TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài:
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại Công ty trách nhiệm
hữu hạn đầu tư xây dựng Đông Phương
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
I. Những vấn đề chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
PHẦN II
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG ĐÔNG PHƯƠNG
I. LỊch sỬ hình thành và phát triỂn cỦa Công ty:
1.4 Quy trình công nghỆ cỦa Công ty: 29
1.5.1. Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 29
PHẦN III
THỰC TẾ CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ XÂY DỰNG ĐÔNG PHƯƠNG
I/. Những vấn đề chung:
CHƯƠNG 4
NHẬN XÉT - KIẾN NGHỊ
4.1. NHẬN XÉT
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
tính đủ chi phí là một trong những điều kiện cơ bản để doanh nghiệp xác định đúng
đắn kết quả sản xuất kinh doanh. Tài liệu về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 3
là căn cứ quan trọng để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các định mức chi phí
và dự toán chi phí, tình hình sử dụng tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn, tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm của công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài, đối tượng nghiên cứu của đề tài
là Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp,
trong đó đi sâu nghiên cứu quy trình tập hợp chi phí sản xuất , phương pháp phân
bổ chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Tập trung vào nghiên cứu tình hình thực tế công tác kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại công ty và đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn
thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là tính giá thành sản phẩm: Bao gồm các
phương pháp tính giá thành trực tiếp, phương pháp tổng cộng chi phí, phương pháp
tính giá thành theo định mức, Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng.
5. Giới thiệu kết cấu chuyên đề:
Ngoài lời mở đầu và kết luận thì kết cấu của chuyên đề gồm 4 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm
Chương 2 : Giới thiệu về công ty TNHH đầu tư xây dựng Đông Phương.
Chương 3: Tình hình thực tế công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây dựng tại Công ty TNHH đầu tư xây dựng Đông
Phương.
Chương 4: Nhận xét và Kiến nghị nhằm hoàn thiện phương pháp kế toán
khoản chi phí sản xuất, mặt khác kết quả sản xuất doanh nghiệp thu được là những
sản phẩm, công việc xây lắp nhất định đã hoàn thành. Nhữg sản phẩm, công việc
xây lắp hoàn thành cần phải tính được giá thành thực tế tức là những chi phí đã bỏ
ra để sản xuất chúng.
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá để hoàn thành khối lượng sản phẩm xây lắp theo quy
định. Sản phẩm xây lắp có thể là công trình, hạng mục công trình, giai đoạn thi
công xây lắp có thiết kế và tính dự toán riêng. Khác với các doanh nghiệp sản xuất
khác, giá thành sản phẩm xây lắp mang tính chất cá biệt, mỗi hạng mục công trình,
công trình hay khối lượng xây lắp khi đã hoàn thành đều có giá thành riêng. Giá
thành hạng mục công trình, công trình hoàn thành toàn bộ là giá thành sản phẩm
cuối cùng của sản xuất xây lắp.
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng
hoạt động sản xuất, kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong
quá trình sản xuất, cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã sử
dụng nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.
1.2 Đối tượng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 5
Trong quá trình sản xuất thi công, chi phí sản xuất của công ty thể hiện hao phí
trong kỳ của xây dựng, chi phí này phải được xem xét trong mối quan hệ với mặt
thứ hai của quá trình sản xuất đó là kết quả của sản xuất; quan hệ so sánh này đã
hình thành chỉ tiêu giá thành sản phẩm xây dựng.
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Chi phí sản xuất là căn cứ, cơ sở để tính giá thành sản phẩm đã hoàn thành.
Việc tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất quyết định đến tính chính xác của giá thành
sản phẩm. Chi phí sản xuất trước hết thể hiện theo các yếu tố chi phí, sau đó đến
giai đoạn tính giá thành, chi phí sản xuất được thể hiện theo các khoản mục tính giá
thành. Như vậy, tính giá thành sản phẩm xây dựng phải dựa vào hạch toán chi phí
sản xuất xây dựng, tổ chức quản lý tốt giá thành chỉ có thể thực hiện trên cơ sở tổ
liệu, động lực mà doanh nghiệp đã sử dụng cho hoạt động sản xuất trong kỳ.
- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp: Gồm toàn bộ số tiền công
phải trả cho công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh
phí công đoàn: Bao gồm toàn bộ số tiền trích bảo xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp, kinh phí công đoàn của công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất
trong doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu
hao tài sản cố định sử dụng cho sản xuất của doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp đã
chi trả về các loại dịch vụ mua từ bên ngoài như: tiền điện, tiền nước phục vụ cho
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí bằng tiền khác: Bao gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt
động sản xuất ngoài các yếu tố chi phí ở trên.
Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố giúp ta biết được những chi phí gì đã
dùng vào sản xuất và tỷ trọng của từng chi phí đó là bao nhiêu để phân tích, đánh
giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất từ đó cung cấp tài liệu để tổng hợp
thu nhập quốc dân.
1.3.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong
sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chi phí chỉ
bao gồm những chi phí có cùng mục đích và công dụng, không phân biệt chi phí đó
có nội dung kinh tế như thế nào. Do vậy cách phân loại này còn gọi là phân loại chi
phí sản xuất theo khoản mục, trong doanh nghiệp xây lắp toàn bộ chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ được chia ra làm các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí vật liệu trực tiếp: Là chi phí của các vật liệu chính, vật kết cấu, vật
liệu phụ, vật liệu luân chuyển (ván khuôn, đà giáo), bán thành phẩm cần thiết để tạo
nên sản phẩm xây lắp.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền công, tiền lương và
các khoản phải trả công nhân trực tiếp xây lắp, không tính vào khoản mục này số
sản xuất chung ở đội xây dựng như: khuôn mẫu, dụng cụ gá lắp, dụng cụ cầm tay,
dụng cụ bảo hộ lao động, ván khuôn, dàn giáo.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao của
tài sản cố định sử dụng ở các tổ, đội thi công như khấu hao máy móc, phương tiện
vận tải.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là những chi phí về lao vụ, dịch vụ mua từ bên
ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất chung ở đội xây dựng như chi phí về điện,
nước, chi phí điện thoại, fax, chi phí sửa chữa TSCĐ thuê ngoài.
+ Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm những chi phí bằng tiền ngoài những chi
phí nêu trên phục vụ cho nhu cầu sản xuất chung của tổ đội thi công.
Phân loại chi phí theo đúng mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng phục
vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho việc
tính giá thành sản phẩm xây lắp, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
1.3.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí.
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất xây lắp được chia thành chi phí trực
tiếp và chi phí gián tiếp.
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 8
- Chi phí trực tiếp là chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi
phí, chi phí này được tính trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí căn cứ vào
chứng từ gốc.
- Chi phí gián tiếp là chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí mà
không thể dựa vào chứng từ để tính trực tiếp cho từng đối tượng, phải tập hợp đến
cuối kỳ khoá sổ và lựa chọn tiêu thức phân bổ cho các đối tượng theo tiêu chuẩn
thích hợp.
Cách phân loại chi phí sản xuất này có ý nghĩa đối với việc xác định phương
pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng một cách hợp
lý.
1.3.4 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức hoạt động.
Theo mối quan hệ này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia ra như
1.4.1 Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính toán
- Giá thành dự toán: là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối
lượng xây dựng công trình, hạng mục công trình. Giá thành dự toán được xác định
trên cơ sở các định mức kinh tế, kỹ thuật và đơn giá của Nhà nước. Giá thành dự
toán là chênh lệch giữa giá trị dự toán và phần lãi định mức.
Giá trị dự toán của công
trình, hạng mục công trình
=
Giá thành dự toán của
công trình, hạng mục
công trình
- Lãi định mức
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xác định xuất phát từ những điều kiện cụ
thể ở một doanh nghiệp xây dựng nhất định trên cơ sở biện pháp thi công, các định
mức và đơn giá áp dụng trong doanh nghiệp
Giá thành kế hoạch
của công trình, hạng
mục công trình
=
Giá thành dự toán của
công trình, hạng mục
công trình
-
Mức hạ giá thành
dự toán
- Giá thành thực tế: Phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành bàn giao
khối lượng xây dựng mà doanh nghiệp đã nhận thầu. Giá thành thực tế bao gồm các
chi phí theo định mức, vượt định mức và không định mức như các khoản thiệt hại
trong sản xuất, các khoản bội chi, lãng phí về vật tư, lao động, tiền vốn trong quá
trình sản xuất và quản lý của doanh nghiệp được phép tính vào giá thành. Giá thành
cũng phát sinh ở nhiều địa điểm, liên quan đến công trình, hạng mục công trình và
khối lượng công việc xây dựng khác nhau.
Để xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phải căn cứ vào đặc điểm
tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp, đơn vị tính giá
thành áp dụng trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
có thể là từng tổ đội xây dựng, từng công trình, hạng mục công trình hoặc từng khối
lượng xây dựng có thiết kế riêng.
1.5.2 Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây dựng:
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc do doanh nghiệp sản
xuất ra và cần phải tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Khác với tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành là việc xác định được giá
thực tế từng loại sản phẩm đã được hoàn thành. Xác định đối tượng tính giá thành là
công việc đầu tiên trong toàn bộ công tác tính giá thành sản phẩm. Bộ phận kế toán
giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp, các loại sản phẩm
mà doanh nghiệp sản xuất, tính chất sản xuất để xác định đối tượng tính giá thành
cho thích hợp.
Trong doanh nghiệp xây dựng, đối tượng tính giá thành thường trùng với đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất, đó có thể là: công trình, hạng mục công trình hay
khối lượng xây dựng hoàn thành bàn giao.
1.5.3 Kỳ tính giá thành trong xây dựng:
Trong doanh nghiệp, đồng thời với việc xác định đối tượng tính giá thành, kế
toán phải xác định kỳ tính giá thành. Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán
giá thành cần phải tiến hành công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá
thành. Việc xác định kỳ tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất,
chu kỳ sản xuất sản phẩm để xác định. Trong các doanh nghiệp xây dựng kỳ tính
giá thành được xác định như sau:
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 11
- Nếu đối tượng tính giá thành là công trình, hạng mục công trình hoàn thành
hoặc theo đơn đặt hàng thì thời điểm tính giá thành là khi công trình, hạng mục
chi phí về nguyên vật liệu chính, vật kết cấu, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu
phụ, vật liệu khác sử dụng để cấu tạo công trình hoặc giúp cấu tạo công trình. Chi
phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp thường được xây dựng định mức chi phí hoặc dự
toán chi phí và tổ chức quản lý chúng theo định mức hoặc dự toán.
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 12
Việc sử dụng nguyên liệu, vật liệu trực tiếp để sản xuất sản phẩm, hạng mục
công trình nào phải tính trực tiếp cho sản phẩm, hạng mục công trình đó trên cơ sở
chứng từ gốc theo giá thực tế của vật liệu và theo số lượng vật liệu thực tế đã sử
dụng.
Trong trường hợp vật liệu sử dụng có liên quan đến nhiều đối tượng không thể tập
hợp trực tiếp cho từng đối tượng được thì phải áp dụng phương pháp phân bổ theo khối
lượng hoặc số lượng. Việc lựa chọn tiêu chuẩn để tiến hành phân bổ chi phí vật liệu
cho các đối tượng có liên quan theo công thức sau:
Trước hết tính hệ số phân bổ:
T
C
H =
Trong đó: H là hệ số phân bổ
C là tổng chi phí vật liệu đã tập hợp cần phân bổ
T là tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ
Tiếp theo tính phân bổ chi phí vật liệu cho từng đối tượng có liên quan:
C
n
= T
n
x H
Trong đó: C
n
là chi phí vật liệu phân bổ cho đối tượng n
Để tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng tài khoản 621
“Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp”. Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí
nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, thực hiện
dịch vụ của ngành xây dựng.
* Nguyên tắc hạch toán TK 621 – Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 13
- Chỉ hạch toán vào TK 621 những chi phí nguyên liệu, vật liệu được sử dụng
trực tiếp để sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ trong kỳ sản xuất, kinh doanh. Chi
phí nguyên liệu, vật liệu phải tính theo giá thực tế khi xuất sử dụng.
- Trong kỳ kế toán thực hiện việc ghi chép, tập hợp chi phí nguyên liệu, vật
liệu trực tiếp vào bên Nợ TK 621 “Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp” theo từng
đối tượng sử dụng trực tiếp các nguyên liệu, vật liệu này (nếu khi xuất nguyên liệu,
vật liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ, xác định được cụ thể, rõ
ràng cho từng đối tượng sử dụng) hoặc tập hợp chung cho quá trình sản xuất, chế
tạo sản phẩm, thực hiện dịch vụ (nếu khi xuất sử dụng nguyên liệu, vật liệu cho quá
trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ không thể xác định cụ thể, rõ ràng cho từng đối
tượng sử dụng).
- Cuối kỳ kế toán, thực hiện kết chuyển (nếu nguyên liệu, vật liệu đã được tập
hợp riêng biệt cho từng đối tượng sử dụng) hoặc tiến hành tính phân bổ và kết
chuyển chi phí nguyên liệu, vật liệu (nếu không tập hợp riêng biệt cho từng đối
tượng sử dụng) vào TK 154 phục vụ cho việc tính giá thành thực tế của sản phẩm,
dịch vụ trong kỳ kế toán.
- Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, nếu mua
nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối
tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, hoặc nếu mua nguyên liệu, vật
liệu không qua nhập kho đưa vào sử dụng ngay cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thì
trị giá nguyên liệu, vật liệu sẽ không bao gồm thuế GTGT.
Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, nếu
mua nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
công, các khoản phụ cấp.
Chi phí nhân công trực tiếp thường được tính trực tiếp vào từng đối tượng chịu
chi phí có liên quan. Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất nhưng có liên
quan đến nhiều đối tượng mà không hạch toán trực tiếp được thì tập hợp, phân bổ
cho các đối tượng chịu chi phí có liên quan theo các tiêu chuẩn thích hợp như: chi
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 15
TK 152 TK 621 TK 154
Xkho NLVL đưa vào sản xuất
Kết chuyển chi phí NVL trực
tiếp được tính vào giá thành
TK 111,112,331
Mua NL,VL đưa thẳng vào sản xuất
TK 133
TK 632
TK 153 TK 142, 242
XK đà giáo
cốp pha
P.bổ giá trị
vào c.trình
Kết chuyển chi phí NVL trực
tiếp vượt trên mức bình thường
phí tiền công định mức (hoặc kế hoạch) giờ công định mức hoặc giờ công thực tế
tuỳ theo từng công việc cụ thể.
a. Chứng từ kế toán:
Các chứng từ kế toán thường sử dụng để tập hợp chi phí nhân công trực tiếp là:
Bảng chấm công, bảng thanh toán lương, phiếu báo làm thêm giờ, hợp đồng giao
khoán.
b. Tài khoản sử dụng:
Để tập hợp chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 622 - Chi
của công nhân SX
Trích trước tiền lương
nghỉ phép của CNSX
K/c CP nhân công TT
được tính vào giá thành
Tiền lương và các khoản phải trả công
nhân trực tiếp sản xuất
TK 632
K/c CP nhân công TT
vượt trên mức b.thường
2.2.3 Kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công:
Máy thi công trong doanh nghiệp xây dựng là các loại máy phục vụ trực tiếp
cho sản xuất xây lắp như: máy trộn bêtông, trộn vữa, cần trục.
Trong công tác hạch toán chi phí sử dụng máy thi công, doanh nghiệp phải
xuất phát từ đặc điểm riêng biệt về tình hình sử dụng máy trong thi công, về nội
dung chi phí và các hình thức tổ chức sử dụng máy của đơn vị để tổ chức hạch toán
cho phù hợp với thực tế phát sinh.
Các hình thức sử dụng máy thi công. Trong các doanh nghiệp xây dựng
thường có các hình thức tổ chức sử dụng máy thi công sau:
- Đơn vị thi công có máy và tự tổ chức thi công bằng máy.
Trong trường hợp này, máy thi công thuộc tài sản của doanh nghiệp, doanh
nghiệp có thể tổ chức đội, tổ thi công cơ giới chuyên trách thi công khối lượng xây
dựng bằng máy trực thuộc doanh nghiệp, công trường hoặc đội xây dựng. Hạch
toán chi phí sử dụng máy thi công trong trường hợp này phải phản ánh toàn bộ chi
phí trực tiếp trong quá trình sử dụng máy thi công. Hoạt động của đội thi công cơ
giới chuyên trách có thể là đơn vị hạch toán nội bộ.
- Đơn vị thi công đi thuê máy.
Trong trường hợp này máy không thuộc tài sản của doanh nghịêp, có thể xảy
ra các trường hợp sau:
+ Chỉ thuê máy thi công, không kèm công nhân điều khiển và phục vụ máy. Đơn
dụng máy thi công vượt trên mức bình thường không tính vào giá thành công trình
xây lắp mà được kết chuyển ngay vào TK 632
* Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 623 – Chi phí sử dụng máy thi công
Bên Nợ:
Các chi phí liên quan đến hoạt động của máy thi công (chi phí vật liệu cho máy
hoạt động, chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp tiền lương, tiền công của công nhân
trực tiếp điều khiển máy, chi phí bảo dưỡng, sửa chữa xe, máy thi công ). Chi phí vật
liệu, chi phí dịch vụ khác phục vụ cho xe, máy thi công.
Bên Có:
- Kết chuyển chi phí sử dụng xe, máy thi công vào bên Nợ TK 154 “Chi phí
sản xuất, kinh doanh dở dang”.
- Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vượt trên mức bình thường vàoTK
632.
Tài khoản 623 không có số dư cuối kỳ.
Tài khoản 623 – Chi phí sử dụng máy thi công có 6 tài khoản cấp 2:
- TK 6231 - Chi phí nhân công: Dùng để phản ánh lương chính, lương phụ,
phụ cấp lương phải trả cho công nhân trực tiếp điều khiển xe, máy thi công, phục vụ
máy thi công như: Vận chuyển, cung cấp nhiên liệu, vật liệu cho xe, máy thi công.
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 18
Tài khoản này không phản ánh khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ theo
quy định hiện hành được tính trên lương của công nhân sử dụng xe, máy thi công. Các
khoản trích này được phản ánh vào TK 627 “Chi phí sản xuất chung”.
- TK 6232 - Chi phí vật liệu: Dùng để phản ánh chi phí nhiên liệu (xăng, dầu,
mỡ), vật liệu khác phục vụ xe, máy thi công.
- TK 6233 - Chi phí dụng cụ sản xuất: Dùng để phản ánh công cụ, dụng cụ lao
động liên quan tới hoạt động của xe, máy thi công.
- TK 6234 - Chi phí khấu hao máy thi công: Dùng để phản ánh chi phí khấu
hao xe, máy thi công sử dụng vào hoạt động xây lắp công trình.
- TK 6237 - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Dùng để phản ánh chi phí dịch vụ mua
xuất chung”. Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí phục vụ sản xuất, kinh doanh
chung phát sinh ở tổ, đội, công trường phục vụ sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch
vụ gồm: Lương nhân viên quản lý bộ phận, đội, khoản trích BHXH, BHYT, BHTN,
KPCĐ được tính theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả của công nhân trực tiếp
xây lắp, công nhân điều khiển máy, nhân viên quản lý tổ, đội thi công, khấu hao
TSCĐ dùng cho bộ phận sản xuất, chi phí đi vay nếu được vốn hoá tính vào giá trị
tài sản đang trong quá trình sản xuất dở dang, chi phí sửa chữa và bảo hành công
trình xây lắp và những chi phí khác liên quan tới hoạt động của bộ phận, tổ, đội thi
công.
* Nguyên tắc hạch toán TK 627 – Chi phí sản xuất chung
- Tài khoản 627 được hạch toán chi tiết cho từng tổ, đội thi công.
- Chi phí sản xuất chung phản ánh trên tài khoản 627 phải được hạch toán chi
tiết theo 2 loại: Chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi,
trong đó:
+ Chí phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường
không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất như: chi phí bảo dưỡng máy móc
thiết bị và chi phí quản lý hành chính ở các tổ, đội thi công. Chi phí này phân bổ vào
chi phí sản xuất cho mỗi công trình, hạng mục công trình dựa trên công suất bình
thường của máy móc sản xuất. Trường hợp mức công suất thực tế cao hơn công suất
bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ cho mỗi công trình, hạng
mục công trình theo chí phí thực tế phát sinh. Trường hợp mức công suất thực tế thấp
hơn công suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ theo
mức công suất bình thường. Khoản chi phí sản xuất chung không phân bổ được ghi
nhận vào giá vốn hàng bán trong kỳ.
+ Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường
thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi
phí nguyên liệu, vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp. Chi phí sản xuất
chung biến đổi được phân bổ hết vào chi phí sản xuất cho mỗi đơn vị sản phẩm theo
chi phí thực tế phát sinh.
- Cuối kỳ, kế toán tiến hành tính toán, phân bổ kết chuyển chi phí sản xuất
ngoài phục vụ cho hoạt động của tổ đội thi công như: Chi phí sửa chữa, chi phí thuê
ngoài, chi phí điện, nước, điện thoại, tiền thuê TSCĐ, chi phí phải trả cho nhà thầu
phụ.
- TK 6278 - Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh các chi phí bằng tiền ngoài các chi phí
đã kể trên phục vụ cho hoạt động của bộ phận, tổ, đội thi công.
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 21
c. Trình tự hạch toán
Bảng 1.4: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 22
TK 153
TK 111,112,331
Chi phí điện, nước, điện thoại
và sửa chữa TSCĐ thuê ngoài
TK 133
TK 142, 242, 335
Trích trước hoặc phân bổ CP
sửa chữa TSCĐ thuộc PX
TK 334,338 TK 627 TK 154
Lương n.viên qlý đội, trích BHXH,
KPC§
K/c CP sản xuất chung cố định
®Þnh
không phân bổ
BHYT, BHTN, KPCĐ của c. nhân xây
dựng, n.viên SD máy và NVQL đội
XD
TK 632
TK 152
- Số vốn kinh doanh đã giao cho đơn vị cấp dưới (bao gồm vốn cấp trực tiếp và
cấp bằng các phương thức khác);
- Các khoản đã chi hộ, trả hộ đơn vị cấp trên, cấp dưới.
- Số tiền đơn vị cấp trên phải thu về, các khoản đơn vị cấp dưới phải nộp.
- Số tiền đơn vị cấp dưới phải thu về, các khoản cấp trên phải giao xuống
- Số tiền phải thu về bán sản phẩm, hàng hoá dịch vụ cho đơn vị cấp trên, cấp
dưới, giữa các đơn vị nội bộ.
Bên Có:
- Thu hồi vốn, quỹ ở đơn vị thành viên.
- Quyết toán với đơn vị thành viên về kinh phí sự nghiệp đã cấp, sử dụng.
- Số tiền đã thu về các khoản phải thu trong nội bộ.
- Bù trừ phải thu với phải trả trong nội bộ của cùng một đối tượng.
Số dư bên Nợ:
Số Nợ còn phải thu ở các đơn vị nội bộ.
TK 136 - Phải thu nội bộ có hai tài khoản cấp hai:
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 23
- TK 1361- Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc: Tài khoản này chỉ mở ở đơn
vị cấp trên để phản ánh số vốn kinh doanh hiện có ở các đơn vị trực thuộc do đơn vị
cấp trên giao trực tiếp hoặc hình thành bằng các phương thức khác.
- TK 1368 - Phải thu nội bộ khác: Tài khoản này phản ánh tất cả các khoản
phải thu khác giữa các đơn vị nội bộ.
- Kế toán khoán khoản mục chi phí:
Theo phương thức này đơn vị giao khoán chỉ khoán các khoản mục chi phí
nhất định (thường là tiền công) còn các khoản mục chi phí khác do đơn vị tự chi phí,
hạch toán và chịu trách nhiệm giám sát kỹ thuật, chất lượng công trình.
Để phản ánh tình hình giao tạm ứng vật tư, tiền vốn cho các đơn vị nhận khoán
để thực hiện khối lượng giao khoán xây lắp, kế toán sử dụng tài khoản 141 “ Tạm
ứng”
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 141“ Tạm ứng”
sản phẩm
dở dang
cuối kỳ
=
Chi phí của sản
phẩm dở dang
đầu kỳ
+
Chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ
x
Giá dự toán
của giai
đoạn xây
lắp dở dang
cuối kỳ
Giá dự toán của
các giai đoạn xây
lắp hoàn thành
+
Giá dự toán của
giai đoạn xây lắp
dở dang cuối kỳ
2.5 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Phương pháp tính giá thành là phương pháp hoặc hệ thống các phương pháp
được sử dụng để tính toán xác định giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm, công
việc hoàn thành.
Để phù hợp với phương pháp tập hợp chi phí, doanh nghiệp phải lựa chọn các
phương pháp tính giá thành phù hợp. Những phương pháp tính giá thành thường
được sử dụng trong xây dựng cơ bản là:
Trang 25