Chương 2: Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 đến 1945_1 - Pdf 19

Chương 2: Lịch sử Việt Nam giai đoạn
1930 đến 1945

Ngày 5 – 9, nông dân Anh Sơn biểu tình ủng hộ nhân dân Thanh
Chương với các khẩu hiệu: “Bãi bỏ thuế thân”, “Chia lại ruộng đất”,
“Thả tù chính trị”… Trong các ngày 5 – 9 và 7 – 9, nông dân Diễn Châu,
Can Lộc đốt phá nhà giam.
Từ ngày 8 đến 11 – 9, hàng chục ngàn nông dân huyện Nam Đàn, Thanh
Chương, Diễn Châu, Anh Sơn, Nghi Lộc, Cẩm Xuyên, Kì Anh nổi dậy.
Những người biểu tình đã xung đột đổ máu với binh lính, cảnh sát thực
dân.
Ngày 12 – 9, cuộc đấu tranh dâng lên mạnh mẽ. Tại Hưng Nguyên hơn
20.000 nông dân đã liên kết với nông dân huyện Nam Đàn tổ chức một
cuộc biểu tình vũ trang lớn, ủng hộ công nhân Bến Thủy bãi công và
hưởng ứng nông dân các tỉnh khác đấu tranh, với khẩu hiệu: “Đả đảo
chủ nghĩa đế quốc! Đả đảo phong kiến”. Đoàn biểu tình dài hơn 1 km
kéo về Vinh. Trên đường đi, đoàn biểu tình thỉnh thoảng dừng lại diễn
thuyết, chỉnh đốn đội ngũ. Dọc đường, đoàn biểu tình được bổ sung
thêm và khi về đến Vinh đã lên tới 30.000 người, dài 4 km.
Thực dân Pháp đã đàn áp dã man. Chúng điều 5 máy bay đến ném bom
và bắn súng máy vào đoàn biểu tình, có 174 người chết. Ngày hôm sau,
khi tổ chức đưa tang những người bị chết, thược dân Php lại cho máy
bay đến ném bom, 43 người nữa bị chết. Trong 2 ngày 12 và 13 tháng 9
năm 1930, thực dân Pháp đã giết chết 217 người, làm bị thương 125
người, đốt cháy 277 ngôi nhà, triệt hạ hoàn toàn hai làng Lộc Châu và
Lộc Hải.
Sự khủng bố đẫm máu của thực dân Pháp không ngăn chặn được phong
trào đáu tranh. Sau ngày 12 – 9, lễ truy điệu những người hi sinh ở Hưng
Yên được tổ chức ở khắp nơi. Đồng thời, phong trào đấu tranh cũng
dâng cao hơn bao giờ hết. Quần chúng phá nhà lao, đốt huyện đường,
vây đồn lính khố xanh, phá trạm điện tín, trừng trị bọn địa chủ tàn ác và

tầng lớp nhân dân nhiệt tình tham gia các tổ chức chính trị như Nông
hội, Đội Tự vệ, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Phụ nữ giái phóng, Hội Cứu
tế đỏ v.v và tích cực phát huy vai trò làm chủ của mình trong nhiệm vụ
xây dựng và bảo vệ chính quyền Xô viết, quản lí xã hội.

Tại Nghệ An, chính quyền Xô viết được thành lập ở các xã thuộc huyện
Thanh Chương, Nam Đàn, một phần huyện Anh Sơn, Nghi Lộc, Hưng
Yên và Diễn Châu. Tại Hà Tĩnh, các xã thuộc huyện Can Lộc, Đức Thọ,
Thach Hà, một số xã thuộc huyện Nghi Xuân, Hương Khê cũng hình
thành chính quyền Xô viết.
Về chính trị: Chính quyền Xô viết ban bố và thực hiện các quyền tự do,
dân chủ cho nhân dân. Quần chúng được tự do tham gia các hoạt động
đoàn thể, như Nông hội, Đội Tự vệ, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Phụ nữ
giải phóng, Hội Cứu tế đỏ…, tự do hội họp, giải quyết các vấn đề xã hội.

Về kinh tế: Chính quyền mới tịch thu ruộng đất công, thóc lúa công, chia
cho dân nghèo, bãi bỏ các loại thuế bất hợp lí, như thuế thân, thuế chợ,
thuế đò…, quan tâm công tác đắp đê, phòng lụt, tu sửa đường sá, cầu
cống, tổ chức các hình thức hợp tác sản xuất.

Về văn hóa xã hội: Chính quyền Xô viết tổ chức cho nhân dân học chữ
Quốc ngữ, xóa bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu, giữ vững an ninh trật
tự ở thôn xã. Hoạt động của Xô viết Nghệ - Tĩnh nói lên sức sáng tạo
của một chế độ xã hội mới. Nguyễn Chấn, một Đốc học được cử về “dẹp
loạn cộng sản”, trong báo cáo gửi cho Khâm sứ Trung Kì vào tháng 7 –
1931 đã viết: “Hào lí bỏ trốn, cộng sản truất quyền của họ và cử người
tin cẩn lên thay. Họ cấm thu thuế, tự chia ruộng đất. Buổi tối, Ban chấp
hành của họ hội họp để ban hành và thực hiện đường lối chính trị của Xô
viết.


tranh ở Nghệ - Tĩnh, nhưng các cuộc biểu tình, thị uy của quần chúng
càng trở nên quyết liệt. Trước tình hình đó, thực dân Pháp tập trung lực
lượng và dùng những thủ đoạn thâm độc để đối phó. Chúng phái những
tên thực dân đầ sỏ như Toàn quyền Pãtkiê (Pierre Pasquyer), Khâm sứ
Trung Kì LơPhôn (Le Fol) và nhữnh tên tay sai tàn bạo Nguyễn Hữu
Bài, Nguyễn Khoa Kì, Tôn Thất Đàn… tới Nghệ - Tĩnh trực tiếp nghiên
cứu, vạch kế hoạch đàn áp. Chúng thực hiện một chương trình bình định
Nghệ - Tĩnh về quân sự, chính trị, văn hóa. Nhiều đơn vị lính khố đỏ,
lính lê dương được điều động tới Nghệ - Tĩnh, ban bố lệnh thiết quân
luật, dùng thủ đoạn thâm độc “buộc dân cày ra đầu thú”, bắt nhân dân tổ
chức “rước cờ vàng”, nhận thẻ “quy thuận”. Chúng ráo riết săn lùng
những người cộng sản. Tôn Thất Đàn tuyên bố: “Hữu Nghệ - Tĩnh bất
phú, vô Nghệ - Tĩnh bất bần” (có Nghệ - Tĩnh cũng không giàu, không
có Nghệ - Tĩnh cũng không nghèo) và ra sức đàn áp. Ngoài ra, chúng
còn xuất bản sách báo, như Hoan Châu Tân báo, Thanh – Nghệ - Tĩnh
thanh văn…vu cáo chủ nghĩa cộng sản và Liên Xô.

Trong phong trào cách mạng 1930 – 1931 và phong trào cách mạng ở
Nghệ - Tĩnh, Trung ương Đảng đã theo dõi sát tình hình diễn biến và chỉ
đạo, uốn nắn kịp thời phương hướng và phương pháp đấu tranh. Qua
thực tế diễn biến của phong trào, Trung ương Đảng đã ra những Chỉ thị
về “Vấn đề thành lập Hội Phản đế Đồng minh”, về phát triển các đội Tự
vệ công nông, về việc chống thực dân Pháp và phong kiến tay sai buộc
dân cày ra “đầu thú”, giúp cho phong trào phát triển đúng hướng, qua đó
tránh được tổn thất trong nhiều trường hợp, duy trì được lực lượng cách
mạng.

Ngày 7 – 10 – 1930, nông dân huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) có lực
lượng tự vệ vũ trang hỗ trợ, xông vào huyện đường đốt sổ sách, phá nhà
lao. Nông dâncác huyện Mộ Đức, Sơn Tịnh cũng nổi dậy đấu tranh.

– 11 – 1930, Người gửi thư cho Quốc tế nông dân. Ngày 19 – 2 – 1931,
Người gửi báo cáo “Nghệ - Tĩnh đỏ” cho Ban Chấp hành Quốc tế Cộng
sản, trong đó có đoạn viết: “Trong thừi kì Pháp xâm lược cũng như trong
các phong trào cách mạng quốc gia (1905 – 1925), Nghệ - Tĩnh đã nổi
tiếng. Trong cuộc đấu tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ -
Tĩnh vẫn giữ vững truyền thống của mình…Nghệ - Tĩnh thật xứng đáng
với danh hiệu đỏ”.

Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh…
(28 đồn được dựng lên ở riêng Nghệ An), tuyên truyền của Chính phủ,
báo chí đều bất lực, không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ –
Tĩnh”.
Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng Xô viết Nghệ - Tĩnh đã
tỏ rõ bản chất cách mạng và tính ưu việt của nó. Từ giữa năm 1931,
phong trào tạm thời lắng xuống và cuộc đấu tranh chuyển sang thời kì
phục hồi phong trào. 4. Thoái trào cách mạng và cuộc đấu tranh phục hồi phong trào
1932- 1935

4.1. Chính sách mới của thực dân Pháp (1931- 1935)

Từ cuối năm 1931, phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống. Tuy vậy,
chính qyền thực dân Pháp ở Đông Dương vẫn rất lo sợ những người
cộng sản. Toàn quyền Patxkiê (Pasquyer) tuyên bố: Cuộc chiến đấu
chống cộng sản là một chiến đấu quyết liệt nhất, cho đến khi nào cộng
sản bị hoàn toàn tiêu diệt mới thôi. Trong báo cáo của Mácti (Louis
Marti) trùm mật thám Pháp, cũng thừa nhận những khó khăn của chúng
khi đương đầu với những người cộng sản.

toàn tâm, toàn ý vào việc tổng kết công tác vận động công nhân. Ngô
Gia Tự và những người cộng sản khác đã biến phiên tòa xử những chiến
sĩ cách mạng thành diễn đàn tố cáo chủ nghĩa đế quốc: “Chính đế quốc
Pháp cướp nước Việt Nam, nô dịch nhân dân chúng tôi. Điều đó thúc
đảy chúng tôi làm cách mạng”. Lí Tự Trọng, thể hiện khí phách hiên
ngang trước kẻ thù của dân tộc và tuyên bố: “Con đường của thanh niên
chỉ có thể là con đường cách mạng”.

Thực dân Pháp cào cấu kết với bọn đế quốc và các thế lực phản động
quốc tế (như Anh, Hà Lan, Nhật…) săn lùng các nhà cách mạng Việt
Nam.

Bên cạnh đó, thực dân Pháp cũng dùng những htur đoạn mị dân, nhằm
lừa bịp quần chúng.

Tháng 6 – 1931, thực dân Pháp lập ra “ủy ban điều tra” để nghiên cứu
tình hình Đông Dương. Tháng 10 – 1931, Paul Reynaud, Bộ trưởng Bộ
Thuộc địa sang nghiên cứu Đông Dương, tìm hiểu tình hình và định ra
chính sách cải cách chế độ thuộc địa.

Năm 1932, thực dân Pháp đưa Bảo Đại về nước làm vua với một chương
trình cải cách: Lập nội các mới, cải tổ nền giáo dục sơ học; cải tổ nền tư
pháp bản xứ.

Trong khi củng cố bộ máy chính quyền bù nhìn, thực dân Pháp thực hiện
một số cải cách nhằm lôi kéo tầng lớp quan lại, địa chủ, tư sản, trí thức
cao cấp. Chẳng hạn ở Nam Kì được cử một đại biểu người Việt vào
Thượng Hội đồng thuộc địc Pháp; tăng số nghị viện vào các viện Dân
biểu Bắc Kì, Trung Kì, phòng canh nông, Phòng thương mại; mở các kì
thi tuyển quan lại, cho người bản xứ được nhập quốc tịch Pháp với các

tư bản Pháp chèn ép nên họ vừa có tinh thần dân tộc, chống đế quốc, vừa
sợ cách mạng, không giám trực tiếp tham gia phong trào đấu tranh của
quần chúng.

Tầng lớp tiểu tư sản có tinh thần dân tộc, có thái độ ủng hộ phong trào
đấu tranh cách mạng. Nhưng sau cuộc khủn bố của thực dân Pháp, một
số dao động, không hoạt động, một số chán nản, hoài nghi, co mình.

Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo tham gia phong trào 1930 –
1931. Trước sự khủng bố, đàn áp của thực dân Pháp, một số nông dân
hoang mang, dao động, tiêu cực, nhưng phần lớn vẫn tin tưởng vào cách
mạng.
Giai cấp công nhân trưởng thành trong đấu tranh cách mạng. Cuộc
khủng bố của thực dân Pháp làm cho phong trào đấu tranh của công
nhân tạm lắng xuống, nhưng sức mạnh tiềm tàng của một giai cấp tiên
tiến, sẵn sàng nổi lên khi thời cơ đến.

Trong hoàn cảnh đó, những người cộng sản vẫn kiên cường chiến đấu
trên vị trí của mình. Những đảng viên bị cầm tù, bị tra tấn, bị kết án tử
hình vẫn đấu tranh đến hơi thở cuối cùng. Họ đã biến nhà tù thành
trường học cách mạng nhằm huấn luyện cán bộ cho các cuộc đấu tranh
sắp tới. Ngoài ra họ còn đấu tranh chống các quan điểm sai lầm của các
tù nhân Việt Nam Quốc dân Đảng, của bọn Tờrốtkít. Cuộc đấu tranh đó
đã nâng cao trình độ lí luận cách mạng cho đảng viên, đã làm phân hóa
hàng ngũ của các tổ chức chính trị khác, lôi kéo nhiều người trở thành
đảng viên cộng sản. Khi có điều kiện thuận lợi, các chi bộ Đảng Cộng
sản trong nhà tù đã tổ chức cho đảng viên vượt ngục ra ngoài gây cơ sở.

Trong lúc cơ sở cách mạng và quần chúng trong nước gần như bị tê liệt
vì địch khủng bố, nhiều cán bộ lãnh đạo bị bắt, một số đảng viên cộng

được lập ra. Phong tráo cách mạng của quần chúng dần dần được nhen
nhóm trở lại. Các cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân lại bùng nổ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status