BÀI GIẢNG NGN Chương 6: Các vấn đề liên quan dòch vụ
- 134 -
CHƯƠNG 6:
CÁC VẤN ĐỀ LIÊN
QUAN ĐẾN DỊCH VỤ
WX
I. BẢO MẬT
1. Giới thiệu
Khả năng bảo mật của một mạng viễn thông là một trong những yếu tố
hàng đầu quyết đònh chất lượng cũng như tính khả dụng của mạng viễn
thông đó. Nhiều hướng dẫn khác nhau của liên minh Châu Âu EU đã được
đưa ra để bảo vệ dữ liệu và tính riêng tư của người sử dụng, trong đó bao
gồm cả bảo vệ thông tin trong mạng công cộng. Viện tiêu chuẩn Châu Âu
(ETSI) đã thành lập một ban cố vấn về vấn đề bảo mật, và ban này phục vụ
cho các nhà vận hành mạng công cộng. Trong tương lai, các yêu cầu về bảo
mật không chỉ đặt ra với các nhà vận hành mạng viễn thông mà còn cho
từng quốc gia riêng biệt. Đặc biệt, các vấn đề bảo mật trong mạng NGN là
một vấn đề quan trọng cần được chú ý.
Có nhiều thành phần yêu cầu về bảo mật ở mức độ cao trong mạng
NGN:
Khách hàng/ thuê bao cần phải có tính riêng tư trong mạng và các dòch
vụ được cung cấp, bao gồm cả việc tính cước. Thêm vào đó, họ yêu cầu
dòch vụ phải có tính sẵn sàng cao, cạnh tranh lành mạnh và bảo đảm sự
riêng tư của họ.
Các nhà vận hành mạng, các nhà cung cấp dòch vụ, các nhà cung cấp truy
nhập đều cần phải bảo mật để bảo vệ hoạt động , vận hành và kinh
doanh của họ, đồng thời có thể giúp họ phục vụ tốt khách hàng cũng như
cộng đồng.
Các quốc gia khác nhau yêu cầu và đòi hỏi tính bảo mật bằng cách đưa
ngoại trừ các nhà cung cấp thiết bò hay các tổ chức viễn thông. Tuy nhiên
tình hình hiện nay đã thay đổi. Các hệ thống mở vẫn còn các giao diện phức
tạp, nhưng như đã đònh nghóa, nó được trang bò và nhiều khách hàng tìm
hiểu. Để đảm bảo tính bảo mật của các hệ thống này, công nghệ phải trở
nên có chi phí thấp và dễ dàng đạt được. Ví dụ, nhiều giao thức xử lý cho
BÀI GIẢNG NGN Chương 6: Các vấn đề liên quan dòch vụ
- 136 -
các PC sẵn sàng miễn phí cho các phần mềm công cộng. Do đó, nhiệm vụ
chống hacker trở nên dễ dàng hơn.
Một số dòch vụ cũng yêu cầu tính bảo mật cao hơn. Các dòch vụ này
không giới hạn trong các khu vực xác đònh như trước đây, do đó nó chòu
nhiều nguy hiểm hơn. Do đó sự bảo mật tốt hơn là thực sự cần thiết do các lý
do kinh tế hay riêng tư. Ví dụ về các dòch vụ này là dòch vụ thoại chất lượng
cao, video hội nghò và các dòch vụ đa phương tiện khác. Các khách hàng này
chỉ đời truy nhập vào dữ liệu của họ, và tối thiểu có thể cung cấp thêm cho
họ chức năng truy nhập vào hệ thống quản lý.
2. Các yêu cầu bảo mật
Một nhà cung cấp mạng hay dòch vụ sẽ quyết đònh giới hạn thực hiện
bảo mật dựa vào kết quả của phân tích nguy cơ và đánh giá rủi ro. Sau đó
nhà cung cấp sẽ tạo ra một “chiến lược bảo mật”. Hình sau mô tả sự tương
tác của các khối liên quan đến bảo mật.
Hình 6-2 Mô hình bảo mật
Phân tích nguy cơ và đánh giá rủi ro trên nguyên tắc chỉ có thể thực
hiện trong một trường hợp cụ thể. Phạm vi bảo mật có thể tùy thuộc vào các
hoạt động khác nhau. Do đó thách thức đặt ra cho các nhà cung cấp thiết bò
là xác đònh một chính sách chung cho phần lớn các khách hàng và khách
nghe trộm hay giả dạng cũng có thể xảy ra. Truy nh6ạp trái phép cũng là
kết quả của các nguy cơ kể trên.
Sửa đổi thông tin: Trong trường hợp này, dữ liệu bò phá hỏng hay làm cho
không thể sử dụng được do thao tác của hacker. Một hậu quả của hành
động này là những khách hàng hợp pháp không truy xuất vào tài nguyên
mạng được. Trên nguyên tắc không thể ngăn cản khách hàng thao tác
trên dữ liệu hay phá hủy một cơ sở dữ liệu trong phạm vi truy nhập cho
phép của họ.
Từ chối khách hàng: Một hay nhiều khách hàng trong mạng có thể bò từ
chối tham gia vào một phần hay toàn bộ mạng với các khách hàng/ dòch
vụ/server khác. Phương pháp tấn công có thể là tác động lên đường
truyền, truy nhập dữ liệu hay sửa đổi dữ liệu. Trên quan điểm của nhà
vận hành mạng hay nhà cung cấp dòch vụ, dạng tấn công này gây hậu
quả là mất niềm tin, mất khách hàng và dẫn tới mất doanh thu.
BÀI GIẢNG NGN Chương 6: Các vấn đề liên quan dòch vụ
- 138 -
4. Các giải pháp tạm thời
Các biện pháp đối phó có thể chia thành hai loại sau: phòng chống và
dò tìm. Sau đây là các biện pháp tiêu biểu:
¾ Nhận thực
¾ Chữ ký số
¾ Điều khiển truy nhập
¾ Mạng riêng ảo
¾ Phát hiện xâm nhập
¾ Ghi nhất ký và kiểm toán
¾ Mã hóa
Trong mọi trường hợp cần lưu ý rằng các hệ thống vận hành trong các
thành phần NGN cần phải bảo vệ cấu hình như một biện pháp đối phó cơ
5. Kết luận
Một thách thức quan trọng đối với hệ thống mạng NGN trên nền IP là
thực hiện các bảo mật trong các dạng ứng dụng khác nhau. Từ khi bắt đầu,
cấu trúc NGN đã được phát triển với sự quan tâm đến các vấn đề bảo mật,
dựa vào các phân tích nguy cơ và chế độ IPSec từ IETF. Sự linh hoạt đảm
bảo tính bảo mật có thể đạt được yêu cầu của môi trường thực tế. Sử dụng
NGN trong mạng dựa trên nền PacketCable đã được kiểm đònh các giải pháp
bảo mật. Công việc còn lại là tiếp tục bảo vệ mạng chống lại các cuộc tấn
công trong tương lai từ các nguồn chưa biết trước.
II. QoS (Quality of Service)
1. Giới thiệu
Chất lượng dòch vụ QoS chính là yếu tố thúc đẩy MPLS. So sánh với
các yếu tố khác, như quản lý lưu lượng và hỗ trợ VPN thì QoS không phải là
lý do quan trọng nhất để triển khai MPLS. Như chúng ta sẽ thấy dưới đây,
hầu hết các công việc được thực hiện trong MPLS QoS tập trung vào việc hỗ
trợ các đặïc tính của IP QoS trong mạng. Nói cách khác, mục tiêu là thiết lập
điểm tương đồng giữa các đặc tính QoS của IP và MPLS, chứ không phải là
làm cho MPLS QoS có chất lượng cao hơn IP QoS.
Một lý do để khẳng đònh MPLS không giống như IP là MPLS không
phải là giao thức xuyên suốt. MPLS không vận hành trong các máy chủ, và
trong tương lai nhiều mạng IP không sử dụng nhưng MPLS vẫn tồn tại. QoS
BÀI GIẢNG NGN Chương 6: Các vấn đề liên quan dòch vụ
- 140 -
mặt khác là đặc tính thường trực của liên lạc giữa các LSR cùng cấp. Ví dụ
nếu một kênh kết nối trong tuyến xuyên suốt có độ trễ cao, tổn thất lớn,
băng thông thấp sẽ giới hạn QoS có thể cung cấp dọc theo tuyến đó. Một
cách nhìn nhận khác về vấn đề này là MPLS không thay đổi về căn bản mô
hình dòch vụ IP. Các nhà cung cấp dòch vụ không bản dòch vụ MPLS, họ cung