Tạp chí NN&PTNT số 18 năm 2007
ẢNH HƯỞNG CỦA XỬ LÝ THỰC BÌ, LÀM ĐẤT VÀ BÓN PHÂN TỚI SINH TRƯỞNG
CỦA MỘT SỐ LOÀI KEO TRỒNG TẠI VIỆT NAM
Nguyễn Quang Dương , Đặng Thịnh Triều TÓM TẮT
Bài báo này tóm tắt một số kết quả nghiên cứu về xử lý thực bì, làm đất và bón phân trong trồng rừng keo
tại Việt Nam trong những năm gần đây. Sinh trưởng của keo lưỡi liềm (Acacia srassicarpa) và keo lá tràm (A.
auriculiformis) tốt hơn khi đất được xử lý bằng cách lên líp nơi đất bị ngập lụt vào mùa mưa. Kích thước líp cho keo
lưỡi liềm là cao 0,2m và rộng 4, và với keo lá tràm cao 0,2m và rộng 1,5m. Việc để lại cành, nhánh sau khai thác làm
tăng 10% sản lượng rừng so với dọn sạch thực bì đối với keo lá tràm (A. auriculiformis). Tuy nhiên chiều cao cây và
tỷ lệ sống khác nhau không có ý nghĩa giữa các công thức. Chất diệt cỏ Ridweed (paraquat chloride) có thể dùng để
diệt cỏ cho rừng trồng keo lai (Acacia hybrid), tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy sinh trưởng đường kính và
chiều cao giữa các công thức diệt cỏ bằng thuốc và làm cỏ bằng phương pháp thủ công khác nhau không rõ rệt. Bón
lót và bón thúc làm tăng sinh trưởng của keo. Cho tới nay, lượng phân bón lót lớn nhất được thí nghiệm là hỗn hợp
25g N, 50g P, 25 K và 100g phân vi sinh cho keo lai (Acaica hybid).
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo dự báo, nhu cầu gỗ của Việt Nam tới năm 2010 khoảng 9,35 triệu m
3
. Tuy nhiên, gỗ
khai thác từ rừng tự nhiên chỉ đạt 300.000m
3
/năm (Bộ NN và PTNT, 1999). Lượng thiếu hụt sẽ
được cung cấp từ rừng trồng hoặc nhập khẩu. Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của chính
phủ đang được thực hiện nhằm góp phần đáp ứng một phần nhu cầu gỗ trên và nâng độ che phủ
toàn quốc lên tới 43%. Trong thời gian qua công tác giống đã đạt được nhiều thành tựu (Harwood
và cộng tác viên, 2006), bên cạnh đó việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật lâm sinh trong trồng
rừng cũng được chú trọng, cả năng suất và chất lượng rừng đã được cải thiện một cách rõ rệt
1.3
(cm)
H (m)
Cả vỏ Không vỏ
Tỷ lệ
sống (%)
Cành, lá lấy đi sau khi khai thác 11,1 13,9 116,0 92,8 95,4
Cành, lá để lại sau khi khai thác 11,4 14,2 124,1 99,4 94,2
Gom thêm cành lá gấp đôi 11,6 14,3 127,3 102,1 96,0
Mức độ sai khác (P) 0,01 0,45 0,02 0,03 0,63
LSD
0.05
0,3 0,7 7,6 6,3 4,4
Thí nghiệm dùng thuốc Ridweed để diệt cỏ chăm sóc rừng trồng cũng đã được tiến hành
đối với keo lai (Acacia hybrid) tại Bình Phước (Phạm Thế Dũng và cộng tác viên, 2005). Sau 2
năm cho thấy sinh trưởng về chiều cao và đường kính không khác nhau giữa các công thức thí
nghiệm (Bảng 2). Tỷ lệ cây đa thân giữa các công thức sai khác nhau rõ rệt, điều đó dẫn tới trữ
lượng lâm phần của các công thức thí nghiệm khác nhau, tuy nhiên sự xuất hiện đa thân không
phải là kết quả của việc phun thuốc diệt cỏ.
Bảng 2: Ảnh hưởng của các biện pháp chăm sóc (làm cỏ) tới sinh trưởng của keo lai 2 năm
sau khi thí nghiệm tại Bình Phước (xem Phạm Thế Dũng và cộng sự, 2005).
Công thức thí nghiệm Tỷ lệ sống
(%)
Tỷ lệ cây
đa thân
(%)
Đường
kính cổ rễ
(cm)
Cả vỏ Bóc vỏ
(%) (%)
Đối chứng 11,9 78,4 62,2 2,3 83,3
Phun thuốc theo hàng, bề rộng
1.5m, 2 lần/năm
13,6 119,7 95,9 9,7 93,5
Phun thuốc toàn diện 1 lần/năm 13,5 113,4 90,7 12,9 95,8
Phun thuốc toàn diện 2 lần/năm 13,9 127,2 102,0 16,2 94,9
Mức sai khác (P) 0,003 <0,001 <0,001 <0,001 0,002
LSD
0.05
0,9 11,5 9,5 6,2 5,7
2. Ảnh hưởng của khâu làm đất tới sinh trưởng của các loài keo
Hiện nay, trước khi trồng rừng đất có thể được chuẩn bị bằng nhiều phương pháp và
phương thức khác nhau tuỳ vào điều kiện cụ thể. Thường sau khi xử lý thực bì, đất được đào hố
để trồng cây theo kích thước và mật độ thiết kế. Trong một số điều kiện nhất định, đất được xử lý
bằng cách cày toàn diện hoặc lên líp trước khi đào hố. Đã có một vài thí nghiệm nhằm nâng cao
sản lượng rừng trồng thông qua việc làm đất .
Tại Quảng Trị, nơi thường hay bị ngập lụt vào mùa mưa, thí nghiệm lên líp trồng được
tiến hành đối với keo lá tràm (A. auriculiforimis) và keo lưỡi liềm (A. crassicapar). Kết quả cho
thấy sau 4,5 năm, đường kính và chiều cao của keo lưỡi liềm trồng trên líp tăng một cách ý nghĩa
so với không lên líp. Đường kính và chiều cao đạt tương ứng là 5cm và 7,7m, trong khi ở công
thức đối chứng các chỉ tiêu này chỉ đạt 2,6cm và 5,8m. Đối với keo lá tràm sự khác nhau rõ rệt
chỉ xảy ra đối với đường kính. Kích thước líp thích hợp cho keo lưỡi liềm là cao 0,2m, rộng 4m
và cho Keo lá tràm là 0,2m chiều cao và 1,5m chiều rộng (chi tiết xem Nguyễn Thị Liệu, 2004).
Năm 2001, thí nghiệm về làm đất được tiến hành với keo lá tràm (Phạm Thế Dũng, 2005).
Sau 4 năm, chiều cao của cây trong thí nghiệm đối chứng (không cày) tốt hơn rõ rệt so với cây
trong công thức làm đất bằng cách cày toàn diện. Nguyên nhân có thể trong công thức cày toàn
diện đất bị rửa trôi và xói mòn (Phạm Thế Dũng, 2005). Sự sai khác không có ý nghĩa được ghi
Chiều cao và trữ lượng lâm phần của các dòng keo lai đều ảnh hưởng bởi phân bón lót
mặc dù với mức độ khác nhau. Chiều cao của dòng TB03 tốt nhất tại công thức thí nghiệm 2,
nhưng đường kính và trữ lượng lâm phần không khác nhau giữa các công thức thí nghiệm. Sinh
trưởng của dòng TB05 tốt hơn tại các công thức bón phân, nhưng sự khác nhau chưa đạt mức có
ý nghĩa. Kết quả tương tự xuất hiện với dòng TB06, đường kính, chiều cao và trữ lượng lâm phần
tại công thức 2 cao hơn so với công thức không bón phân. Trữ lượng lâm phần của dòng BT12 tại
công thức bón phân cao hơn rõ rệt so với công thức không bón phân. Nhìn chung bón lót hỗn hợp
phân NPK và phân vi sinh (công thức 3) làm tăng cao nhất trữ lượng lâm phần sau 3 năm thí
nghiệm (Phạm Thế Dũng và các cộng tác viên, 2005). Trong một thí nghiệm khác, Hoàng Xuân
Tý (1990) ghi nhận rằng bón lót hỗn hợp 100g NPK (25g N, 50g P, 25 K) và 100g phân vi sinh
cho sinh trưởng tốt nhất đối với Keo lai tại Bình Phước.
Bảng 5: Ảnh hưởng của bón lót đến sinh trưởng đường kính (D), chiều cao (H) và trữ lượng lâm
phần (V) của keo lai (A. hybrid) tại Bình Phước 3 năm sau khi thí nghiệm (xem Phạm Thế Dũng
và cộng sự, 2005).
Dòng
TB03 TB05 TB06 TB12
Công thức thí
nghiệm
D
1.3
(cm)
H
(m)
V
(m
3
/h
a)
D
/h
a)
Không bón phân
(CT1)
9,8 11,1 44,6 9,1 10,3 48,4 10,3 10,5 39,9 9,9 11,1 43,9
Bón 100g NPK+
50g lân (CT2)
10,1 13,7 36,2 9,5 10,5 47,9 10,8 11,1 45,9 9,8 12,7 53,3
Bón 100g NPK
500g vi sinh
(CT3)
9,9 10,7 36,8 9,7 11,0 54,0 10,5 11,4 48,1 9,7 11,0 54,2
Đối với keo lá tràm sinh trưởng tốt nhất (D = 6,6cm, H=6,2m) tìm thấy tại công thức bón
hỗn hợp 150g NPK (24g N, 10,48g P và 9,96g K) và 300g phân vi sinh (Bảng 6; Phạm Thế Dũng
và cộng sự, 2005). Các công thức không bón phân, sinh trưởng chiều cao và đường kính của keo
lai kém hơn. Trong thí nghiệm này bón lót có thể tăng từ 4,0-15,9% về đường kính và từ 2,6-
8,5% về chiều cao (bảng 6).
4Bảng 6: Ảnh hưởng của bón lót đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của keo lá tràm (A.
auriculiformis) tại Bình Phước (xem Phạm Thế Dũng và cộng sự, 2005).
Công thức thí nghiệm
Lượng phân bón
(g/cây)
Lượng dinh dưỡng (g/cây)
NPK Phân vi sinh N P K
Tỷ lệ
sống
nghiệm bón phân tốt hơn rõ rệt so với công thức không bón phân. Công thức tốt nhất là công thức
(1). Sự khác nhau giữa các công thức bắt đầu xuất hiện 1 năm sau khi thí nghiệm, chiều hướng
này kéo dài tới năm thứ 2 sau đó sinh trưởng đường kính có chiều chậm lại.
5
Kết quả nghiên cứu của Phạm thế Dũng và cộng sự (2005) cho thấy, sinh trưởng đường
kính, chiều cao và trữ lượng lâm phần không ảnh hưởng rõ rệt bởi bón thúc. Tuy nhiên, tỷ lệ sống
và tỷ lệ cây đa thân khác nhau rõ rệt giữa các công thức thí nghiệm. Sau 42 tháng, tỷ lệ đa thân
của dòng TB05 là 27,1%, 35,5% và 42,9% cho các công thức thí nghiệm 1, 2, và 3. Tỷ lệ sống
của dòng TB12 là 59,3%, 66,7% và 75,9% cho các công thức thí nghiệm tương ứng là 1, 2 và 3.
Sau 12 tháng bón thúc, sinh trưởng của keo lá tràm được cải thiện rõ rệt (Vũ Đình Hưởng
và cộng sự, 2006). Tại thời điểm sau 3 năm thí nghiệm, đường kính của công thức bón phân tăng
hơn 8% so với công thức không bón phân. Tuy nhiên sự khác nhau giữa các công thức về chiều
cao và tỷ lệ sống không rõ rệt.
III. THẢO LUẬN
Nhu cầu về gỗ và sản phẩm từ gỗ được dự báo là ngày càng tăng tại Việt Nam. Để đáp
ứng được nhu cầu này, Việt Nam đã mở rộng diện tích trồng rừng. Đồng thời các nhà lâm nghiệp
cũng chuyển từ trồng rừng quảng canh với năng suất thấp sang trồng rừng thâm canh cho năng
suất cao bằng cách áp dụng những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất.
Sản lượng rừng trồng keo phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như giống, chất lượng
rừng trồng, đặc điểm đất, thực bì nơi trồng rừng. Trong đó một số vấn đề như cải thiện nguồn
gen, quản lý lập địa và các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tiến bộ đã được quan tâm nghiên cứu
trong thời gian qua.
Việc làm đất trước khi trồng rừng chủ yếu vẫn được làm thủ công bằng cách đào hố. Mục
đích nhằm giúp bộ rễ dễ dàng phát triển, giúp nước thấm sâu vào đất để gia tăng độ ẩm cho cây
trồng và làm đất tơi xốp, thoáng khí. Trong một số trường hợp đào hố có thể hạn chế sự cạnh
tranh của cỏ dại. Tuy nhiện hiện nay chưa có các tài liệu công bố các thí nghiệm ảnh hưởng của
kích thước hố trồng đến sinh trưởng của keo. Việc lên líp và cày trước khi trồng rừng cũng đã
được thực hiện ở một số nơi. Ví dụ như ở miền trung, đất thường bị ngập lụt vào mùa mưa, lên
líp có thể cải thiện sinh trưởng của keo lưỡi liềm và keo lá tràm. Một số kết quả nghiên cứu về
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Đối với những nơi đất bị ngập úng vào mùa mưa, lên líp làm tăng tốc độ sinh trưởng của
keo lưỡi liềm (A. crassocarpa) và keo lá tràm (A. auriculiformis). Việc để lại cành nhánh sau khai
thác tự phân hủy làm tăng tốc độ sinh trưởng của rừng trồng keo. Áp dụng bón phân làm tăng tốc
độ sinh trưởng của rừng trồng keo, tuy nhiên tuỳ vào điều kiện đất đai và đặc điểm của từng loài
mà mức độ ảnh hưởng khác nhau.
Qua các nghiên cứư trên, có thể thấy được một số tồn tại trong các thí nghiệm bón phân
trong thời gian qua như sau:
Hầu hết các thí nghiệm đều tiến hành với phân NPK, điều đó rất khó đưa ra kết luận
nguyên tố nào là quan trọng nhất cho Keo trong 3 nguyên tố đa lượng là N, P và K. Đến nay vẫn
chưa có giới hạn cao nhất cho liều lượng cao nhất trong bón phân cho rừng keo. Còn ít các thông
tin về đặc điểm lý, hoá của đất trong các thí nghiệm bón phân cho rừng trồng. Trong khi cơ sở
của việc bón phân cần dựa vào đặc điểm đất nơi thí nghiệm. Việc bón phân cũng cần phải dựa
trên cơ sở phân tích dinh dưỡng trong thực vật, tuy nhiên trong các báo cáo không có những kết
quả phân tích thực vật.
Một điều cần quan tâm trong các báo cáo về thí nghiệm bón phân là lượng các nguyên tố
dinh dưỡng được sử dụng hoặc tỷ lệ thành phần trong phân hỗn hợp không được đề cập, điều đó
sẽ dễ dàng gây nên sự nhầm lẫn hoặc khó so sánh được kết quả giữa các thí nghiệm.
Qua bài viết này cho thấy, vẫn còn ít các thông tin về xử lý thực bì, làm đất và bón phân
áp dụng cho rừng trồng keo tại Việt Nam. Trong số các tài liệu hiện có, hầu hết các thí nghiệm
được tiến hành trong thời gian từ 1 đến 4 năm đầu của rừng trồng. Trong khi chu kỳ của các loài
keo có thể kéo dài trên 10 năm. Điều đó chưa thể đưa ra kết luận hoàn chỉnh về áp dụng các biện
pháp kỹ thuật trên nhằm nâng cao năng suất rừng keo trong suốt quá trình kinh doanh. Để đạt
được mục đích năng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của rừng trồng, cần có những nghiên cứu
về kỹ thuật lâm sinh trong thời gian tới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,2007. “Phát Chiến lược phát triển Lâm
nghiệp giai đoạn 2006-2020”.
2. Harwood, C.E., Lê Đình Khả, Hà Huy Thịnh, Phí Hồng Hải, 2006. “Tổng quan về
nguồn gen và phương pháp nhân giống keo lai phục vụ rừng trồng gỗ xẻ tại Việt
STUDY ON THE INFLUENCES OF VEGETATION CLEARING, TILLAGE, AND
FERTILIZERS APPLICATION ON GROWTH OF SOME ACACIA SPECIES
PLANTED IN VIETNAM
This paper is dealing with some results of the studies on vegetation clearing, tillage and
fertilizer application in acacia plantation in Vietnam in the recent years. In the wedlands or the
seasonally flooded alnds the growth of A. crassicarpa is generally better if they were planted on
the embankments. The size for the embankments for each of them must be diffrently designed.
The evaluation for both of them should not less than 0.2m but the width for crassicarpa should be
4m, while for auriculiformis should be 1.5m only. The branches of A. auriculiformis left in the
plantations after wood cutting can increase the productivity to the extent of 10%. Nevertheless,
no significance was noted in the disparity of height and survival rate among the trees in the
plantations. Some herbicide kinds can be used for A. hybridd plantations; however no distinction
was noted between the treatments by hands or by chemical products. Fertilizer application
procedures, basal and dressing, have positive impacts on the growth of acacias. It has been
appreciated, that the composition, 25 gr N + 50gr P + 25 gr K in addition to 100 microorganisms,
is the best for A. hybrid basal application.
Keywords: Vegetation clearing, tillage, fertilizers, Acacias, embankment 8