BƯỚC đầu tìm HIỂU về các GIỐNG lúa và NGHỀ TRỒNG lúa ở VIỆT NAM THẾ kỷ XVIII XIX (PGS TSKH NGUYỄN hải kế) - Pdf 19

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ CÁC GIỐNG LÚA VÀ NGHỀ TRỒNG
LÚA Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII-XIX

PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế

Trong lịch sử sản xuất nông nghiệp, việc tìm hiểu giống cây
trồng nói chung, đặc biệt là các giống lúa với tư cách là loại
cây lương thực chủ yếu của nước ta, có ý nghĩa quan trọng.
Nó không chỉ bao hàm việc làm sáng tỏ sự phát triển kinh
tế, chính trị trong tiến trình lịch sử, mà còn góp phần khám
phá, tiếp thu kho tàng tri thức khoa học nông nghiệp quý
giá được ông cha ta đúc rút trong công thức nổi tiếng:
nước-phân-cần-giống.
Mặt khác, trong khi cả nước tập trung cao độ trí tuệ, sức lực
để “phát triển vượt bậc về nông nghiệp, giải quyết cho được
vấn đề lương thực”[1], công tác nghiên cứu khoa học phục
vụ nông nghiệp có trách nhiệm nặng nề như xây dựng hệ
thống quốc gia, phân vùng quy hoạch nông nghiệp Nhưng
cơ sở khoa học của công tác này, ngoài yêu cầu của các yếu
tố tự nhiên, hiện đại… còn gắn bó với kinh nghiệm, với
truyền thống.
Bước đầu tìm hiểu các giống lúa và kỹ thuật trồng lúa ở Việt
Nam chúng tôi mới chỉ đề cập đến trong phạm vi của thế kỷ
XVIII-XIX vì lý do sau:
- Với tư cách là một tư liệu sản xuất quan trọng của sản
xuất nông nghiệp, giống cây trồng là sản phẩm lao động
trực tiếp, liên tục, lâu dài của con người. Tập đoàn giống lúa
ở thế kỷ XVIII-XIX có thể coi là đại diện cao nhất cho sự phát
triển về hình thái sinh vật, của kỹ thuật trồng lúa trong thời
Cổ - trung đại ở Việt Nam.
- Đến thế kỷ này, dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn

Phủ Biên tạp lục[3] được Lê Quý Đôn hoàn thành trong thời
gian làm Hiệp trấn xứ Thuận Hóa (Bình - Trị - Thiên đến
Nghĩa Bình ngày nay) năm 1776.
So với Vân Đài loại ngữ thì Phủ Biên tạp lục ghi chép về lúa
cụ thể hơn, từ thời vụ, đặc điểm sản xuất đến chỉ tiêu kinh
tế. Trong phạm vi từng phủ, thậm chí từng tổng, như tổng
Bái Ân, huyện Minh Linh, ông đã đề cập chi tiết về đất đai,
canh tác. Song một số giống như A suốt, Héo trắng… chỉ
được đề cập qua, các giống lúa ở Đồng Nai, Gia Định được
chép đến ít ỏi, cả vùng Quảng Nam không thấy chép tới.
Với phạm vi thời gian và địa bàn trên, Vân Đài loại ngữ và
Phủ Biên tạp lục cho chúng ta một tập hợp các giống lúa ở
thế kỷ XVIII.
Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (?-1825). Khác
với Lê Quý Đôn, ông không nêu từng giống lúa mà chỉ viết:
“loại lúa đạo có rất nhiều, đại khái có hai loại Canh và
Thuật…”[4].
Về thời vụ, ông chú ý đề cập khá chi tiết khi nhận xét công
việc cày cấy ở các trấn, huyện, vùng Đồng Nai - Gia Định.
Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn
(đời Tự Đức 1864-1875)[5] đã đề cập đến lúa, thời vụ cấy
lúa trong phần khí hậu của các tỉnh, tập trung nhất là mục
Thổ sản phủ Thừa Thiên, quyển 2. Tác phẩm này trên cơ sở
tham khảo các sách vở của Việt Nam và Trung Quốc có từ
thời trước đến bây giờ, đề cập khá cụ thể các đặc điểm sinh
vật, chỉ tiêu kinh tế của các giống lúa.
Song Đại Nam chỉ chép có 19 giống nếp, 20 giống tẻ “các
tỉnh đều có”, ngoài ra “tục gỏi là lúa Thốc, lúa Vàng, Trĩ…,
phẩm loại rất nhiều” không được đề cập đến.
Có thể coi Gia Định thành thông chí và Đại Nam nhất thống

nhiêu mồ hôi, trí tuệ đã không ngừng gây dựng, chọn lựa
được một tập đoàn giống lúa đông đảo về số lượng, phong
phú về loại hình, có nhiều phẩm chất tốt, phù hợp với điều
kiện tự nhiên và xã hội Việt Nam.
Chỉ mới thống kê qua Vân Đài loại ngữ và Phủ Biên tạp lục
đã có tới 120 giống lúa nếp, tẻ.
Do đặc tính cơ bản của cây lúa nước là loại cây đầm lầy
(Hudro-phyte) “có tổ tiên và họ hàng gần vốn sinh trưởng ở
những hồ nước không sâu”[7], ưa nước, ưa nóng, ưa ánh
sáng; do điều kiện nhiệt đới gió mùa, vì vậy lúa nước tập
trung chủ yếu vào hai vụ hạ và đông (chiêm và mùa, theo
cách gọi của cư dân đồng bằng phía Bắc). Điểm này, Dương
Phù trong sách Di vật chí, ngay từ thế kỷ I, đã có chép: “Lúa
ở Giao Chỉ mỗi năm trồng hai lần vào mùa hè và mùa
đông”[8]. Sách Thủy kinh chú còn nói rõ: “Nơi gọi là Bạch
điền trồng lúa trắng, tháng bảy làm thì tháng mười chín;
nơi gọi là Xích điền thì trồng lúa đỏ, tháng chạp làm thì
tháng tư chín”[9].
Vụ mùa bắt đầu cấy vào mùa hè, nóng lắm, mưa nhiều, thích
hợp với sinh thái cây lúa hơn là vụ chiêm bắt đầu vào vụ
hanh khô.
Vân Đài và Phủ Biên ghi 85 giống lúa mùa, 35 giống lúa
chiêm.
Gia Định và Đại Nam chép 31 giống lúa mùa và 15 giống lúa
chiêm.
Ở cả hai bảng trên đều cho một tỉ lệ: mùa gần 70%, chiêm
khoảng 30%.
Tuy nhiên, do địa hình trải dài trên 15 vĩ tuyến (từ 8 độ 30
bắc, đến 23 độ 22 bắc), nhất là do vị trí đặc biệt của Việt
Nam trong châu Á gió mùa, năng lượng bức xạ quanh năm

khí hậu phức tạp của Việt Nam, người nông dân đã gây
trồng được nhiều loại giống thích hợp.
Chân ruộng trũng, úng, có giống lúa cao cây, cứng, đanh
dảnh, 100% giống lúa chiêm cấy ruộng sâu chép trong Đại
Nam đều cao, cứng, thậm chí có lúa chiêm di “ngập nước
một tháng vẫn kết quả”[14].
Ở những vùng nước lợ, nước mặn ven biển có loại chịu mặn
tốt như lúa viên, lúa nước mặn.
Những vùng núi cao, hoặc xứ Thuận Hóa (Bình Trị - Thiên
ngày nay) được hình thành do phù sa biển, địa hình cồn cát,
đầm phá nhiều, nên khó giữ nước, đã gây dựng được các
loại lúa không cần nhiều nước, chịu hạn giỏi như lúa vay
“không ưa nước, cày đất qua rồi gieo hạt giống…”[15].
Về sự phát triển của các giống lúa, các tài liệu ghi chép
không nhiều. Vân Đài chỉ cho biết sức đẻ nhánh của lúa tám
sinh, hoa riềng, mít, trung bình là 4 đến 5 nhánh. Nếu so
sánh với ghi chép của sách Cổ kim chú “Năm diên quang thứ
hai đời vua An đế nhà Hán (123), ở quận Cửu Chân (Thanh
Hóa ngày nay), lúa tốt quá, 150 gốc được những 768
bông”[16] thì thấy sức đẻ của lúa đại trà thế kỷ XVIII ngang
với những khóm lúa tốt quá ở thế kỷ thứ II.
Những giống lúa được trồng phần lớn có giá trị kinh tế khá
cao, phù hợp với điều kiện kinh tế, tập quán xã hội.
Đến thế kỷ này, những phẩm chất tốt của hột gạo như
trắng, thơm, dẻo,… ngày càng chiếm tỉ lệ cao và trở thành
phẩm chất thường trực. Nếp củ nâu “thổi cơm thơm ngon,
để năm ngày vẫn dẻo”[17].
Đặc biệt là các giống lúa tám, như tám thơm, tám xoan,
“gạo trắng trong, mùi ngọt thơm, nấu cơm rất ngon để lâu
vẫn mềm”[18]. Bên cạnh đó, cư dân nông nghiệp Việt Nam,

địa phương, một trăm năm sau đã nhân lên trên địa bàn
rộng lớn với những phẩm chất tốt hơn; chẳng hạn “nếp voi
thóc to sản ở Nghệ An”, đến thế kỷ XIX “thân lúa cao, bông
lúa thưa, hạt thóc tròn lớn, được nhiều rạ sắc trắng, cơm
mềm. Bắt đầu ở Nghệ An, hiện nay các tỉnh đều có”[21].
Trong Vân Đài, Lê Quý Đôn còn chép đến “Người Nam Giao
tiếp xúc với người Chiêm, nên trồng được nhiều thứ lúa chín
về mùa hạ, gọi là lúa chiêm”[22].
Ngày nay, một số ngành nghiên cứu nông nghiệp (dựa trên
các tài liệu khảo cứu về đặc tính sinh vật, nhất là phản ứng
của lúa đối với các thời vụ gieo khác nhau trong một năm,
tính mẫn cảm đối với ánh sáng dài ngắn của một số lúa mùa
sớm ở vùng trung Trung bộ, đã phản ứng gần như lúa
chiêm ở miền Bắc) cũng cho rằng “có thể giống lúa chiêm
của ta bắt nguồn từ giống lúa mùa sớm ở Chiêm Thành đưa
lên miền Bắc và được gieo vào vụ hanh khô. Điều kiện khí
hậu từ lâu đời đã huấn luyện cho các giống lúa sớm phương
Nam được di chuyển lên phía Bắc phải sinh sống qua mùa
đông đã xây dựng dần dần những đặc tính của lúa
chiêm”[23].

*
* *

Cùng với những ghi nhận về tập đoàn giống lúa, các tài liệu
trên còn phản ánh một số mặt của kỹ thuật canh tác nông
nghiệp Việt Nam thế kỷ XVIII, XIX.
Điểm chú ý đầu tiên ở đây là công cụ và phương pháp làm
đất. Kỹ thuật cày bừa do trâu bò kéo “con trâu đi trước cái
cày đi sau”, mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đã phổ biến

nông dân đã đúc kết được. Chẳng hạn ruộng đất cát thì cấy
liền tay, đất thịt thì cấy “chày ngày”, cấy “moi” ở Ninh Bình,
cấy “húng” ở Hà Nam ( Hà - Nam - Ninh), hoặc “mạ chiêm
đào sâu chôn chặt, lúa mùa vừa đặt vừa đi”[27].
Các tài liệu trên không nhắc đến kỹ thuật này, mà chỉ cho
biết chắc chắn ở thế kỷ XVIII, XIX, hình thức gieo mạ phổ
biến là cấy lúa. Với kỹ thuật trên, cho phép người nông dân
chăm sóc được cây con trong thời kỳ mạ, tận dụng được đất
đai trong ruộng cấy, để có thể tranh thủ trồng cây khác,
hoặc làm đất kỹ hơn, diệt bớt cỏ dại…; sau ngày cấy lúa có
điều kiện phát triển nhanh.
Song bên cạnh ấy ta còn thấy hình thức gieo trực tiếp,
thường thường ở những vùng núi cao, đất cát. Ở vùng
Thuận Hóa có lúa vay “cày đất qua rồi gieo hạt giống, lại
bừa qua một lượt là lúa mọc”[28]. Và ở vùng Đông Thành,
Nghệ An “đất toàn cát…, khởi công cày bừa, gieo thóc giống
rất dày: ngay ngày gieo giống lại bừa luôn một lượt, thóc và
cát lẫn lộn…; không bao lâu lúa mọc lên tốt như cỏ”[29].
Hình thức gieo trực tiếp mà nông dân ở thời kỳ này áp
dụng, không phải chủ yếu là các biện pháp kỹ thuật để xen
vào các cây trồng, tranh thủ thời gian sinh trưởng hay để
dư thêm sức lao động, mà áp dụng vào những nơi đất cao,
thiếu nước, hoặc đất cát pha, dễ mất nước.
Phân, yếu tố quan trọng của kỹ thuật trồng lúa, cơ sở vật
chất để cấu tạo nên cây trồng, điều kiện quyết định năng
suất và sản phẩm, đã được ông cha ta nhấn mạnh “người
đẹp về lụa, lúa tốt về phân”. Khí hậu nước ta thuận lợi cho
quá trình phân hủy mùn trong đất, và nguồn phân hữu cơ
người nông dân Việt Nam thường dùng là phân xanh, phân
rác. Nguồn phân đó có thể mang lại do chính biện pháp “đao

năm sản xuất hơn 400 nghìn cân”[33].
Nông dân còn biết sử dụng một hình thức bồi dưỡng đất
trồng khác bằng cách đổi giống lúa cấy trên ruộng là luân
canh. Đại Nam nhất thống chí có chép đến một chế độ luân
canh vùng ruộng vụ thu tỉnh Quảng Bình và Quảng Ngãi.
Chẳng hạn, “tháng 5, tháng 6 cấy, tháng 9, tháng 10 gặt;
tháng 2 trồng dưa, tháng 3 trồng đậu, tháng 4, tháng 5,
tháng 6 hái quả…”[34].
Sự thay đổi cây trồng trong một năm, trên một mảnh ruộng,
nhất là các loại cây họ đậu, vừng, không chỉ có ý nghĩa làm
tăng sản phẩm mà còn góp phần nâng cao độ phì cho đất,
khắc phục tình trạng sử dụng đất đai mất cân đối, phòng
ngừa cỏ dại, sâu bệnh.
*
* *

Trong phạm vi chi phối của quan hệ sản xuất phong kiến
chật hẹp, tình trạng sở hữu ruộng đất cá thể vụn vặt, sức
sản xuất thấp kém…, tập đoàn giống lúa và kỹ thuật canh
tác của Việt Nam đến thế kỷ XVIII-XIX còn bộc lộ rõ những
hạn chế sau:
- Tính địa phương sâu sắc, nhỏ hẹp, phức tạp.
- Còn mang tính dã sinh: khả năng đẻ chết, thóc có râu, gạo
đỏ cứng… Thế kỷ XVIII gần 30%, đến thế kỷ XIX còn khoảng
20%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status