bệnh nhân, điều kiện gây mê hồi sức, phẫu thuật mà có thể xúc tiến 1-2-3
kíp mổ đồng thời.
- Phẫu thuật cấp cứu: chỉ giải quyết những gì cần thiết nhất để cứu lấy sinh mạng bệnh
nhân. Còn lại sẽ mổ sau khi tình hình bện nhân đã cơ bản ổn định.
I.3.2.2 Vừa hồi sức vừa mổ
Tranh thủ thời gian mổ càng sớm càng tốt, giải quyết nguyên nhân gây sốc chấn thương
đặc biệt là chảy máu, nhưng trước tiên phải hồi sức tích cực để bệnh nhân có thể chịu đựng
được tối thiểu. Đặc biệt là giai đoạn hôn mê (dễ bị ngừng tuần hoàn, hô hấp do tác dụng của
thuốc mê, thuốc dãn cơ và thủ thuật đặt ống nội khí quản).
Quan niệm vừa hồi sức vừa mổ còn phải quán triệt trong các giai đoạn mổ, phối hợp
nhịp nhàng giữa người gây mê và phẫu thuật viên.
I.3.2.3 Biến chứng trong và sau mổ:
Trong sốc giảm thể tích đơn thuần biến chứng chủ yếu do truyền dịch nhất là truyền
máu khối lượng lớn.
Trong sốc chấn thương, ngoài công tác bù đắp khối lượng máu đúng mức còn phải:

22
- Oxy liệu pháp. Thông khí thích hợp từ thấp đến cao. Ngăn ngừa và điều trị suy hô hấp
cấp (nếu có)
- Chống đau đớn: bất động + an thần + giảm đau
- Hỗ trợ tuần hoàn: Catéecholamines + trợ tim


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status