LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sẵn sàng hợp tác kinh
doanh bình đẳng, hữu nghị cùng có lợi với các quốc gia trên thế giới, các doanh
nghiệp Việt Nam ngày càng nâng cao được vị thế, uy tín của mình trên trường quốc
tế. Một trong những nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của đất
nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá là cơ sở vật chất kỹ thuật. Với
chức năng, nhiệm vụ tạo ra cơ sở hạ tầng và tài sản cố định cho các ngành kinh tế
cũng như cho toàn xã hội, ngành xây dựng đã và đang khẳng định được vị trí hàng
đầu trong nền kinh tế quốc dân. Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, các doanh nghiệp
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và
công tác kế toán, tài chính nói chung, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm nói riêng giữ vai trò trung tâm giúp các doanh nghiệp nhanh chóng
đạt được mục tiêu của mình.
Qua thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại Học Duy Tân chi nhánh
Vũng tàu với chuyên ngành là Kế toán Doanh nghiệp em đã có những kiến thức cơ
bản về chuyên ngành của mình. Thêm vào đó là thời gian em làm việc tại công ty, em
được tiếp cận với thực tế công tác kế toán tại đơn vị, em nhận thấy được tầm quan
trọng của công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, được sự giúp
đỡ tận tình của cô giáo Lê Ngọc Đoan Trang giảng viên Trường Đại học Duy Tân
Khoa Kế Toán – Tài Chính và các cán bộ trong phòng Kế toán của công ty. Do đó em
quyết định lựa chọn đề tài: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư xây dựng Đông Phương làm
đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu về mặt lý luận kế toán chi phí sản xuất và các phương pháp tính giá
thành sản phẩm là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh
doanh, chi phí sản xuất là cơ sở để tạo nên giá thành sản phẩm vì vậy tính đúng, tính
đủ chi phí là một trong những điều kiện cơ bản để doanh nghiệp xác định đúng đắn
kết quả sản xuất kinh doanh. Tài liệu về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là căn
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
I. Những vấn đề chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm:
1.1 Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
1.1.1. Khái niệm và bản chất chi phí sản xuất.
Quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn và đầu tư xây
dựng là quá trình biến đổi một cách có ý thức, có mục đích các yếu tố đầu vào để xây
dựng một tài sản đơn lẻ, như: Xây dựng công trình dân dụng, công trình công nghiệp,
công trình đường giao thông, kinh doanh nhà, vật kiến trúc....
Mọi hao phí cuối cùng đều được thể hiện bằng thước đo tiền tệ gọi là chi phí
sản xuất kinh doanh. Trong lĩnh vực xây dựng, việc xây dựng một tài sản hoặc tổ hợp
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 2
các tài sản có liên quan chặt chẽ hay phụ thuộc lẫn nhau về các mặt được thể hiện
bằng hợp đồng xây dựng. Chi phí để xây dựng tài sản là chi phí của hợp đồng xây
dựng, bao gồm: Chi phí liên quan trực tiếp đến từng hợp đồng như chi phí nhân công
tại công trường, chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, khấu hao máy móc thiết bị, chi phí
chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng và có thể phân bổ cho từng hợp
đồng cụ thể như chi phí bảo hiểm, chi phí quản lý chung; các chi phí khác có thể thu
lại từ khách hàng theo các điều khoản của hợp đồng như: chi phí giải phóng mặt
bằng, chi phí triển khai.
Như vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động sống,
lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành
hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định.
1.1.2 Khái niệm và bản chất giá thành sản phẩm:
Trong quá trình sản xuất ở Công ty TNHH và đầu tư xây dựng phải bỏ ra các
khoản chi phí sản xuất, mặt khác kết quả sản xuất doanh nghiệp thu được là những
sản phẩm, công việc xây lắp nhất định đã hoàn thành. Nhữg sản phẩm, công việc xây
sản xuất là biểu hiện bằng tiền tổng hợp những hao phí về lao động sống và lao động
vật hoá trong một kỳ nhất định. Còn giá thành sản phẩm lại là tổng hợp các hao phí
đó gắn liền với một khối lượng sản phẩm (sản phẩm xây dựng), khối lượng dịch vụ
được hoàn thành bàn giao. Chi phí sản xuất không những chỉ liên quan đến khối
lượng sản phẩm đã hoàn thành, mà còn liên quan đến sản phẩm dở dang cuối kỳ và
sản phẩm hỏng. Chi phí sản xuất gắn với từng thời kỳ phát sinh. Giá thành sản phẩm
gắn với khối lượng sản phẩm xây dựng hoàn thành.
1.3 Phân loại chi phí sản xuất:
Việc phân loại chi phí sản xuất một cách khoa học và hợp lý có ý nghĩa rất quan
trọng khi hạch toán. Mặt khác, nó là tiền đề của việc kiểm tra, phân tích chi phí, thúc
đẩy việc quản lý chặt chẽ chi phí để hướng tới tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản
phẩm.
Tuỳ theo yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán mà mỗi doanh nghiệp tiến
hành phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khác nhau:
1.3.1 Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế
Theo tính chất kinh tế, các chi phí sản xuất được phân loại theo các yếu tố chi
phí. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí là sắp xếp những chi phí có chung
tính chất kinh tế vào một yếu tố, không kể chi phí đó phát sinh ở đâu, dùng vào mục
đích gì trong sản xuất sản phẩm.
Theo cách phân loại này thì toàn bộ các chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây
dựng được chia ra 7 yếu tố chi phí sau:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại
nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị
xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.
- Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực: Bao gồm toàn bộ các chi phí về nhiên
liệu, động lực mà doanh nghiệp đã sử dụng cho hoạt động sản xuất trong kỳ.
- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp: Gồm toàn bộ số tiền công
phải trả cho công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí
công đoàn: Bao gồm toàn bộ số tiền trích bảo xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
thành sản phẩm xây lắp, bao gồm 6 khoản mục:
+ Chi phí nhân công: là các chi phí tiền lương chính, lương phụ, phụ cấp
lương phải trả cho công nhân trực tiếp điều khiển xe, máy thi công, phục vụ máy thi
công như vận chuyển, cung cấp nhiên liệu, vật liệu…cho xe, máy thi công.
+ Chi phí vật liệu: là chi phí vật liệu để chạy máy, sửa chữa máy thi công..
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: là chi phí dụng cụ, công cụ dùng cho nhu cầu sử
dụng máy thi công.
+ Chi phí khấu hao máy thi công: là toàn bộ số tiền trích khấu hao cơ bản của
xe, máy thi công sử dụng vào hoạt động xây lắp công trình.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ chi phí về lao vụ, dịch vụ mua từ bên
ngoài để sử dụng máy thi công như: chi phí về điện, nước, hơi, khí nén, chi phí sửa
chữa máy thi công thuê ngoài…
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 5
+ Chi phí bằng tiền khác: là những chi phí bằng tiền ngoài những chi phí nêu
trên phục vụ máy thi công.
- Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất
chung ở các đội xây dựng ngoài 3 khoản mục đã nêu trên, bao gồm 5 khoản:
+ Chi phí nhân viên đội sản xuất: Bao gồm các chi phí phải trả cho nhân viên
đội xây dựng như: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp của nhân viên quản lý đội
xây dựng, trích BHXH, BHYT, BHTN và KPCĐ của công nhân trực tiếp xây lắp,
công nhân sử dụng máy và nhân viên quản lý, nhân viên kế toán, công nhân vận
chuyển, sửa chữa ở đội xây dựng.
+ Chi phí vật liệu: Bao gồm các chi phí vật liệu sử dụng chung như vật liệu
dùng để sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định, vật liệu văn phòng và những vật liệu
dùng cho nhu cầu quản lý chung ở đội xây dựng.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Là chi phí về dụng cụ, công cụ dùng cho nhu cầu
sản xuất chung ở đội xây dựng như: khuôn mẫu, dụng cụ gá lắp, dụng cụ cầm tay,
dụng cụ bảo hộ lao động, ván khuôn, dàn giáo.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao của
sản xuất ra trong kỳ như chi phí khấu hao TSCĐ tính theo phương pháp đường thẳng,
chi phí bảo dưỡng máy móc, thiết bị.
- Chi phí khả biến (còn gọi là biến phí) là các chi phí mà tổng số thay đổi với sự
thay đổi của mức độ hoạt động, khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ như chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí hỗn hợp là chi phí mà bản thân nó gồm các yếu tố của định phí và biến
phí như chi phí của nhân viên quản lý tổ đội thi công, chi phí nguyên vật liệu gián
tiếp, chi phí nhân công gián tiếp...
Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng trong công
tác quản lý doanh nghiệp, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra quyết định
quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh.
Ngoài các cách phân loại chi phí sản xuất trên, tuỳ thuộc vào yêu cầu công tác
quản lý chi phí sản xuất xây lắp có thể phân loại theo tiêu thức khác.
Ví dụ theo Chuẩn mực kế toán số 15 “Hợp đồng xây dựng”, chi phí trong doanh
nghiệp xây lắp bao gồm chi phí liên quan đến hợp đồng xây dựng trong suốt giai
đoạn kể từ khi ký hợp đồng cho đến khi kết thúc hợp đồng bao gồm:
- Chi phí liên quan trực tiếp đến từng hợp đồng như chi phí nhân công tại công
trường, chi phí nguyên liệu, vật liệu, khấu hao máy móc thiết bị.
- Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng xây dựng và có thể
phân bổ cho từng hợp đồng như chi phí bảo hiểm, chi phí thiết kế và trợ giúp kỹ thuật
không liên quan trực tiếp đến một hợp đồng cụ thể.
- Các chi phí khác có thể thu lại từ khách hàng theo các điều khoản của hợp
đồng như chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí triển khai.
1.4 Phân loại giá thành sản phẩm:
1.4.1 Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính toán
- Giá thành dự toán: là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối
lượng xây dựng công trình, hạng mục công trình. Giá thành dự toán được xác định
trên cơ sở các định mức kinh tế, kỹ thuật và đơn giá của Nhà nước. Giá thành dự toán
là chênh lệch giữa giá trị dự toán và phần lãi định mức.
Giá trị dự toán của công
chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng
máy và chi phí sản xuất chung tính cho công trình, hạng mục công trình hoặc lao vụ
đã hoàn thành. Giá thành sản xuất của sản phẩm xây dựng được sử dụng ghi sổ cho
sản phẩm đã hoàn thành và cũng là căn cứ để tính toán giá vốn hàng bán và lợi nhuận
gộp ở các doanh nghiệp xây dựng.
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm xây dựng: Bao gồm giá thành sản xuất của
sản phẩm xây dựng cộng thêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính
cho sản phẩm đó. Giá thành toàn bộ của sản phẩm xây dựng chỉ được tính toán xác
định khi sản phẩm xây dựng hoặc lao vụ được tiêu thụ. Giá thành toàn bộ của sản
phẩm xây dựng là căn cứ để tính toán, xác định lợi nhuận trước thuế của doanh
nghiệp.
1.5 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm
xây dựng:
1.5.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung, doanh nghiệp xây dựng nói riêng,
kế toán chi phí sản xuất là khâu quan trọng trong công tác kế toán của doanh nghiệp.
Để phục vụ công tác kế toán chi phí sản xuất, công việc đầu tiên có tính chất định hướng
là xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà các chi phí
sản xuất phát sinh được tập hợp, nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát chi phí và
yêu cầu tính giá thành.
Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành ở nhiều địa điểm, nhiều tổ
đội xây dựng, ở từng địa điểm sản xuất lại có thể sản xuất xây lắp nhiều công trình,
hạng mục công trình khác nhau. Do đó chi phí sản xuất của doanh nghiệp cũng phát
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 8
sinh ở nhiều địa điểm, liên quan đến công trình, hạng mục công trình và khối lượng
công việc xây dựng khác nhau.
Để xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phải căn cứ vào đặc điểm
tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp, đơn vị tính giá thành
1.6 Phân biệt đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
Qua hai khái niệm về đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành, ta thấy giữa chúng có những điểm khác nhau: Đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất là căn cứ để mở các tài khoản, các sổ chi tiết, tổ chức ghi chép ban đầu, tập hợp
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 9
số liệu chi phí sản xuất chi tiết theo từng đối tượng. Còn việc xác định đối tượng tính
giá thành lại là căn cứ để kế toán lập các biểu chi tiết tính giá thành và tổ chức công
tác tính giá thành theo từng đối tượng.
Tuy nhiên, giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
lại có mối quan hệ mật thiết với nhau: Về bản chất, chúng là những phạm vi, giới hạn
để tập hợp chi phí. Số liệu về chi phí sản xuất đã được tập hợp trong kỳ là cơ sở và
căn cứ để tính giá thành.
Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành biểu
hiện theo một trong các trường hợp sau:
- Tương ứng với một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nhiều đối tượng tính
giá thành có liên quan.
- Tương ứng với nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất chỉ có một đối tượng
tính giá thành. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành tương
ứng phù hợp với nhau.
- Tuỳ vào mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành mà ta cần lựa chọn phương pháp tính giá thành thích hợp.
II/ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
2.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
2.1.1 Khái niệm:
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp trong doanh nghiệp xây dựng là những chi
phí về nguyên vật liệu chính, vật kết cấu, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ,
vật liệu khác sử dụng để cấu tạo công trình hoặc giúp cấu tạo công trình. Chi phí
nguyên liệu, vật liệu trực tiếp thường được xây dựng định mức chi phí hoặc dự toán
chi phí và tổ chức quản lý chúng theo định mức hoặc dự toán.
Cuối kỳ hạch toán và khi hoàn thành hạng mục công trình, kế toán phải kiểm kê
số vật liệu còn lại tại nơi sản xuất để ghi giảm trừ chi phí vật liệu đã tính cho từng đối
tượng hạch toán chi phí:
Chi phí thực tế
nguyên liệu, vật
liệu trực tiếp
trong kỳ
=
Trị giá nguyên
liệu, vật liệu
xuất đưa vào sử
dụng
-
Trị giá nguyên
liệu, vật liệu còn
lại cuối kỳ chưa
sử dụng
-
Trị giá phế
liệu thu hồi
a. Chứng từ kế toán:
Để tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp kế toán căn cứ vào các chứng
từ kế toán như: Phiếu xuất kho, hóa đơn GTGT, phiếu thu, phiếu chi, phiếu xuất kho
vật tư theo hạn mức, bảng phân bổ đà giáo, cốp pha.
VD: Phiếu thu MS 02-TT, Phiếu chi MS 02-TT, Phiếu xuất kho PX/12, Bảng kê
xuất vật tư BK/12, ......
b. Tài khoản sử dụng (621) :
Để tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng tài khoản 621
“Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp”. Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí
nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, thực hiện
khối lượng nguyên liệu, vật liệu mua vào sử dụng ngay không qua kho.
- Phần chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường không
được tính vào giá thành sản phẩm, dịch vụ mà phải kết chuyển ngay vào TK 632
“Giá vốn hàng bán”.
* Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 621 – Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
Bên Nợ:
Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt động sản xuất
sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ hạch toán.
Bên Có:
- Kết chuyển trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế sử dụng cho sản xuất, kinh
doanh trong kỳ vào TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” hoặc TK 631
“Giá thành sản xuất” và chi tiết cho các đối tượng để tính giá thành sản phẩm, dịch
vụ.
- Kết chuyển chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường
vào TK 632.
- Trị giá nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng không hết được nhập lại kho.
Tài khoản 621 không có số dư cuối kỳ.
c. Trình tự hạch toán:
Bảng 1.1: Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 12
TK 152 TK 621 TK 154
Xkho NLVL đưa vào sản xuất
Kết chuyển chi phí NVL trực
tiếp được tính vào giá thành
TK 111,112,331
Mua NL,VL đưa thẳng vào sản xuất
TK 133
TK 632
TK 153 TK 142, 242
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 13
(BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp ( BHTN), kinh phí công đoàn
(KPCĐ) tính trên quỹ lương phải trả công nhân trực tiếp của hoạt động xây dựng,
điều khiển máy thi công, phục vụ máy thi công, nhân viên quản lý tổ đội thi công.
- Tài khoản 622 phải mở chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, kinh
doanh. Phần chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường không được tính
vào giá thành sản phẩm, dịch vụ mà phải kết chuyển ngay vào TK 632 “Giá vốn hàng
bán”.
* Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp
Bên Nợ:
Chi phí nhân công trực tiếp tham gia quá trình sản xuất sản phẩm, thực hiện
dịch vụ bao gồm: tiền lương, tiền công lao động phát sinh trong kỳ.
Bên Có:
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên Nợ TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh
doanh dở dang” hoặc vào bên Nợ TK 631 “Giá thành sản xuất”;
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường vào TK 632.
Tài khoản 622 không có số dư cuối kỳ.
c. Trình tự hạch toán:
Bảng 1.2: Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
2.2.3 Kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công:
Máy thi công trong doanh nghiệp xây dựng là các loại máy phục vụ trực tiếp
cho sản xuất xây lắp như: máy trộn bêtông, trộn vữa, cần trục.
Trong công tác hạch toán chi phí sử dụng máy thi công, doanh nghiệp phải xuất
phát từ đặc điểm riêng biệt về tình hình sử dụng máy trong thi công, về nội dung chi
phí và các hình thức tổ chức sử dụng máy của đơn vị để tổ chức hạch toán cho phù
hợp với thực tế phát sinh.
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 14
TK 334
+ Trường hợp thuê máy theo khối lượng công việc: bên thuê máy chỉ phải trả
tiền cho bên cho thuê máy theo đơn giá quy định với khối lượng công việc máy đã
hoàn thành.
a. Chứng từ kế toán:
Để hạch toán và xác định chi phí sử dụng máy thi công chính xác, kịp thời cho
các đối tượng sử dụng chi phí, trước hết phải tổ chức tốt khâu hạch toán công việc
hàng ngày của máy trên “Phiếu theo dõi hoạt động của xe máy thi công”. Số liệu tổng
hợp từ các phiếu này phục vụ cho việc kiểm tra, phân tích chi phí cho máy và làm căn
cứ tính, xác định chi phí sử dụng máy thi công cho các đối tượng xây lắp có liên
quan. Và tuỳ thuộc các chi phí phát sinh thuộc loại chi phí nguyên vật liêu, chi phí
nhân công, chi phí dịch vụ mua ngoài mà sử dụng các chứng từ tương tự như trong kế
toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
b. Tài khoản sử dụng:
Để tập hợp chi phí sử dụng máy thi công, kế toán sử dụng tài khoản 623 “Chi phí
sử dụng máy thi công”. Tài khoản này dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe,
máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình theo phương thức thi
công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy.
* Nguyên tắc hạch toán TK 623 – Chi phí sử dụng máy thi công
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 15
- Trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn theo
phương thức bằng máy thì không sử dụng TK 623 “Chi phí sử dụng máy thi công” mà
hạch toán toàn bộ chi phí xây lắp trực tiếp vào các TK 621, 622, 627.
- Không hạch toán vào TK 623 khoản trích về BHXH, BHYT,BHTN, KPCĐ
tính trên tiền lương phải trả công nhân sử dụng xe, máy thi công. Phần chi phí sử
dụng máy thi công vượt trên mức bình thường không tính vào giá thành công trình
xây lắp mà được kết chuyển ngay vào TK 632
* Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 623 – Chi phí sử dụng máy thi công
Bên Nợ:
Các chi phí liên quan đến hoạt động của máy thi công (chi phí vật liệu cho máy
Bảng 1.3: Sơ đồ hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
(Trường hợp không tổ chức đội máy thi công riêng biệt, thi công hỗn hợp)
2.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung:
a. Chứng từ kế toán:
Tuỳ theo các chi phí phát sinh thuộc loại chi phí vật liệu, chi phí dịch vụ mua
ngoài, chi phí nhân công, khấu hao mà kế toán sử dụng các chứng từ khác nhau.
b. Tài khoản sử dụng:
Để tập hợp chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng tài khoản 627 “Chi phí sản
xuất chung”. Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí phục vụ sản xuất, kinh doanh
chung phát sinh ở tổ, đội, công trường phục vụ sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ
gồm: Lương nhân viên quản lý bộ phận, đội, khoản trích BHXH, BHYT, BHTN,
KPCĐ được tính theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả của công nhân trực tiếp
xây lắp, công nhân điều khiển máy, nhân viên quản lý tổ, đội thi công, khấu hao
TSCĐ dùng cho bộ phận sản xuất, chi phí đi vay nếu được vốn hoá tính vào giá trị tài
sản đang trong quá trình sản xuất dở dang, chi phí sửa chữa và bảo hành công trình
xây lắp và những chi phí khác liên quan tới hoạt động của bộ phận, tổ, đội thi công.
* Nguyên tắc hạch toán TK 627 – Chi phí sản xuất chung
- Tài khoản 627 được hạch toán chi tiết cho từng tổ, đội thi công.
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 17
TK 334 TK 623 TK 154
Tiền lương, t.công, các khoản
K/c CP sử dụng máy thi công
được tính vào giá thànhphải trả CN điều khiển phục
vụ xe, máy
TK 152,153
TK 214
TK111,112,331
Xuất kho VL, CC, dụng cụ
TK 632
Bên Có:
- Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung.
- Chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được ghi nhận vào giá vốn
hàng bán trong kỳ.
- Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào bên Nợ TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh
doanh dở dang” hoặc vào bên Nợ TK 631 “Giá thành sản xuất”.
Tài khoản 627 không có số dư cuối kỳ.
Tài khoản 627 - Chi phí sản xuất chung có 6 tài khoản cấp 2:
- TK 6271 - Chi phí nhân viên phân xưởng: Phản ánh các khoản tiền lương, các
khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên quản lý bộ phận sản xuất; tiền ăn giữa ca của
nhân viên quản lý bộ phận sản xuất; khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ được
tính theo tỷ lệ quy định hiện hành trên tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp xây
lắp, công nhân điều khiển máy thi công, nhân viên bộ phận, tổ, đội thi công.
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 18
- TK 6272 - Chi phí vật liệu: Phản ánh chi phí vật liệu xuất dùng cho tổ đội thi
công như vật liệu dùng để sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ, công cụ, dụng cụ thuộc tổ, đội
quản lý và sử dụng, chi phí lán trại tạm thời.
- TK 6273 - Chi phí dụng cụ sản xuất: Phản ánh chi phí về công cụ, dụng cụ xuất
dùng cho hoạt động quản lý của bộ phận, tổ, đội thi công.
- TK 6274 - Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ dùng
trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ và TSCĐ dùng chung
cho hoạt động của bộ phận, tổ, đội thi công.
- TK 6277 - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho hoạt động của tổ đội thi công như: Chi phí sửa chữa, chi phí thuê ngoài,
chi phí điện, nước, điện thoại, tiền thuê TSCĐ, chi phí phải trả cho nhà thầu phụ.
- TK 6278 - Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh các chi phí bằng tiền ngoài các chi phí đã
kể trên phục vụ cho hoạt động của bộ phận, tổ, đội thi công.
c. Trình tự hạch toán
Bảng 1.4: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung
Khấu hao TSCĐ thuộc
đội sản xuất
K/c CP sản xuất chung
được tính vào giá thành
2.3.1 Kế toán chi phí sản xuất xây dựng trong điều kiện khoán sản phẩm:
Trong doanh nghiệp xây dựng, việc khoán sản phẩm cho các tổ đội thi công
được tiến hành theo hai phương thức đó là khoán gọn và khoán theo khoản mục chi
phí.
- Kế toán khoán gọn công trình, hạng mục công trình:
Theo phương thức này đơn vị giao khoán toàn bộ giá trị công trình, hạng mục
công trình cho đơn vị nhận khoán để đơn vị nhận khoán tự tổ chức cung ứng vật tư, tổ
chức lao động tiến hành thi công. Khi công trình hoàn thành bàn giao quyết toán sẽ
được thanh toán theo giá nhận khoán toàn bộ giá trị công trình và nộp cho đơn vị giao
khoán một số khoản theo quy định. Đơn vị giao khoán chỉ là người có tư cách pháp
nhân đứng ra ký kết các hợp đồng xây dựng và chịu trách nhiệm pháp lý đối với chất
lượng công trình và thời gian thi công.
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 20
Kế toán sử dụng TK 136 - “Phải thu nội bộ” để phản ánh mối quan hệ với đơn vị
nhận khoán và TK 642 để tập hợp chi phí thuộc nội dung chi phí quản lý doanh
nghiệp.
* Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 136 “Phải thu nội bộ”.
Bên Nợ:
- Số vốn kinh doanh đã giao cho đơn vị cấp dưới (bao gồm vốn cấp trực tiếp và
cấp bằng các phương thức khác);
- Các khoản đã chi hộ, trả hộ đơn vị cấp trên, cấp dưới.
- Số tiền đơn vị cấp trên phải thu về, các khoản đơn vị cấp dưới phải nộp.
- Số tiền đơn vị cấp dưới phải thu về, các khoản cấp trên phải giao xuống
- Số tiền phải thu về bán sản phẩm, hàng hoá dịch vụ cho đơn vị cấp trên, cấp
dưới, giữa các đơn vị nội bộ.
Số tạm ứng chưa thanh toán.
2.4 Phương pháp đánh giá sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ:
Sản phẩm xây lắp dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc còn đang trong
quá trình sản xuất xây lắp chưa đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý đã quy định hoặc đã
hoàn thành nhưng chưa đạt tiêu chuẩn quy định để bàn giao.
Sản phẩm dở dang trong sản xuất xây lắp được xác định bằng phương pháp
kiểm kê hàng tháng. Việc tính và đánh giá sản phẩm dở dang trong xây lắp phụ thuộc
vào phương thức thanh toán khối lượng công tác xây lắp hoàn thành giữa người nhận
thầu và người giao thầu.
Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây dựng sau khi hoàn thành toàn bộ thì sản
phẩm dở dang là tổng số chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến thời điểm đánh giá.
Khi công trình hoặc hạng mục công trình hoàn thành được bàn giao thanh toán thì
toàn bộ chi phí sản xuất đã phát sinh sẽ được tính vào giá thành của thành phẩm.
Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây dựng hoàn thành theo điểm dừng kỹ
thuật hợp lý (xác định được giá dự toán) thì sản phẩm dở dang là các khối lượng xây
lắp chưa đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý đã quy định và được đánh giá theo chi phí
thực tế trên cơ sở phân bổ chi phí thực tế của hạng mục công trình đó cho các giai
đoạn, tổ hợp công việc đã hoàn thành và giai đoạn còn dở dang theo giá dự toán của
chúng.
Công thức tính như sau:
Chi phí của
sản phẩm
dở dang
cuối kỳ
=
Chi phí của sản
phẩm dở dang
đầu kỳ
+
Chi phí sản xuất
Công thức tính:
Z = C
Trong đó:
Z: là tổng giá thành sản phẩm xây dựng
C: là tổng chi phí sản xuất đã tập hợp theo đối tượng
Nếu đầu kỳ và cuối kỳ có sản phẩm dở dang thì công thức tính như sau:
Z = C + D
dk
– D
ck
Trong đó:
D
dk
: là giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
D
ck
: là giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
2.5.2 Phương pháp tổng cộng chi phí:
Phương pháp này áp dụng đối với trường hợp đối tượng hạch toán chi phí sản
xuất là các giai đoạn công việc còn đối tượng tính giá thành là ngôi nhà, vật kiến trúc,
hạng mục công trình hoàn thành. Giá thành của sản phẩm hoàn thành được xác định
bằng cách cộng tổng số chi phí sản xuất của các giai đoạn công việc.
Công thức tính:
Z = D
dk
+ C
1
+ C
2
+ …+ C
do thay đổi
± Chênh lệch
do thoát ly
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 23
sản phẩm xây
dựng
phẩm xây dựng định mức định mức
2.5.4 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp nhận thầu xây dựng
theo đơn đặt hàng. Khi đó, đối tượng tập hợp chi phí là từng đơn đặt hàng, đối tượng
tính giá thành là đơn đặt hàng đã hoàn thành. Kỳ tính giá thành không phù hợp với kỳ
báo cáo mà là khi đơn đặt hàng hoàn thành.
Theo phương pháp này, hàng tháng chi phí sản xuất thực tế phát sinh được tập
hợp theo từng đơn đặt hàng và khi nào hoàn thành công trình thì chi phí sản xuất tập
hợp được cũng chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó.
PHẦN II
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG ĐÔNG PHƯƠNG
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY:
Tên đầy đủ: Công Ty trách nhiệm hữu hạn và đầu tư xây dựng Đông
Phương.
Trụ sở chính: 91 Đường Lê Văn Lộc, Phường 6, TP Vũng Tàu,Tỉnh Bà
Rịa-Vũng Tàu
Điện Thoại: 064.3838549 Fax: 064.3838549
Email:
Giấy phép đăng ký kinh doanh: Số 3500126207 ngày 03 tháng 11 năm
2009
Mã số thuế: 3500126207
Tài khoản số: 5511100207004.
ra lợi nhuận hợp pháp, làm giàu chính đáng cho các thành viên, tạo thêm nhiều công
ăn việc làm cho người lao động, đóng góp nghĩa vụ vào ngân sách nhà nước, góp
phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Công ty TNHH đầu tư
xây dựng Đông Phương chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng với quy trình
sản xuất hỗn hợp vừa thi công bằng lao động thủ công vừa thi công bằng máy móc.
Quy trình sản xuất bắt đầu từ khi Công ty tham gia chào thầu hoặc được giao thầu
xây dựng. Khi tham gia đấu thầu, Công ty phải xây dựng các chiến lược đấu thầu để
thắng thầu.
Sau khi trúng thầu hoặc được giao thầu, theo quy chế chung của ngành xây
dựng và của Công ty, Công ty và bên giao thầu sẽ thỏa thuận các điều khoản trong
hợp đồng xây dựng về giá trị công trình, thời gian thi công, phương thức thanh toán,
số tiền tạm ứng, tỷ lệ bảo hành.
Sau khi hoàn thành việc thi công công trình, chủ đầu tư nghiệm thu, Công ty và
chủ đầu tư tiến hành quyết toán công trình. Công trình sau khi được kiểm toán mới có
đủ hiệu lực pháp lý ( riêng đối với các công trình vốn của tỉnh phải qua thẩm tra của
sở tài chính và được tỉnh phê duyệt).
SV thực tập: Lê Thị Hiền - MSSV: 8803
Trang 25