VẬN DỤNG CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ
TOÀN CẦU 2020 VÀO HOÀN CẢNH THỰC TIỄN - BÀI HỌC
KINH NGHIỆM TỪ TRUNG QUỐC
I. CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ TOÀN CẦU 2020
1.1. Các xu hướng công nghệ
Có một số xu hướng quan trọng liên quan tới công nghệ đang tạo ra ảnh hưởng lớn
đến toàn cầu. Những xu hướng đó chịu sự chi phối của các công nghệ đang nổi lên hiện
nay, bao gồm công nghệ sinh học (CNSH), công nghệ nano (CNNN), công nghệ vật liệu
(CNVL) và công nghệ thông tin (CNTT). Những ảnh hưởng này là khác nhau và bao hàm
các yếu tố xã hội, chính trị, kinh tế, môi trường v.v… Ở nhiều trường hợp, tầm quan
luận cho thấy rằng việc tăng tốc độ thay đổi công nghệ có thể làm rộng thêm hố ngăn
cách giữa giàu và nghèo, giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên, sự
tăng cường kết nối toàn cầu cũng có thể tạo phương tiện để nâng cao giáo dục và năng
lực công nghệ ở địa phương, giúp cho các vùng nghèo khó và kém phát triển cũng có thể
tham gia và được hưởng lợi ích của các tiến bộ công nghệ.
Những ảnh hưởng mang tính cách mạng này diễn ra làm phát sinh nhiều vấn đề.
Cần phải khẩn trương giải quyết tất cả những mối quan tâm và những quyết định khác
nhau liên quan tới đạo đức, kinh tế, luật pháp, môi trường, an ninh và nhiều vấn đề xã hội
khác, vì mọi ngưòi trên khắp thế giới sắp tới sẽ phải đón nhận những ảnh hưởng đem đến
của những xu hướng công nghệ đối với cuộc sống và nền văn hoá của mình. Những vấn
đề quan trọng nhất bao gồm tính bí mật, sự cách biệt kinh tế, những đe doạ đối với văn
hoá (kể cả những phản ứng), và đạo đức sinh học. Đặc biệt, những vấn đề như ưu sinh
học, nhân bản vô tính ở người và biến đổi gen đã dấy lên những phản ứng mạnh mẽ nhất
liên quan đến đạo đức. Hiểu được những vấn đề đó rất phức tạp vì chúng vừa là động lực
dẫn đến những hướng đi mới, vừa ảnh hưởng lẫn nhau theo những cấp bậc khác nhau.
Mọi công dân và các nhà ra quyết định đều phải trang bị những thông tin về công nghệ,
lắp ráp và phân tích những mối tương tác phức tạp để thực sự hiểu được cuộc tranh luận
đang diễn ra xoay quanh những công nghệ đó. Những bước đi như vậy sẽ giúp tránh được
việc đưa ra những quyết định ấu trĩ, phát huy được tối đa lợi ích của công nghệ và nhận
dạng được những điểm ngoặt, tại đó những quyết định có thể đem lại ảnh hưởng cần thiết
mà không bị phủ định bởi vấn đề chưa được phân tích.
Sự hứa hẹn của công nghệ hiện nay đã được minh chứng và sẽ còn tiếp tục khẳng
định. Nó sẽ có những ảnh hưởng rộng khắp trên toàn cầu. Nhưng những ảnh hưởng của
cuộc cách mạng công nghệ sẽ không đồng nhất và sẽ có tác dụng khác nhau tuỳ thuộc
vào sự tiếp nhận, mức độ đầu tư và nhiều quyết định khác nữa. Tuy nhiên sẽ không có gì
đảo lộn được xu thế này, vì một số nước sẽ hưởng ứng và do vậy, quá trình toàn cầu hoá
sẽ làm thay đổi hoàn cảnh của mỗi nước. Thế giới đang lao vào công cuộc biến đổi, khi
những tiến bộ phát huy tác dụng ở phạm vi toàn cầu.
Máy tính riêng lẻ
Máy tính kết mạng
Những máy nhỏ và mạng hỗ
trợ
Các xu hướng lớn
Đơn ngành
Các ngành song
hành/phân cấp
Đa ngành
Các hệ vĩ mô
Các hệ vi mô
Các hệ nano
Địa phương
Khu vực
Toàn cầu
1.3. Cuộc cách mạng công nghệ và các quốc gia
Trong những năm tới, tốc độ của những thay đổi có thể sẽ tăng nhanh nên những
phản ứng của các cộng đồng đối với công nghệ và ảnh hưởng của công nghệ đối với văn
hoá có thể sẽ gây ra nhiều va chạm hơn. Mặc dù có quy mô lớn, nhưng cuộc cách mạng
công nghệ này sẽ không diễn ra đồng đều trên toàn cầu. Có ứng dụng công nghệ, dù về
mặt kỹ thuật có khả năng thực hiện vào năm 2020, nhưng không phải quốc gia nào cũng
đều có thể có được nó và đưa vào sử dụng một cách rộng rãi trong cùng một khoảng thời
gian. Trình độ thích hợp về năng lực khoa học và công nghệ (KH&CN) là yêu cầu tiên
quyết đối với nhiều lĩnh vực ứng dụng công nghệ tinh xảo.
Ngoài ra, khả năng đạt được một ứng dụng công nghệ cũng không có nghĩa là khả
năng thực hiện được nó. Tiến hành nghiên cứu hay nhập khẩu bí quyết là một bước cần
thiết ban đầu. Nhưng việc thực hiện thành công ứng dụng công nghệ còn phụ thuộc vào
các động lực chi phối trong một đất nước có khả năng khuyến khích đổi mới công nghệ
và các rào cản trên con đường đi của nó. Các động lực và rào cản đó bao gồm thể chế,
dưới đây:
Nền y học và các liệu pháp thích hợp với từng cá nhân;
Biến đổi gen các loài côn trùng để kiểm soát sâu bệnh;
Phát minh và thử nghiệm thuốc nhờ máy tính (In silico);
Phóng nạp thuốc đúng mục tiêu dựa vào phương pháp nhận biết phân tử;
Các bộ phận cấy ghép phỏng sinh học và phục hồi chức năng;
Xét nghiệm sinh học nhanh dựa vào CNNN sinh học;
Các thiết bị cảm biến và tính toán được lắp vào trong hàng hoá thương mại;
Các vật liệu có kết cấu nano với những tính năng được tăng cường;
Các nguồn năng lượng di động kích thước nhỏ, hiệu quả cao;
Các mạch điện tử hữu cơ diện rộng, kể cả pin mặt trời;
Vải thông minh;
Các mạng camera và cảm biến tinh xảo, có mặt ở khắp nơi;
Các cơ sở dữ liệu lớn, dễ tìm kiếm thông tin, chứa đựng thông tin cá nhân và tiền
sử bệnh tật;
Các thiết bị nhận dạng tần số vô tuyến (FRID) dùng để theo dõi hàng hóa thương
mại và cá nhân;
CNTT-TT được kết nối rộng khắp, kể cả kết nối Internet không dây;
Hệ thống mật mã lượng tử để truyền thông tin an toàn.
GTR 2015 cũng đề cập đến một vài công nghệ mà chưa chắc sẽ có khả năng phổ biến
rộng khắp vào năm 2015, nhưng nếu xảy ra một số đột phá thì có thể đem lại những ảnh
hưởng rộng lớn. Một trong những công nghệ đó là phương pháp tự lắp ráp vật liệu từ
dưới lên, dựa vào lực hoá học và sinh học. Vài năm gần đây, phương pháp này đã trưởng
thành lên rất nhiều, không phải chỉ với tư cách là một phương pháp đứng riêng lẻ, mà còn
là một công cụ mạnh, thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp chế tạo từ trên
xuống, chẳng hạn như phương pháp in litô. Mặc dù phương pháp tự lắp ráp chưa chắc sẽ
trở thành một công cụ vạn năng cho các lĩnh vực chế tạo, nhưng hiện nó đã là một bộ
phận quan trọng trong số các công cụ của các nhà phát triển vật liệu và các phòng thí
nghiệm CNNN trên toàn thế giới. Ví dụ, phương pháp tự lắp ráp đã được sử dụng để sản
xuất nhiều cơ cấu nano chức năng khác nhau để kết hợp vào các thiết bị và hệ thống.
. Nhà ở tự quản rẻ tiền: Nhà ở tự cung và tự cấp, cho phép người ở có thể thích
nghi với các điều kiện của địa phương và có đủ năng lượng để sưởi ấm, làm lạnh
và nấu nướng.
. Sản xuất công nghiệp xanh: Các quy trình sản xuất được thiết kế lại nhằm thanh
toán hoặc giảm phần lớn các luồng chất thải và giảm lượng sử dụng các nguyên
liệu độc hại.
. Thẻ nhận dạng tần số vô tuyến (RFID) trên các sản phẩm thương mại và cá nhân:
Sử dụng rộng rãi các thẻ RFID để theo dõi các sản phẩm bán lẻ, từ nơi sản xuất
cho đến nơi bán hàng và xa hơn, cũng như để theo dõi các cá nhân và sự di chuyển
của họ.
. Xe hơi sử dụng động cơ lai: Các loại xe hơi được ứng dụng các động cơ kết hợp
sử dụng động cơ đốt trong với các nguồn nhiên liệu khác, có khả năng phục hồi
năng lượng trong khi hãm phanh.
. Thiết bị cảm biến có mặt khắp nơi: Các bộ cảm biến được lắp đặt tại hầu hết các
khu công cộng và các hệ thống dữ liệu cảm biến giúp thực hiện cho sự giám sát
ngay trong thời gian thực.
. Kỹ thuật mô: Thiết kế và tạo ra các mô sống phục vụ cho việc cấy ghép và thay
thế.
. Các phương pháp chẩn đoán và phẫu thuật được cải tiến: Các công nghệ cải tiến
độ chính xác của công việc chẩn đoán và làm tăng đáng kể tính chính xác và hiệu
quả của các ca phẫu thuật, trong khi làm giảm được sự can thiệp và thời gian hồi
phục.
. Máy tính mang trên người: Các thiết bị máy tính có thể được gắn trong quần áo
hay các đồ vật mang theo người như túi xách, ví tiền, đồ trang sức.
. Mật mã lượng tử: Các phương pháp cơ học lượng tử mã hóa các thông tin phục
vụ cho việc di dời an toàn.
1.6. Năng lực của các quốc gia rất khác nhau trong việc gặt hái ích lợi của công nghệ
Sự truyền bá toàn cầu của một ứng dụng công nghệ không mang tính phổ quát, tức
là không phải quốc gia nào trên thế giới cũng sẽ có thể thực hiện được hay thậm chí là
chiếm lĩnh được tất cả các ứng dụng công nghệ vào năm 2020. Trình độ năng lực
Trình độ năng lực khoa học
cần thiết của các nước
Các ứng dụng công nghệ
Thấp
Năng lượng mặt trời giá thành rẻ
Truyền thông vô tuyến ở các vùng nông thôn
Cây trồng GM
Các thiết bị lọc và xúc tác
Nhà ở tự quản giá rẻ
Trung bình
Xét nghiệm sinh học nhanh
Sản xuất công nghiệp xanh
Thẻ nhận dạng tần số vô tuyến (RFID)
Xe hơi động cơ lai ghép
Cao
Phóng nạp thuốc đúng mục tiêu
Các phương pháp chẩn đoán và phẫu thuật cải
tiến
Mật mã lượng tử
Rất cao
Truy cập thông tin ở khắp mọi nơi
những công ty đa quốc gia hàng đầu đều đến hoạt động tại TEDA.
TBNA và TEDA đang tập trung những nỗ lực phát triển của mình vào 3 hướng:
- Trở thành trung tâm R&D mũi nhọn và cơ sở ươm tạo công nghệ mạnh;
- Có được ngành chế tạo đẳng cấp hàng đầu, hiện đại;
- Là trung tâm xuất nhập khẩu hàng hóa và logistics quốc tế.
- 2. Lựa chọn các ứng dụng công nghệ ưu tiên
Khi bắt tay vào phát triển kế hoạch chiến lược để thực hiện cuộc chuyển hóa đầy
tham vọng này, các nhà lãnh đạo TBNA và TEDA được tiếp cận với 2 bản Báo cáo của
RAND, một tổ chức phi lợi nhuận của Mỹ, chuyên nghiên cứu và phân tích các vấn đề
chính sách và các giải pháp cho nghiên cứu KH&CN, gồm một báo cáo tóm lược và một
bản báo cáo phân tích sâu về cuộc cách mạng công nghệ toàn cầu, được dự báo là sẽ diễn
ra tới năm 2020, có nhan đề "Các xu hướng của công nghệ sinh học/công nghệ nano/công
nghệ vật liệu/công nghệ thông tin, những động lực, những rào cản và những hàm ý xã
hội”. Các báo cáo này (Gọi tắt ta GTR 2020) là công trình phân tích, dự báo toàn diện,
nhận dạng những ứng dụng công nghệ (TA) hợp lý nhất tới năm 2020, những quốc gia có
khả năng làm chủ những TA đó và những ảnh hưởng khả dĩ của chúng tới xã hội. Công
trình chú trọng vào những TA do xu hướng công nghệ đang nổi lên tạo ra, chứ không vào
bản thân những công nghệ, bởi lẽ nếu chỉ tự thân thì những công nghệ hiếm khi đem lại
những giải pháp cho các vấn đề thực tiễn đặt ra. Thay vào đó, những giải pháp thường
xuất phát từ các phương thức mà các công nghệ được ứng dụng hữu ích. Do vậy GTR
2020 quan tâm đến những TA, chẳng hạn như năng lượng mặt trời giá rẻ, thay vì chú
trọng vào các công nghệ, chẳng hạn như vật liệu pin mặt trời.
Sau khi nghiên cứu GTR 2020, các nhà lãnh đạo TBNA và TEDA đã ủy nhiệm RAND
thực hiện những việc sau đây:
- Nhận dạng những TA đang nổi lên có hứa hẹn đối với TEDA và các trung tâm
công nghệ cao khác trong TBNA để đóng vai trò then chốt trong kế hoạch chiến
lược tổng thể phát triển kinh tế của TBNA;
- Nhận dạng những nhu cầu năng lực để thực hiện những TA này, cũng như những
động lực và rào cản có thể tạo thuận lợi hoặc gây trở ngại đối với quá trình thực
thi;
Nhiệm vụ của TBNA và TEDA với vai trò là Đặc khu thử nghiệm về phát triển
kinh tế và môi trường
Trong một thời gian tương đối ngắn, TBNA và TEDA đã thiết lập thành công một
cơ sở chế tạo vững chắc. Với yêu cầu nhiệm vụ đã đặt ra cho TBNA, hiện nay Hội đồng
nhà nước đang kêu gọi TBNA và TA tạo dựng cơ sở để phát triển năng lực chế tạo hiện
đại, dựa trên các công nghệ cao, trong đó chú trọng đến R&D để tạo ra các sản phẩm giá
trị gia tăng và đem lại những việc làm có thu nhập cao. Loại hình chế tạo này là dựa trên
tri thức, do vậy KH&CN sẽ đóng vai trò cốt tử cho quá trình chuyển hóa này. Năng lực
thương mại hóa KH&CN cũng đóng vai trò hết sức quan trọng để những sản phẩm mà
TBNA và TA thiết kế trong các nỗ lực R&D của mình có khả năng tiếp thị cao và có thể
được chế tạo trên cơ sở sử dụng những quy trình sản xuất mới.
Một phần nằm trong yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho TBNA là trở thành trung tâm
xuất nhập khẩu hàng hóa và logistics quốc tế, nó được kết hợp mật thiết với các mục tiêu
R&D và chế tạo. Muốn đạt được những mục tiêu này, TBNA sẽ phải có những công nghệ
logistics và chuỗi cung cấp tiên tiến, nổi lên từ các nỗ lực R&D hiện nay.
Một yêu cầu nữa đối với TBNA là thử nghiệm cải cách tài chính, đã giúp nhận
dạng những lĩnh vực kinh doanh ưu tiên để phát triển KH&CN. Tháng 12/2007, TBNA
đã ký một hợp đồng với Ngân hàng Phát triển Trung Quốc để đồng tài trợ một khoản tiền
vốn mạo hiểm là 2 tỷ NDT (293 triệu USD), nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp mới khởi
sự về công nghệ cao ở TBNA. Bản hợp đồng này nêu rõ những lĩnh vực ưu tiên gồm:
điện tử, kỹ nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng mới, bảo vệ môi trường và cơ khí chế
tạo tự động.
Chỉ đạo của Hội đồng nhà nước đối với TBNA là thực hiện các sáng kiến mới về
môi trường song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế, do nhận thức được rằng sự tăng
trưởng kinh tế nhanh diễn ra ở 3 thập kỷ qua đã gây nhiều tổn hại cho môi trường của
Trung Quốc. Mặc dù vẫn phải tiếp tục phát triển kinh tế, nhưng phải là phát triển bền
vững. TBNA hiện đã tiến hành những bước đi đầu tiên mang tính quyết định để đáp ứng
chỉ đạo trên, với những sáng kiến mới như nền kinh tế tuần hoàn (Circular Economy) và
thành phố sinh thái Sino-Singapo. Sáng kiến đầu tiên liên quan đến việc sử dụng và tái
sinh tài nguyên theo những chu trình bền vững, giảm thiểu phế thải và ô nhiễm môi
- Đáp ứng nhu cầu năng lượng gia tăng: Trung Quốc là một trong những nước tiêu
thụ năng lượng hàng đầu thế giới và nhu cầu năng lượng đang tăng lên đều đặn
mỗi năm. Xăng dầu và khí đốt cho ô tô có nhu cầu đặc biệt cao, vì tầng lớp trung
lưu ngày càng lớn mạnh ở Trung Quốc có xu hướng mua sắm ô tô ngày càng
nhiều. Trung Quốc cần những TA giúp sử dụng được các nguồn năng lượng thay
thế, giảm nhu cầu xăng dầu tăng hiệu năng tiêu thụ, giảm nhu cầu năng lượng
công nghiệp.
- Khắc phục tình trạng khan hiếm nước ngọt: Ở Trung Quốc nói chung đều khan
hiếm nước ngọt. Tình trạng khan hiếm đặc biệt nghiêm trọng ở miền Bắc Trung
Quốc, nơi lượng mưa rất ít và các nguồn nước ngầm đang cạn dần. Tuy nhiên, nhu
cầu nước sạch cho sinh hoạt và công nghiệp không hề có dấu hiệu giảm sút và việc
cung cấp không theo kịp với cầu. Những TA tạo điều kiện tiếp cận với nước sạch
từ những nguồn khác nhau là hết sức quan trọng đối với Trung Quốc.
- Giảm ô nhiễm: Sự bùng nổ kinh tế ở Trung Quốc khiến quốc gia này phải đối mặt
với mức độ ô nhiễm rất nặng nề. Mưa axit, ô nhiễm không khí, rác thải đô thị, sự
biến mất của các vùng đất màu mỡ và thủy triều đỏ là những vấn đề nghiêm trọng
nhất. Trung Quốc cần đến những TA giúp cân bằng sự phát triển kinh tế với bảo
vệ môi trường bằng phương pháp giảm độc hại trong phát thải từ ô tô và các xí
nghiệp công nghiệp, tái chế tài nguyên và tăng hiệu suất sử dụng năng lượng.
- Duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao: Trung Quốc cần tiếp tục xây dựng và mở
rộng nền kinh tế để có khả năng giải quyết được các vấn đề quốc gia, tạo ra việc
làm và nâng cao đời sống của người dân. Trung Quốc hiện đang ở giai đoạn, trong
đó sự tăng trưởng kinh tế do tri thức đem lại là hết sức quan trọng đối với tương
lai của mình. Cốt lõi của sự tăng trưởng này sẽ là các TA giúp Trung Quốc giảm
được sự lệ thuộc vào nguồn công nghệ nước ngoài, gia nhập vào hàng ngũ những
quốc gia KH&CN hàng đầu thế giới và sửa chữa được hình ảnh quốc gia đã bị tổn
hại bởi một loạt các thảm họa cho thấy mức độ bảo hiểm yếu kém của mình.
5. Những TA hứa hẹn nhất đối với TBNA và TEDA
7 TA đã nổi lên từ công trình phân tích, được xem là có nhiều hứa hẹn nhất đối với
TBNA và TEDA gồm:
- Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (IPR);
- Các luật và quy định tài chính và ngân hàng;
- Các chính sách, luật và quy định của địa phương có thể ảnh hưởng trực tiếp đến
khả năng của các cá nhân và tổ chức để tiến hành R&D mũi nhọn và thương mại
hóa những công nghệ mới;
- Nguồn nhân lực;
- Văn hóa R&D và đổi mới.
8 nhân tố nói trên cũng ảnh hưởng nhiều nhất đến khả năng của TBNA để phát triển và
thực hiện các TA. Một số những nhân tố này rõ ràng là động lực hoặc rào cản đối với
toàn Trung Quốc. Nhưng đôi khi, hoàn cảnh địa phương khiến cho chúng là những động
lực hoặc rào cản mạnh hoặc yếu ở một tổ chức hoặc một vùng cụ thể (hoặc đối với một
TA cụ thể).
Một số nhân tố này là những rào cản ở TBNA và ảnh hưởng tới toàn bộ 7 TA. Ví
dụ vấn đề bảo hộ IPR vẫn là một rào cản ở TBNA, giống như ở toàn Trung Quốc, cho cả
đổi mới được thực hiện trong nước lẫn sự tham gia của vốn và tài năng nước ngoài vào
R&D và mạo hiểm công nghệ mới. Các luật và quy định tài chính/dịch vụ ngân hàng
cũng là rào cản ở TBNA, cũng như ở Trung Quốc nói chung, vì chúng không kích thích
đầu tư của vốn mạo hiểm. Thiếu văn hóa R&D và đổi mới là rào cản thứ ba ở TBNA,
cũng như của cả Trung Quốc. Nó không khích lệ mọi người chấp nhận rủi ro để tiến hành
các vụ kinh doanh mới - điều rất quan trọng để theo đuổi và thương mại hóa những R&D
mang tính khai phá.
TBNA có một động lực mà tất cả 7 TA đều chia sẻ, đó là nguồn vốn con người.
Nó xuất phát từ sức mạnh của cơ sở chế tạo hiện nay ở TBNA, từ nguồn nhân lực tương
ứng của nó và ở sự tập trung của các viện nghiên cứu trong khu vực. Tuy nhiên, giới trẻ
đang có xu hướng không theo học các ngành nghề kỹ thuật, đồng thời sự cạnh tranh để
giành giật tài năng KH&CN đang diễn ra gay gắt. Cả 2 sự việc này đều có thể làm nhẹ
bớt động lực của TBNA.
7. Những năng lực hiện có ở TBNA và TEDA
Để hoàn thành yêu cầu nhiệm vụ, TBNA và TEDA sẽ phải có năng lực ở 3 lĩnh
cấu phần công nghệ: màn hình và nguồn cấp điện. Tuy nhiên, không nên có xu hướng
R&D về các mạch tích hợp.
Chiến lược 3: Chiến lược lâu dài đối với TBNA là trở thành đấu thủ hàng đầu trên
thị trường toàn cầu về xét nghiệm sinh học nhanh, tiên tiến. Tuy nhiên, chú trọng ban đầu
phải là sử dụng các giấy phép và hợp đồng đối tác để thu hút các công ty hàng đầu tới
hoạt động ở TBNA và TEDA. Trong thời kỳ này, TBNA phải tạo dựng năng lực như một
nhà bán lại các sản phẩm và thiết bị xét nghiệm. Kết cục, các công ty TBNA phải tự mình
chế tạo những sản phẩm đó. Thị trường nội địa phải là mục tiêu đầu tiên, sau mới là toàn
cầu.
Chiến lược 4: Mục tiêu dài hạn của TBNA là: (1) Trở thành trung tâm R&D về các
màng mỏng, bộ lọc và xúc tác cấp nano; và (2) Trở thành nhà đi đầu trong chế tạo các
loại màng mỏng tiên tiến để thanh lọc nước. Điều quan trọng đối với TBNA là thúc đẩy
mối quan hệ mật thiết giữa các phòng thí nghiệm nghiên cứu và các hãng tư nhân để tạo
thuận lợi cho thương mại hóa sản phẩm.
Chiến lược 5: TBNA phải đặt mục tiêu trở thành trung tâm R&D và chế tạo các
dược phẩm, được phát triển nhờ CNNN sinh học. Chú trọng ban đầu cần hướng vào thu
hút đầu tư từ các công ty nước ngoài và đồng thời tích cực xây dựng năng lực R&D nội
sinh. Sau cùng, TBNA cần hướng các hoạt động R&D vào thương mại hóa các liệu pháp
và kỹ thuật y học mới.
Chiến lược 6: Do tiềm năng thị trường của các phụ kiện ô tô điện và ô tô rất lớn,
nên TBNA nên phát triển và tăng cường R&D cộng tác về các công nghệ phụ kiện và
phân hệ trên xe ô tô; Đồng thời, TBNA nên phát triển năng lực chế tạo ô tô và các phụ
kiện của chúng. Cần nhằm vào trước hết là thị trường toàn cầu đang tăng trưởng, sau đó
chuyển sang thị trường nội địa.
Chiến lược 7: TEDA cần trở thành trung tâm chế tạo xanh của Trung Quốc. Chú
trọng ban đầu nên hướng vào việc thu hút các công ty mũi nhọn về hóa chất và kỹ nghệ
xanh. Dần dần, TBNA phải tự mình tiến hành R&D về các quy trình chế tạo xanh mới để
kết cục áp dụng chúng tại TBNA và TEDA. Khi thiết kế các sáng kiến chế tạo xanh,
TBNA nên chú ý tới các nhà máy mới và tập trung vào những quy trình tiết kiệm chi phí.