Gây mê hồi sức trong phẫu thuật cắt thận qua nội soi - Pdf 94

GÂY MÊ HỒI SỨC TRONG PHẪU THUẬTCẮT THẬN QUA NỘI SOI TÓM TẮT
Mục tiêu: xác định các tai biến gây mê gây ra khi bơm thán khí vào phúc mạc
trong cắt thận qua ngã nội soi.
Thiết kế nghiên cứu: tiền cứu, cắt ngang.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 82 bệnh nhân ASA từ I – III, tuổi trung
bình 47,8 ± 15,9 tuổi, được phẫu thuật chương trình cắt thận qua ngã nội soi ổ
bụng hoặc sau phúc mạc, từ tháng 04/2005 đến tháng 06 /2007 tại bệnh viện Bình
Dân.
Kết quả: nhịp tim và huyết áp trung bình tăng có ý nghĩa trong khoảng 10 phút đầu
sau khi bơm hơi (P<0.05), sau đó dần trở về bình thường. PetCO2 tăng liên tục và
đạt đến mức bình nguyên khoảng 30 phút sau khi bơm hơi. Toan hô hấp xuất hiện
khoảng 30 – 45 phút sau bơm hơi (P<0.05). Có 11 trường hợp tràn khí dưới da.
Phẫu thuật phải tạm dừng để tăng thải CO2 và tiếp tục lại khi đã điều chỉnh giảm
mức thán khí. Ngoại trừ tràn khí dưới da, các trường hợp tăng PaCO2 có thể điều
chỉnh bằng cách tăng thông khí phút lên khoảng 15% đến 25%.
Kết luận: phẫu thuật nội soi cắt thận khá an toàn, xâm lấn tối thiểu. Tuy nhiên,
trong lúc bơm hơi, cần phải kiểm soát thông khí để duy trì mức thán khí trong máu
bình thường.
ABSTRACT
ANESTHESIA FOR LAPAROSCOPIC NEPHRECTOMY
Tran Do Anh Vu, Ho Minh Le, Tran Thi Ngoc Phuong, Nguyen Thi Bich Hong,
Nguyen Van Chung * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 - Supplement of No 1 -
2009: 441 - 446
Background: Over the last decade laparoscopy has been popularized and become
the procedure of choice for many disorders in various specialities, mainly because
it is as effective as open surgery but is associated with a lower requirement for
postoperative analgesia, decreased length of hospitalization, faster convalescence
and better cosmetic results. With advances in instrumentation and increasing

Phương pháp nghiên cứu
Tiền cứu, cắt ngang.
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp lấy mẫu liên tiếp trên các bệnh nhân nhập bệnh
viện Bình Dân TP.Hồ Chí Minh, có chỉ định cắt thận do bệnh lý lành hoặc ác tính,
được phẫu thuật qua ngã nội soi ổ bụng hoặc sau phúc mạc, bệnh nhân đồng ý và
ký vào cam kết gây mê-phẫu thuật.
Đánh giá bệnh nhân trước mổ
* Đánh giá bệnh nhân trước mổ
Bệnh sử và khám lâm sàng: tổng trạng chung, chức năng tim mạch, hô hấp, bệnh
đi kèm.
Cận lâm sàng: công thức máu, ion đồ máu, đường huyết, chức năng đông máu
toàn bộ, chức năng gan, chức năng thận, Xquang ngực thẳng. Đánh giá tình trạng
tim mạch gồm ECG, siêu âm tim được làm theo chỉ định của bác sĩ tim mạch hoặc
bác sĩ gây mê.
* Đánh giá nguy cơ phẫu thuật theo ASA.
Kỹ thuật gây mê hồi sức
Tất cả các bệnh nhân đều được gây mê toàn diện qua ống nội khí quản, thông khí
kiểm soát. Trước khi dẫn đầu gây mê, bệnh nhân được đặt một đường truyền tĩnh
mạch kim 18G, dung dịch NaCl 0,9% hoặc Ringer Lactate.
Các phương tiện kiểm báo
ECG 3 điện cực
Huyết áp tự động xâm lấn hoặc không xâm lấn.
Độ bão hòa oxy qua mạch nẩy (SpO2)
Phân áp CO2 trong khí thở ra (PetCO2)
Nồng độ khí mê isoflurane trong khí thở ra (etIso)
Dẫn đầu gây mê được thực hiện với thuốc Midazolam 2mg, Fentanyl 1 – 3
mcg/kg, thuốc mê tĩnh mạch Propofol 1,5 – 2,5 mg/kg, thuốc dãn cơ Rocuronium
(Esmeron) hoặc Atracurium (Tracrium).
Duy trì gây mê bằng thuốc mê hô hấp Isoflurane với nồng độ khoảng 1,5 – 2 MAC

Tràn khí dưới da, thuyên tắc khí.
Rối loạn thăng bằng kiềm toan.
Xử lý và phân tích số liệu
Các số liệu được xử lý bằng phần mềm phân tích thống kê SPSS 13.0 for
Windows.
Mức ý nghĩa trong toàn bộ nghiên cứu là P<0,05.
KẾT QUẢ
Từ tháng 04 / 2005 đến tháng 06 / 2007, tại bệnh viện Bình Dân, chúng tôi đã thực
hiện gây mê phẫu thuật cho 82 trường hợp cắt thận nội soi, 47 cắt thận qua ngã nội
soi sau phúc mạc (NSHL), 35 qua ngã nội soi ổ bụng (NSOB).
Phân bố tuổi và ASA
Đặc điểm

Số trường hợp
Giới

Nam

28 (34,1%)
Nữ

54 (65,9%)
Tuổi

47,8 ± 15,9 tuổi (13 - 77)
ASA

I

37 (45,1%)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status