Chương 2: Lịch sử Việt Nam giai đoạn
1930 đến 1945
Theo báo cáo của Sở Mật thám Sài Gòn ngày 12 – 12 – 1936, trung bình
mỗi tỉnh có trên 150 cuộc họp, có cuộc họp đông tới 300 người.
Bọn phản động thuộc địa và tay sai ráo riết phá hoại cuộc vận động,
như đóng cửa báo Dân Quyền. mật tham, chủ tỉnh, chủ quận theo dõi
chặt chẽ các hoạt động ở địa phương, gửi báo cáo hằng ngày về văn
phòng Thống đốc Nam Kì.
Ngày 15 – 9 – 1936, Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa gửi điện
cho Toàn quyền Đông Dương cho phép dùng mọi biện pháp thích đáng
để ngăn chặn cuộc vận động. sau khi có lệnh cấm Đông Dương Đại hội,
các cuộc khám xét, bắt bớ càng được thục dân đẩy mạnh. Tuy nhiên,
các Ủy ban hành động vẫn tiếp tục thành lập. từ ngày 18 đến 29 – 9 có
130 Ủy ban hành động mới ra đời.
Từ tháng 2 – 1937, các Ủy ban hành động ngày càng công khai hóa hoạt
động. sau khi biết Ủy ban điều tra của Quốc hội Pháp không sang Đông
Dương, các Ủy ban hành động lần lượt giải tán. Tuy nhiên, các lực
lượng này, nhân cơ hội đón đặc phái viên của Chính phủ Pháp Justin
Godart và toàn quyền Brevie sang nhận chức ở Đông Dương thời gian
sau đó, tiếp tục động viên, tổ chức quần chúng đấu tranh.
Ở Bắc Kì, những người cộng sản ở Hà Nội đã sử dụng tờ báo Hồn Trẻ
làm công cụ tuyên truyền cho cuộc vận động Đông Dương Đại hội theo
đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương. Ủy ban lâm thời chi nhánh
Đông Dương Đại hội được thành lập. Ủy ban hành động xuất hiện ở
nhiều tỉnh, như Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh, Ninh Bình, Phúc Yên, Thái
Bình.
Cuộc vận động Động Dương Đại hội là kết quả tất yếu trong quá trình
phát triển kinh tế, chính trị,xã hội Việt Nam và sự tác động của hoàn
cảnh quốc tế vào Việt Nam những năm 30. những điều kiện thuận lợi
khách quan được tận dụng và phát huy qua yếu tố chủ quan là lực
lượng cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Đông Dương Đại hội đánh dấu bước phục hồi mạnh mẽ của phong trào
cách mạng Việt Nam.
Bên cạnh cuộc vận động Đông Dương Đại hội, các tầng lớp nhân dân đã
tổ chức những cuộc đáu tranh đòi quyền lợi ở khắp nơi trong cả nước.
Công nhân đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chóng cúp
phạt,đánh đập đòi tự do nghiệp đoàn. Nông dân đồi giảm sưu thuế, đòi
cải cách hương thôn. Tiểu thương, tiểu chủ bãi thị,đòi giảm thuế chợ,
thuế hàng; công chức đòi tăng lương v.v…
Sáu tháng cuối năm 1936 có 361 cuộc đấu tranh, trong đó có 236 cuộc
đấu tranh của công nhân. Tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân mỏ
thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) và cuộc bãi công của công nhân mỏ Hồng Gai
- Cẩm Phả trong tháng 11-1936. Ngà 23-11-1936, trên 20 ngàn công
nhân mỏ Hồng Gai – Cẩm Phả, Mông Dương, Hà Tu, Hà Lầm, Cọc Năm
bãi công đòi tăng 25% lương. Cuộc đấu tranh thắng lợi bọn tư sản Pháp
phải nhượng bộ.
Năm 1937, phong trào đấu tranh tiếp tục dâng cao, có khoảng 400 cuộc
bãi công của công nhân ở khắp các ngành sản xuất. tiêu biểu là cuộc bãi
công của công nhân nhà máy tơ Hải Phòng, dệt Nam Định, xưởng Ba
Son, mỏ than Uông Bí, đặc biệt là cuộc bãi công của công nhân xe lửa
Nam Đông Dương ngày 3-7-1937; cuộc bãi công của công nhân mỏ than
Vàng Danh (Uông Bí) ngày (28-9-1937).
trong đó có 4 cuộc đấu tranh không tính được số người tham gia 84
cuộc đấu tranh thu hút được 15484 công nhân tham gia. Như vậy, số
cuộc bãi công và số người tham gia đáu tranh năm1938 chỉ bằng1/3
năm trước. Tuy nhiên trình độ giác ngộ của quần chúng cao hơn, trình
độ tổ chức của các cơ sở Đảng vững vàng hơn, khẩu hiệu đấu tranh sát
hợp với tình hình hơn, sự phối hợp đáu tranh giữa các ngành, các địa
phương chặt chẽ và sâu rộng hơn.
Cuối năm 1938, nông dân ở miền Nam biểu tình do xảy ra nạn đối. Tiêu
biểu là cuộc biểu tình của hơn 1000 nông dân Cà Mau trong tháng 10-
1938.
Phong trào đáu tranh của học sinh, của tiểu thương cũng diễn ra nhiều
nơi.
Trong ngày quốc tế lao động 1-5-1938, các cuộc mit tinh công khai
được tổ chức ở Hà Nội, Sài Gòn. Điều đó, thể hiện rõ trình độ giác ngộ,
ý thức tổ chức, đoàn kết đấu tranh của quần chúng và chính sách đúng
đắng của Đảng Cộng sản Đông Dương về Mặt trận dân chủ.
Sang năm 1939, phong trào đấu tranh gặp nhiều khó khăn do chính
sách đàn áp, khủng bố của thực dân Pháp. Nhờ có kinh nghiệm và được
rèn luyện trong phong trào đấu tranh của những năm trước, phong trào
đấu tranh của công nhân vẫn diển ra liên tục và quyết liệt. Trong ba
tháng đầu năm 1939, phong trào có giảm sút, nhưng từ tháng tư,
phong trào lại lên dần và đạt đỉnh cao trong tháng 6. Các cuộc đấu
tranh diễn ra ở các khu công nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng, Chợ Lớn.
Đấu tranh nghị trường
Trong thời kì1936-1939, Đảng cộng sản Đông Dương đã triển khai một
hình thức đấu tranh mới: đấu tranh nghị trường. Tháng 8-1937, Đảng
quyết định tham gia cuộc vận động bầu cử vào Viện Dân biểu Trung Kì.
Đấu tranh trên lĩnh vực báo chí
Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệt để sử dụng báo chí công khai,
truyền đơn làm vũ khí đấu tranh cách mạng, tuyền truyền đường lối,
quan điểm, tập hợp, hường dẩn phong trào đấu tranh cũa quần chúng.
Những đản viên cộng sản làm công tác báo chí dược tổ chức làm hai
nhóm bí mật và công khai. Họ tìm đủ mọi cách để ra báo, như xuất bản
báo chữ Pháp để tránh kiểm duyệt; thuê, mượn, mua lại báo của người
đã có giấy phép xuất bản…Tờ báo này bị đống cữa lại làm tiết tờ báo
khác, chỉ thay tên báo. Các nhà báo cộng sản đã vận động những nhà
báo tiến bộ ngả theo quan điểm của Đảng. từ năm 1937, báo chí Đảng
Cộng sản Đông Dương lảnh đạo phát triển nhanh chóng.
Cuộc đấu tranh diển ra sôi nổi nhất Bất Kì. Ở đây có nhiều đảng viên
cộng sản mớitham gia hoạt động, như Trần Huy Liệu, Hải Triều, Trường
Chinh, Khuất Duy Tiến…các tờ báo tiến Việt được xuất bản là Hồn trẻ,
Tân xã hội, Thời báo, Thời thế, Hà thành thời báo, Tin tức, Đời nay…Báo
tiến Pháp có Le Travail (Lao động ), Rassemblement (Tập hợp), En Avant
(Tiến lên), Notre Voix (Tiến nói của chúng ta)…
Ở Trung Kì có các tờ Nhành Lúa, Dân, Sông Hương tục bản, Kinh tế Tân
văn.Nhành lúa là tờ báo chuyên nghành công nông, nhưng viết toàn
chính trị, tuyên truyền cho phong trào đòi dân sinh, dân chủ.
Từ năm 1933, những người cộng sản ở Nam Kì đã cộng tác với nhóm
Tơrôtkit ra tờ báoLa Lutte (Tranh Đấu). báo này về sau bị nhóm Tơrôtkit
thao túng. Đến tháng 6-1937, những người cộng sản mới xuất bản được
các tờ L’Avant Garde (Tiền Phong),Le Peuple (Nhân Dân), Phổ Thông,
Thanh niên Dân chủ, Hội Cứu tế đỏ thay cho Tổ chức Cứu tế bình dân…
Tháng 3 – 1938, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra nghị quyết
về phòng thủ Đông Dương, thì bọn Tơrotkit đưa ra khẩu hiệu “ Biến
chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”, vu cáo Đảng Cộng sản
Đông Dương rời bỏ lập trường dân tộc, đi theo đế quốc Pháp.
Trong cuộc đấu trtanh chống Tờ-rôt-kit, được sự chỉ dẫn sáng suốt của
Nguyễn Ái Quốc: “ Đối với bọn Tơ-rot-kit, không thể có thỏa hiệp nào,
một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay
sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt được chúng về chính trị”, Đảng
Cộng sản Đông Dương đã đấu tranh kiên quyết với bọn này. Đảng phê
bình nghiêm khắc nhận thức mơ hồ của một số đảng viên đã hợp tác vô
nguyên tắc với chúng trong báo La Lutte (Tranh Đấu). Cuộc đấu tranh
của Đảng giúp quần chúng nhận rõ bộ mặt thật của bọn Tơ-rot-kit, kịp
thời ngăn chặn âm mưu phá hoại của bọn chúng. 2.2 Tính chất, đặc điểm, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm
Cuộc vận động dân chủ thời kì 1936 – 1939 đề ra mục tiêu đòi tự do,
dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Tuy khẩu hiệu đấu tranh chứa
đựng nội dung cải cách dân chủ trong khuôn khổ chính sách cai trị, luật
pháp của chính quyền thực dân, nhưng phong trào không hoàn toàn có
tính chất cải lương. Đây là phông trào quần chúng rộng lớn, có tổ chức,
do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Nó hoàn toàn khác với phong
trào cải lương do một nhóm địa chủ, tư sản khởi xướng nhằm mục đích
xin chính quyền thực dân ban cho một vài quyền lợi kinh tế hàng ngày
và xem đó là mục tiêu cuối cùng. Phong trào dân chủ 1936 – 1939, bằng
sức mạnh đoàn kết của quần chúng đã buộc chính quyền thực dân phải
được các đại biểu của giai cấp công nhân tổ chức và lãnh đạo đã từ
nông thôn tiến về thành phố, cùng với công nhân biểu tình, mít - tinh,
đưa yêu sách. Sự liên minh của công nhân và nông dân là cơ sở để xây
dựng khối đoàn kết toàn dân theo cương lĩnh Mặt trận Dân chủ.
Trong phong trào dân chủ 1936 – 1939, Đảng Cộng sản Đông Dương đã
liên minh với các đảng, các lực lượng chính trị trong Mặt trận Dân chủ.
Khẩu hiệu đòi dân chủ, tự do, cơm áo, hòa bình do Đảng đua ra trong
một chừng mực nhất định phù hợp với yêu cầu của các tầng lớp trí thức
tiến bộ, tiểu tư sản, trung, tiểu địa chủ và một bộ phận tư sản dân tộc.
Tuy nhiên, Đảng cũng xác định sự liên minh đó là tạm thời ở một số lĩnh
vực nhất định và thời gian nhất định, đây là sách lược tạm thờ nhằm
phục vụ cho mục tiêu cách mạng.
Phong trào dân chủ 1936 – 1939 là một bộ phận của phong trào vô sản
thế giới, đấu tranh cho hòa bình, chống chiến tranh. Cùng mục tiêu
chung với nhân dân thế giới, Đảng Cộng sản Đông Dương tạm thời rút
khẩu hiệu đánh đuổi đế quốc Pháp xâm lược, thay bằng khẩu hiệu đánh
đổ bọn phản động thuộc địa Pháp ở Đông Dương, kết hợp đấu tranh
giải quyết yêu cầu trước mắt của nhân dân Đông Dương với cuộc đấu
tranh chống phát xít, chống chiến tranh của nhân dân thế giới, ủng hộ
Mặt trận Bình dân Pháp. Cách mạng Việt Nam được sự chỉ đạo của
Quốc tế Cộng sản, sự giúp đỡ và ủng hộ của Đảng Cộng sản và nhân dân
Pháp.
Phong trào đấu tranh giành dân chủ 1936 – 1939 đã thu được những
thắng lợi cụ thể trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng.
Chính quyền thực dân đã có một số nhượng bộ, như thả nhiều chính trị
phạm, ban hành luật báo chí, cải thiện một phần điều kiện lao động,
lương bổng cho công nhân, viên chức. Nhưng thắng lợi to lớn nhất là
1.1. Bối cảnh thế giới trong những năm đầu của Cuộc chiến tranh lần II Cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai không chỉ là làm thay đổi cục diện
chính trị trên thế giới mà còn tác dụng trực tiếp đến các nước thuộc địa
và phụ thuộc, trong đó có Việt Nam.
Từ giữa những năm 30 của thế kỉ XX, các thế lực phát xít đã bành
trướng ở nhiều quốc gia. Chúng câu kết với nhau, tiến hành chạy đua
vũ trang, chuẩn bị gây chiến tranh thế giới. Ngày 25 – 11 – 1936, Đức và
Nhật Bản kí kết “Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản”. Một năm sau, ngày
6 – 11 – 1937, Italia tuyên bố tham gia Hiệp ước này. Trục Beclin –
Rôma – Tôkyô hình thành. Liên minh phát xít đã mở rộng từ Châu Âu
sang Châu Á.
Trong thời gian này, các cuộc chiến tranh xâm lược cục bộ đã được
phát động ở một vài khu vực. Tháng 7 – 1937, Nhật Bản mở cuộc chiến
tranh xâm lược quy mô lớn trên toàn lãnh thổ Trung Quốc. do chính
sách chống Nhật Bản tiêu cực của tập đoàn cầm quyền Tưởng Giới
Thạch, quân Nhật trong một thời gian ngắn đã được nhiều thành phố,
trung tâm công nghiệp và các vị trí đầu mối giao thông quan trọng của
Trung Quốc.
Tháng 7 – 1938, quân Nhật mở nhiều cuộc tấn công vào vùng hồ Khát-
xan thuộc lãnh thổ Liên Xô để thăm dò. Trong khi đó, ở châu Âu, Anh và
Pháp thực hiện chính sách nhượng bộ Phát xít Đức. Ngày 29 – 8 – 1938,
chính phủ hai nước này kí với Đức một hiệp ước tại Muyních (Đức),
chấp nhận cho Đức chiếm đóng Tiệp Khắc [1] với hy vọng hướng mũi
tiến công của Đức về phía Đông, đáng Liên Xô.
Giải tán hết thảy các hội hữu ái hay cá nhân nào có liên hệ với Đảng
Cộng sản mà hoạt động theo khẩu hiệu của Đệ tam Quốc tế cũng bị giải
tán (…).
Cấm hết thảy những đồ in, phát hành, tặng hay bán, hay tưng bày,
những đồ in hay tranh vẽ, nói chung là cấm hết thảy những tài liệu
tuyên truyền của Đệ tam Quốc tế [11; 466 – 467]
Trên khắp đất nước Đảng viên Đảng Cộng sản bị truy lùng bắt bớ. Hàng
ngàn người Cộng sản và yêu nước bị giam cầm trong các nhà tù. Hàng
loạt báo chí cách mạng và tiế bộ bị đóng cửa.
Về kinh tế, chính quyền thực dân Pháp thực hiện chính sách “Kinh tế
chỉ huy”, tăng cường vơ vét tài nguyên, nhân lực của Đông Dương phục
vụ cho chiến tranh ở nước Pháp. Trong diễn văn khai mạc Đại Hội đồng
kinh tế và tài chính Đông Dương, tháng 11 – 1939, toàn quyền Ca-tơ-ru
nói :
“Dù có tham gia trực tiếphay không vào cuộc chiến Đông Dương cũng
không được tự do có khuynh hướng riêngcủa nên kinh tế và tài chính
của mình mà phải quy tụ nó vào những mục đích do mẫu quốc chỉ định.
Đông Dương phải xác nhập hệ thống mậu dịch của mình vao hệ thống
mẫu quốc, phát triển sản xuất của mình vì lợi ích của mẫu quốc, cung
cấp những sản phẩm của đất đai và trong lòng đất mà nước Pháp đòi
hỏi.
Đồng thời, Đông Dương phải để cho nước Pháp sử dụng nguồn nhân
lực của mình, hoặc làm trong các công, binh xưởng, hoặc cung cấp
những quân số quan trọng được tổ chức và biên chế để điều đến các
chiến trường ở phương Tây [31;305]
bị từ chối, Bộ ngoại giao Nhật Bản sẽ tiến vào Đông Dương.
Ngày 19 – 9 – 1940, Bộ ngoại giao Nhật bản thông báo cho đại sứ Pháp
ở Tôkiô rằng, ngày 22 – 9, quân đội Nhật sẽ vào Đông Dương dù có đạt
được hiệp ước quân sự với Đơcu hay không.
Ngày 22 – 9, đại diện Pháp và Nhật đã kí kết một Hiệp ước, trong đó
quy định :
1. Quân đội Nhật được quyền sử dụng 3 sân bay lớn ở Bắc Kỳ (các sân
bay Gia Lâm, Hải Phòng, Phủ Lạng Thương).
2. Bộ tư lệnh Nhật có quyền đóng 6000 quân ở Bắc sông Hồng.
3. Quân đội Nhật được quyền đi qua Bắc Kì để lên đánh quân Tưởng
Giới Thạch ở Vân Nam. Tổng số quân Nhật đồn trú trên đất Đông
Dương không lúc nào được quá 25.000 người.
4. Sư đoàn quân Nhật ở Quảng Tây được quyền đi qua đồng bằng Bắc
Kì để đi ra biển. Mặc dù chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương chấp nhận những
đòi hỏi của Nhật, vào lúc 22 giờ cùng ngày, Sư đoàn 5 Ngự lâm quân
của Nhật do tướng Nakamura chỉ huy vượt biên giới Trung - Việt tấn
công các vị trí quân Pháp ở Đồng Đăng và Lạng Sơn. Các vị trí quân Pháp
ở Na Sầm, Đồng Đăng, Điểm He, Lộc Bình bị tiêu diệt. Ngày 24 – 9 quân
Nhật tiến tới thị xã Lạng Sơn. Quân Pháp bỏ chạy về Đồng Mỏ, và ngày
25 – 9, kéo cờ trắng xin hàng.
Ngày 25 – 9 – 1940, ở một hướng khác, quân đoàn viễn chinh Đông
Dương thuộc Pháp của Nhật do tướng Nishimura Takuma chỉ huy đổ bộ
vào Đồ Sơn. Ngày hôm sau, 26 – 9, quân Nhật tiến vào chiếm đóng Hải
Ngày 28 – 7 – 1941, quân Nhật đổ bộ lên đất Sài Gòn. Đến cuối năm
1941 đã có 125.000 quân Nhật đóng trên đất Đông Dương và thực chất
đã làm chủ Đông Dương, tuy trên danh nghĩa Đông Dương vẫn là thuộc
địa của Pháp
Chính sách thống trị của phát xít Nhật ở Đông Dương:
Về kinh tế, Nhật vẫn để hệ thống kinh tế của pháp ở Đông Dương tiếp