CUỘC ĐẤU TRANH CỦA HAI PHE CHỦ CHIẾN - CHỦ HÒA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC (1858 – 1888)_2 - Pdf 19

CUỘC ĐẤU TRANH CỦA HAI PHE CHỦ
CHIẾN - CHỦ HÒA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG
ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP
XÂM LƯỢC (1858 – 1888)

II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Phát súng lệnh xâm lược đầu tiên của thực dân Pháp ở Sơn Trà (Đà
Nẵng) đã nhanh chóng làm chia rẽ nội bộ triều Nguyễn thành hai phe
chủ chiến và chủ hoà. Từ đó trong quá trình đấu tranh chống Pháp, hai
luồng tư tưởng này luôn đối chọi nhau, nhằm tiêu diệt lẫn nhau. Chỉ khi
thực dân Pháp hoàn thành kế hoạch xâm lược Việt Nam thì sự phân
hoá này mới chấm dứt với phần thắng nghiêng về phe chủ hoà. Cuối
cùng phe chủ hoà đã câu kết với Pháp cùng bóc lột và cai trị nhân dân
ta.

1. Hoàn cảnh lịch sử

1.1. Cuối thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa
đế quốc. Vấn đề tìm kiếm thị trường và thuộc địa của chủ nghĩa đế
quốc đang trở thành vấn đề bức thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển
của nền sản xuất đại công nghiệp. Là một nước tư bản phát triển, Pháp
nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc trong hệ thống chủ nghĩa
đế quốc.

Bấy giờ trên thế giới, châu Á vẫn đang chìm đắm trong chế độ phong
kiến nghèo nàn, lạc hậu nên đã trở thành “mảnh đất hứa” của chủ
nghĩa đế quốc. Pháp nhanh chóng nhận thấy châu Á và Đông Nam Á là
thị trường cần được mở rộng. Việt Nam nhanh chóng trở thành mục
tiêu thôn tính của thực dân Pháp.


1.2. Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chế độ phong kiến đang trên
con đường khủng hoảng trầm trọng. Thời Tự Đức cao trào nông dân
khởi nghĩa đã làm chế độ phong kiến lung lay tới nền móng. Theo thống
kê chưa đầy đủ, chỉ từ năm 1848 (khi Tự Đức lên ngôi) đến năm 1862
(là năm thực dân Pháp cướp trắng ba tỉnh miền đông Nam Kỳ) đã có 40
cuộc khởi nghĩa.

Để duy trì nền thống trị của mình, phong kiến nhà Nguyễn đã ra sức
củng cố xã hội bằng mọi cách. Về đối nội thì đàn áp khốc liệt các cuộc
khởi nghĩa nông dân. Các cuộc hành quân liên miên đã khiến lực lượng
quân đội triều đình suy yếu dần, khả năng chiến đấu giảm sút. Lòng dân
oán thán, chia lìa, khối đoàn kết dân tộc rạn nứt. Tình hình trên đã gián
tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho Pháp thôn tính nước ta.

Phong trào nông dân khởi nghĩa đã khẳng định rằng, vào lúc thực dân
Pháp chuẩn bị nổ súng xâm lược nước ta là lúc mâu thuẫn giữa nông
dân và phong kiến trở nên hết sức sâu sắc. Lợi dụng sự khốn cùng của
quần chúng nhân dân lao động, các giáo sĩ phương Tây ra sức thu phục
tín đồ. Lực lượng này tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn giáo – lương.
Các giáo sĩ Pháp lúc này hoặc trực tiếp tổ chức hoặc đứng sau những vụ
khởi loạn chống triều đình, chuẩn bị cơ sở chính trị cho cuộc xâm lăng
sắp tới.

Song song với những chính sách đối nội thiển cận, phong kiến Nguyễn
đã cho thi hành một đường lối đối ngoại sai lầm: đẩy mạnh các cuộc
xâm lược Campuchia và Lào. Từ năm 1827 đến 1847, trong vòng 20
năm, nhà Nguyễn đã gây chiến tranh với người Miên, người Xiêm và
người Lào, khiến cho nhân dân vô cùng khốn khổ. Đi đánh giặc Lạp, giặc
Lào, giặc Xiêm là ác mộng của nhân dân miền Trung và miền Nam trong
thời gian đó. Kết quả của 20 năm theo đuổi chính sách xâm lược tai hại

hoà

2.1. Quá trình hình thành hai phe chủ chiến - chủ hòa trong nội bộ triều
đình Huế

Sự xâm lược của thực dân Pháp đã nhanh chóng hình thành nên hai
luồng tư tưởng chủ chiến và chủ hoà trong nội bộ triều Nguyễn. Hành
động xâm lược của thực dân Pháp đã làm cho nội bộ triều Nguyễn vốn
đã phức tạp, rối ren nay càng trở nên lúng túng bị động khi đối phó với
thực dân Pháp. Sự hình thành hai luồng tư tưởng này là hệ quả của
cuộc xâm lược mà Pháp tiến hành. Đó là phản ứng đầu tiên của nhà
Nguyễn.

Sự phân hoá thành hai phe: chủ chiến và chủ hoà trong nội bộ nhà
Nguyễn diễn ra khá sớm ngay từ khi thực dân Pháp tấn công bán đảo
Sơn Trà. Tiêu biểu cho phe chủ hoà có Trương Đăng Quế, Phan Thanh
Giản, Lưu Lượng, Trần Văn Trung, Lâm Duy Hiệp, Võ Xuân Hãn. Phe chủ
chiến có Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Phạm Hữu Nghị, Trần
Văn Vi, Lê Hiểu Hữu, Nguyễn Đăng Điều.

Phe chủ hoà chủ trương: “Chiến không bằng hoà, nhưng phải cố thủ rồi
sau mới bàn. Kẻ địch vốn cậy quyền bền súng mạnh làm sở trường, họ
ở ngoài sóng gió mặt bể, thế ta khó thắng với họ. Thượng kế bây giờ
nên lấy giữ (thủ) làm chính, giữ vững rồi sau mới có thể nói đánh, cũng
có thể nói đến hoà. Bằng không trước lo việc giữ thì đánh cũng không
được mà hoà cũng không xong” [4; 43].

Đây là tư tưởng được Tự Đức cho là hợp lẽ phải. Sở dĩ phe chủ hoà chủ
trương như vậy là bởi họ lý giải là nên nuôi sức chọn thời châm chước
đối phó. Mặt khác Tự Đức và những người trong phe chủ hoà cho rằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status