Chương 2: Lịch sử Việt Nam giai đoạn
1930 đến 1945
Chỉ thị chủ trương “Phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước
mạnh mẽ sẽ làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa”, thay đổi mọi hình
thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho phù họp với thời
kì tiền khởi nghĩa. Hình thức đấu tranh “có thể bao gồm từ hình thức
bất họp tác, bãi công, bãi thị, phá phách cho đến những hình thức cao
hơn như biểu tình, thị uy, vũ trang du kích… và sẵn sàng chuyển qua
hình thức Tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện”.
Tình hình ấy cho phép “gắn khẩu hiệu đòi cơm áo, chống thu thóc, thu
thuế với khẩu hiệu chính quyền cách mạng của nhân dân”, “chuyển qua
những hình thức đấu tranh cao hơn: tổng biểu tình tuần hành, bãi công
chính trị, mít tinh công khai, bãi khóa, bãi thị, bất họp tác với Nhật về
mọi phương tiện”, “huy động đội tự vệ tước vũ khí của binh lính (Pháp)
bại trận”, “phát động du kích ở những nơi có địa hình, địa thế”, “thành
lập Ủy ban dân tộc giải phóng ở các nhà máy, hầm mỏ, làng ấp, đường
phố, trại lính…, thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng Việt Nam”.
Chỉ thị nhận định: điều kiện Tổng khởi nghĩa đã có nhưng chưa thật
chín muồi. Nhưng những cơ hội tốt giúp cho những điều kiện Tổng khởi
nghĩa sẽ chín muồi nhanh chống. Đó là chính trị ngày càng khủng hoảng
trầm trọng, phát xít Nhật không rảnh tay đối phó với cao trào cách
mạng của nhân dân ta. Nạn đói diễn ra từ cưối năm 1944 đang trầm
trọng và sẽ gây ra nhiều tay họa khủng khiếp càng làm cho nhân dân ta
căm thù giặc Nhật. chiến tranh đến giai đoạn quyết liệt, quân đồng
minh sẽ vào Đông Dương đánh Nhật. Đảng dự kiến hai trường hợp cho
Tổng khởi nghĩa nổ ra. Thứ nhất, khi quân đồng minh vào bám chắc
địch ở Đông Dương, quân Nhật đem quân ra đánh đồng minh thì đấy là
thời điểm phát động khổi nghĩa. Thứ hai, cách mạng Nhật bùng nổ lập
loạt các xã, tỉnh, châu thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái
Nguyên, Tuyên Quang, nhân dân đã giành được chính quyền.
Ở Bắc Giang nhiều xã thuộc vùng Thượng Yên Thế, Hữu Lũng, Bố Hạ,
Hòa Hiệp…, quần chúng nổi dậy biểu tình thị uy, vũ trang, lập Ủy ban
giải phóng. Hàng ngàn quần chúng kéo đi tước vũ khí của lính đồn.
nhiều tri huyện, tri phủ bỏ chạy. toàn bộ huyện Hiệp Hòa, một phần
Yên Thế,Phú Bình được giải phóng.
Tại Bắc Ninh, sau đêm Nhật đảo chính Pháp, chi bộ Đảng xã Trung Màu
(Tiên Du) lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa lập chính quyền cách mạng ở
hai xã Trung Màu và Dương Hút. Trong tình hình ấy, tỉnh ủy Bắc Ninh
chủ trương đẩy mạnh công tác tuyên truyền đưa phong trào quần
chúng tiến lên.vì vậy chỉ trong tháng 3 và tháng 4, số hội viện Việt Minh
trong tỉnh đã tăng lên hàng vạn người.
Tại Hưng Yên, đêm 11 - 3 – 1945, đội tự vệ chiến đấu địa phương đã
đánh đồn Bần Yên Nhân thu toàn bộ vũ khí.
Hàng ngàn đảng viên, cán bộ cách mạng khác đang bị giam trong các
nhà tù Nghĩa Lộ, Sơn La, Hỏa Lò (Hà Nội), Buôn Ma Thuột, Hội An
(Quảng Nam)…nhân cơ hội Nhật – Pháp bắn nhau đã đấu tranh đòi tự
do, hoặc nổi dậy phá nhà giam , vượt ngục ra ngoài hoạt động đó là
nguồn bổ sung cán bộ quan trọng cho cách mạng, là một trong những
nhân tố thúc đẩy cao trào tiền khởi nghĩa.
Các tỉnh miền Trung cũng tích cực chuẩn bị khởi nghĩa theo chủ trương
của Đảng. Nhưng ở vào thời điểm này, khởi nghĩa từng phần mới kịp
thời ở Quãng Ngãi.
tấn thóc chia cho dân. ở Vĩnh Yên, Phúc Yên, hàng chục kho thóc bị phá.
Ở Phú Thọ trong một thời gian ngắn 14 kho thóc bị phá.
Ở Ninh Bình, ngày 15 – 3 quần chúng các quyện Nho Quan, Gia Viễn đã
phá 12 kho thóc, thu hàng trăm tấn thóc chia co dân nghèo.
Ở Thái Bình, trong tháng 3 và tháng 4, nhân dân các huyện Phụ Dực,
Thư Trì, Tiền Hải, Vũ Tiên, Tiên Hưng đã thu 1.000 tấn thóc chia cho
dân.
Ở Hải Dương, nhân dân phá 39 kho thóc và lấy 43 thuyền gạo với 2.000
tấn. Riêng các huyện phía nam tỉnh đã phá 26 kho thóc, thu 26 thuyền
với hơn 1.000 tấn gạo.
Ở Hưng Yên, Hòn Gai, Hà Đông, Sơn Tây nhân dân phá kho thóc, gạo
của Nhật.
Ở ngoại thành Hà Nội, nhân dân tiến hành phá các kho thóc, gạo của
Nhật ở phố Bắc Ninh, phố Lê Lợi, Phà Đen thu hàng trăm tấn.
Ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình cũng diễn ra nhiều
cuộc phá kho thóc, cứu đói.
Phong trào phá kho thóc, cứu đói dưới sự lãnh đạo của Đảng là một
trong những hình thức tập dượt quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao,
kết hợp đấu tranh kinh tế, chính trị, vũ trang, chuẩn bị cho Tổng khởi
nghĩa. 4.1.4 Phong trào đấu tranh ở thành thị và các khu công nghiệp
chuẩn bị đón thời cơ khởi nghĩa. Chỉ vài tháng sau, ở Sài gòn, Nam bộ,
có hàng cục vạn người tham gia tổ chức Thanh niên tiền phong. Đến
ngày 22 – 8 – 1945, Thanh niên tiền phong ra tuyên bố đứng trong mặt
trận Việt Minh và trở thành một lực lượng quan trọng trong những
ngày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và nam bộ.
Ở Huế, tại trường Quốc học, thanh niên tiền tuyến, do chính phủ Trần
Trọng Kim lập; những sinh viên yêu nước tham gia tổ chức Việt Minh để
thu hút học sinh vào đoàn thể cứu quốc.
Phong trào cách mạng ở thành thị, cuẩn bị điều kiện cho cuộc khởi
nghĩa ở thành phố thắng lợi 4.1.5 Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kì
Để đẩy mạnh hơn nữa công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, Trung
ương Đảng đã triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kì. Hội nghị
họp từ ngày 15 đến 20 – 4 – 1945 tại huyện Hưng Hóa (Bắc Giang), do
Trường Chinh, Tổng bí thư của Đảng chủ trì. Tham dự Hội nghị có đại
diện các chiến khu ở Việt Bắc, xứ ủy Bắc Kì.
Hội nghị nhận định: “Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả
các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này”[ 7;391]
Chúng ta đang ở vào giai đoạn chiến lược “phát động du kích” để chuẩn
bị phát động Tổng khởi nghĩa.
Hội nghị quyết định phát triển lực lượng vũ trang và nữa vũ trang,
thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân, xây
Tiên Phước (Quảng Nam), Đá Trắng, Sông Quao (Ninh Thuận)… 4.2.Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 Thời cơ Tổng khởi nghĩa đã đến
Sau khi phát xít Đức đầu hàng (5 – 1945), quân đồng minh tiến hành
phản công trên mặt trận Châu Á – Thái Bình Dương. Ngày 6 – 8 – 1945,
Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hirôsima. Ngày 8 – 8 – 1945,
Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản. Ngày 9 – 5, Mỹ ném quả bom nguyên
tử thứ hai xuống thành phố Nagasaki, làm chết hàng chục vạn dân
thường. cũng trong ngày này, với một lực lượng hùng hậu, Hồng quân
Liên Xô mở cuộc tổng công kích vào đạo quân Quan Đông của Nhật ở
Đông Bắc Trung Quốc.
Ngày 14 – 8 – 1945, nhận được tin Nhật đầu hàng (13/ 08 Nhật Hoàng
tuyên bố trên các làn sóng phát thanh của Nhật).
Sự đầu hàng của Chính Phủ Nhật đã đẩy quân Nhật đang chiếm đóng ở
Đông Dương vào tình thế tuyệt vọng như rắn mất đầu, hoang mang,
dao động đến cực độ. Chính phủ Trần Trọng Kim rệu rã. Tin Nhật đầu
hàng đã nhanh chống lan truyền trong Nhân dân. Khắp nơi trên đất
nước ta , Việt Minh tổ chức những cuộc mít tinh, biểu tình thị uy vũ
trang, có tới hàng nghìn ngừơi tham gia. Hàng triệu quần chúng sẵn
sàng đứng lên giành chính quyền. Các tầng lớp trung gian đã ngã hẳn về
phía cách mạng. Nhiều lính trong quân đội phát xit và lính bảo an, cảnh
sát các quan chức trong chính quyền bù nhìn ủng hộ Việt Minh giành
độc lập. thời cơ để nhân dân giành chính quyền đã tới.
23 giờ cùng ngày, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc đã ban bố quân lệnh số
một, chính thức phát lệnh khởi nghĩa toàn quốc.
“Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến!
Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập
của nước nhà!
Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả
cảm, vô cùng thận trọng.
Cuộc thắng lợi hoàn tất nhất định sẽ về ta”.[ 7;421-422]
Ngày 14 và 15 – 8 – 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng Sản Đông
Dương họp tại Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang). Tham dự hội ngị có
các đảng bộ địa phương, đại biểu của khu giải phóng và các chiến khu.
Hội nghị nhận định:
2.“Nhân dân Đông Dương cực khổ, căm tức, cách mạng hóa; đến tất cả
một phần quan lại cũng ngã về phe cách mạng.
…
4. Nhật đổ, hàng ngũ chỉ huy của chúng ở Đông Dương chia rẽ đến cực
điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần, bọn Việt gian thân Nhật
hoảng sợ.
…
6. Toàn dân tộc đang sôi nổi chờ giờ khởi nghĩa,giành quyền độc lập.
7. Những điều kiện khởi nghĩa như đã chín muồi”[ 7;424]
thành và ủng hộ chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10
chính sách của mặt trận Việt Minh. Đại hội quyết định thành lập Ủy ban
Giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm chủ tịch; quýêt định
lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm Quốc kì, lấy bài hát tiến quân ca làm
Quốc ca.
Sáng ngày 17 – 8, Ủy ban Giải phóng dân tộc ra mắt quốc dân tại đình
Tân Trào. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Ủy ban giải phóng dân tộc đọc
lời tuyên thệ.
Đại hội Quốc dân bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng
bào cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền: “giờ quyết định
cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy
đem, sức ta mà tự giải phóng cho ta.
Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành
quyền độc lập. chúng ta không thể chậm trễ.
Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến
lên”[ 7;418]. Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
Lệnh Tổng khởi nghĩa của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc và lời kêu gọi
của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chuyển đến các tổ chức Đảng và Việt
Minh, chiến sĩ và đồng bào.
Tuy nhiên, do tình hình phức tạp lúc bấy giờ và những khó khăn về giao
thông, thông tin, liên lạc, Lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương đến
thành, cùng tự vệ chiến đấu, tuyên truyền xung phong được huy động
đến Quãng trường nhà hát thành phố. Cuộc mít tinh bắt đầu, đại biểu
Việt Minh chiếm diễn đàn,diễ thuyết kêu gọi nhân dân khởi nghĩa. Hàng
vạn quần chúng hưởngứng lời kêu gọi của Việt Minh. Nhiều lính bảo an,
cảnh sát ngả theo cách mạng.
Sau đó, cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình tuần hành của quần
chúng, diễn ra qua các đường phố chính của Hà Nội, quần chúng biểu
tình hô vang khẩu hiệu “Đả đảo bù nhìn”, “Ủng hộ Việt Minh”, “Việt
Nam hoàn toàn độc lập”.
Qua cuộc biểu dương lực lượng ngày 17 – 8, thành ủy Hà Nội có đủ cơ
sở để đi đến quyết định khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Hà Nội
vào ngày 19 – 8 – 1945.
Ngày 18 – 8, cờ đỏ sao vàng được treo lên một số đường phố Hà Nội.
Sáng ngày 19 – 8, hàng chục vạn quần chúng cách mạng nội và ngoại
thành mang theo gậy, dao, mã tấu…, rầm rập tiến về Quảng trường Nhà
hát thành phố tham dự cuộc mít tinh do Việt Minh tổ chức cuộc mít -
tinh bắt đầu lúc 11 giờ.
Sau loạt súng chào cờ và bài tiến quân ca vang lên, đại biểu Ủy ban
quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu khởi nghĩa của Việt Minh. Cuộc
mít tinh nhanh chống chuyển thành cuộc biểu tình tuần hành vũ trang.
Quần chúng biểu tình chia thành nhiều đoàn tiến về cá ngả đường,
chiếm các cơ quan của chính quyền bù nhìn, như phủ khâm sai, Tòa thị
chính, Sở cảnh sát, trại Bảo an binh…Quân Nhật án binh bất động. Binh
lính và cảnh sát ngụy cũng bất lực. Chính quyền hoàn toàn về tay nhân
dân.
chính sách của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Khởi nghĩa thằng lợi
ở Huế đã động viên, cổ vũ, tạo thêm sức mạnh tinh thần cho nhân dân
các tỉnh Nam Trung Kì và Nam Kì vùng lên.
Cùng ngày khởi nghĩa với Thừa Thiên – Huế, một số tỉnh khác cũng khởi
nghĩa và giành chính quyến, như Hà Đông, Hòa Bình, Quảng Bình,
Quảng Trị, Lâm Viên, Bạc Liêu, Gia Lai.
Ngày 24 – 8 nhân dân các tỉnh Hà Nam, Phú yên, Đắc Lắc, Gò Công,
Quảng Yên đã khỏi nghĩ giành chính quyền.
Ngày 25 – 8, khởi nghĩa thành công ở Lạng Sơn, Sơn La, Phú Thọ, Sài
Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Bà Rịa, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Bến Tre,
Bình Thuận, Thủ Dầu Một, Sa Đéc, Mỹ Tho, Tây Ninh, Long Xuyên.
Sài Gòn là một trong 3 địa bàn ciến lược quan trọng bậc nhất của đất
nước, là thủ phủ của Nam Kì thuộc Pháp, là nơi đặt đại bản doanh của
quân Nhật đóng trên toàn bộ Đông Nam Á. Khi Nhật tuyên bố đầu hàng
Đồng minh vô điều kiện, ngay tối ngày 15/8/1945, Ủy ban Kháng chiến
Nam Bộ được thành lập do ban Bí thư xứ ủy Trần Văn Giàu làm Chủ
tịch. Đến ngày 24 tháng những công sở trong thành phố đều do ta làm
chủ ngày 24/8. Đặc biệt dinh Khâm sai (nay là Bảo tàng Thành phố Hồ
Chí Minh) là nơi đầu tiên ở Sài Gòn, cờ quẻ ly bị hạ xuống, cờ đỏ sao
vàng được kéo lên, tung bay trong không khí thắng lợi.
Rạng sáng ngày 25 – 8, các đường phố Sài Gòn tràn ngập biển cờ, biểu
ngữ, tiếng hô khẩu hiệu quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do vang dội
trong thành phố. Cuộc biểu tình tuần hành của quần chúng biểu dương
lực lượng, bắt đầu từ Nhà thờ Đức Bà, qua các đường phố Ca-ti-na,
Ben-gich-cơ, Kit-sơ-nê, Bô-na rồi hội tụ trước dinh Đốc lí thành phố (
đạo đã giành thắng lợi trên cả nước trong vòng nửa tháng, từ 14 – 8
đến 28 – 8 – 1945. 5. Cách mạng tháng Tám thành công - nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa ra đời và Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám.
5.1 Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời (2 – 9 – 1945)