ĐA HÌNH KIỂU GEN LEPTIN LIÊN QUAN ĐẾN
TÍNH TRẠNG KINH TẾ CỦA MỘT SỐ GIỐNG LỢN
NUÔI TẠI VIỆT NAM.
Lê Thị Thuý, Lưu Quang Minh, Trần Thu Thuỷ,
Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Văn Ba
Viện Chăn nuôi-Bộ Nông nghiệp và PTNT
MỞ ĐẦU
Hiệu quả của ngành chăn nuôi nhìn chung phụ thuộc rất
nhiều vào tốc độ tăng trọng, sản lượng thịt, sữa và khả năng
sinh sản của các loài vật nuôi. Hơn nữa, theo xu hướng hiện
nay người tiêu dùng thường thích sử dụng các loại thịt chất
lượng ngon, hàm lượng chất béo ít. Trước nhu cầu của thị
trường, các tính trạng liên quan tới chất lượng thịt: tỷ lệ
nạc, độ dày mỡ lưng, độ mềm, màu, sắc và độ ngọt của thịt
cũng như khả năng tăng trọng…. đang rất được quan tâm
nghiên cứu.
Trong các loài vật nuôi tại Việt Nam, lợn là loài quan trọng
nhất. Thịt lợn chiếm khoảng 76% tổng số các loại thịt được
tiêu thụ tại Việt nam. Các biện pháp và kỹ thuật truyền
thống như thụ tinh nhân tạo, cấy truyền phôi, thay đổi điều
kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, cải tiến chất lượng thức ăn, lai
tạo, thú y v.v. đã nâng cao đóng góp rất lớn vào việc cải tạo
nâng cao tầm vóc, năng suất các giống lợn nuôi tại Việt
Nam và phần nào đáp ứng được nhu cầu thị trường.
Tuy nhiên phương tiện chủ yếu để cải tiến năng suất vật
nuôi là chọn lọc di truyền. Hiệu quả của chọn lọc phụ thuộc
vào độ chính xác của sự đánh giá di truyền. Các kỹ thuật Di
tốc độ sinh trưởng, tỉ lệ nạc và mức tiêu thụ thức ăn trong
quần thể lợn [4]. Tiếp đến, Jiang và Gibson (1999) đã sử
dụng phương pháp PCR-RFLP phát hiện hai đột biến câm
C876T trong intron 1 và A1112G trong intron 2 và một đột
biến G3714T trong exon 3. Từ đó ông nhận thấy rằng đa
hình G3417T có sự tương quan với tỉ lệ mỡ (kiểu gen
Leptin CC tương ứng với tỉ lệ nạc cao) [6]. Gần đây năm
2003 Kuryl và cộng sự cũng sử dụng phương pháp PCR-
RFLP để phân tích mối tương quan giữa đa hình gen Leptin
với tính trạng chất lượng thịt từ 249 mẫu của nhiều giống
lợn khác nhau. Kết quả cho thấy kiểu gen Leptin TT liên
quan tới tỉ lệ nạc cao, mỡ đùi thấp [8].
Như vậy, có thể nói gen Leptin là một gen liên quan tới
tính trạng chất lượng thịt lợn và khả năng tăng trọng. Căn
cứ vào những kết quả đã công bố của nhiều nhà khoa học
trên thế giới, cùng với mục đích góp phần vào công tác
chọn giống cũng như để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày
càng cao của thị trường, chúng tôi tiến hành nhân gen (PCR
- Polymerase Chain Reaction) và kỹ thuật đa hình độ dài
các đoạn giới hạn (RFLP - Restriction Fragment Length
Polymorphism) nhằm xác định đa hình kiểu gen Leptin trên
một số giống lợn nuôi tại Việt Nam. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Mẫu mô
Tổng số 80 mẫu mô tai lợn bao gồm 20 mẫu lợn Landrace
C trong 45 giây, 66
0
C trong 45 giây, 72
0
C trong
1 phút) và cuối cùng 72
0
C trong 5 phút.
4. Phương pháp RFLP
Sản phẩm PCR được tiến hành cắt bởi enzym Hind III.
Phản ứng được thực hiện với tổng thể tích 25µl bao gồm
10x đệm (2,4µl), 5u Hind III, 20 ul sản phẩm PCR và được
ử qua đêm ở 37
0
C.
5. Phương pháp điện di
Sản phẩm phản ứng RFLP được kiểm tra bằng phương
pháp điện di trên thạch agarose 2%, nhuộm bằng
ethidiumbromide 10% và được quan sát dưới đèn cực tím. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Kết quả nhân gen PCR
Bằng phương pháp PCR, chúng tôi đã nhân thành công
giống lợn nội địa (lợn Móng Cái và lợn Bản) thì rất đặc
trưng bởi alen A. Lợn Bản đồng nhất 100% về kiểu gen AA
(tần số alen A là 100%). Lợn Móng Cái có hai kiểu gen AA
và GA vời tần số kiểu gen AA là 85%, kiểu gen GA là 15%
và tần số alen A là 92,5%, alen G là 7,5%. Căn cứ vào các
nghiên cứu trước đây, chúng tôi nhận thấy rằng lợn
Landrance và Yorkshire là hai giống nhập ngoại có tỷ lệ
thịt nạc cao và khả năng tăng trọng nhanh. Trong khi đó,
hai giống lợn nội của ta (lợn Móng Cái và lợn Bản) có tốc
độ tăng trọng chậm, nhất là lợn Bản (1 năm tuổi chỉ nặng
30-40kg) và tỷ lệ nạc không cao. Kêt quả nghiên cứu này
được trình bày tại bảng 2 [9,14].
Bảng 2. Đặc điểm sinh trưởng của một số giống lợn nuôi
tại Việt Nam
Như vậy chúng tôi nhận thấy rằng có sự ảnh hưởng rõ rệt
của kiểu gen Leptin đối với tính trạng tốc độ tăng trưởng và
chất lượng thịt lợn. Điển hình là lợn mang kiểu gen GG sẽ
có khả năng tăng trọng cao, chất lượng thịt tốt, tỷ lệ nạc
cao. Kết quả này cũng phù hợp với một số nghiên cứu của
nhiều tác giả trên thế giới. [7] KẾT LUẬN
Đã nhân thành công đoạn gen Leptin liên quan tới tính
trạng chất lượngt thịt và khả năng tăng trọng ở lợn. Sử
dụng enzym Hind III đã xác định được đa hình kiểu gen
Leptin.
performace traits in a porcine resource family and in
comercial outbred population”, Animal genetic, 29, pp. 60-
74.
5. Innis.M.A, Gelfand.D.H, Sninsky.J.J, White.T.J (1990).
PCR protocol: A Guide to Methods and Applications.
6. Jiang, Z-H., Gibson, J.P. (1999), “Genetic
polymorphisms in the leptin gene and their association with
fatness in four pig breeds”, Mammalian Genome, 10, pp.
191-193.
7. Kennes Y.M., Murphy B.D., Pothier F., Palin M F.,
(2001) “Characterization of swine leptin (LEP)
polymorphisms and their association with production
traits”, Animal Genetics, 32, pp. 215- 218.
8. Kuryl J., Kapela—Ski W., Pierzchala M., Bocian M.,
Grajewska S., ( 2003 ), “A relationship between genotypes
at the GH and LEP loci and carcass meat and fat deposition
in pigs”, Animal Science , 21, pp. 15-26.
9. Lê Viết ly (1999). Chuyên khảo bảo tồn nguồn gen vật
nuôi ở Việt nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà nội.
10. Neuenschwander, S., Rettenberger, G., Mejjerink, E.,
Jeejrb, H., Stranzinger, G. (1996), “Partial characterization
of porcine obesity gene (OBS) and its localization to
chromosome 18 by somatic cell hybrids”. Animal Genetics,
27, pp. 275-278.
11. Ngân hàng dữ liệu gen quốc tế
(EMBL/Genbank/DDBJ): và
.
12. Sambrook J, Fritsch EF, Maniatis T. Molecular
Cloning. 1989.
13. Spurlock, M.E., Frank, G.R., Cornelius, S.G., Ji, S.,