Ấn chương Việt Nam - Ấn chương thời Nguyên (1279 - 1368)
Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt sau khi định đô đã tuyên bố quy định việc dùng văn tự Bát
Tư Ba của đế quốc Nguyên Mông khắp đất nước Trung Hoa. Quy định tất cả ấn chương
của các quan lại ở các cấp chính quyền đều phải khắc theo thể chữ Bát Tư Ba. Đương
thời tầng lớp quý tộc Mông Cổ làm ấn riêng cũng dùng thể chữ Bát Tư Ba khắc tên vào
ấn có tác dụng như phù hiệu chuyên môn riêng biệt của dân tộc mình. Do đó ấn chương
thời Nguyên đã xuất hiện một hình thức độc đáo mới là “Hoa giáp” (花鉀). Ấn Hoa giáp
đều là Chu văn (朱文) hình thức thường làm hình hồ lô hoặc hình tỳ bà. Trên mặt ấn văn
thì dùng chữ Hán thể Khải thư khắc tên họ, phía trước thì khắc tên Hoa giáp, loại này còn
được gọi là “Nguyên giáp” (元鉀) và rất thịnh hành vào thời Nguyên.
Tuy nhiên, Hoa giáp hoặc ấn văn Bát Tư Ba chi lưu hành ở trong quan lại, tướng lĩnh và
tầng lớp quý tộc Mông Cổ, còn tư ấn của quan viên và quảng đại dân chúng người Hán
vẫn dùng ấn chương văn khắc theo thể Triện thư.
Thời Nguyên văn hóa nghệ thuật vẫn duy trì theo truyền thống cũ, sự kết hợp thi thư ấn
họa đã hun đúc nên không ít những con người tài hoa của lĩnh vực này. Tiêu biểu là Tiền
Tuyển (錢選) năm 1279 đầu thời Nguyên ông đã làm sách Tiền thị ấn phả (錢氏印譜).
Ngô Khâu Diễn (呉丘衍) cuối năm 1287 làm sách Cổ ấn thức (古印式). Ngô Phúc Tôn
(呉福孫) năm 1311 làm sách Cổ ấn sử (古印史) , Ngô Duệ (呉睿) năm 1322 làm sách
Ngô Mạnh Tư ấn phả (呉孟思印譜), và sách Hán Tấn ấn chương đồ phả
(漢晉印章圖譜). Chu Khuê (朱珪) năm 1359 làm sách Ấn văn tập khảo (印文集考).
(H.10)
4. Ấn chương thời Minh - Thanh (1368 - 1911)
Thời Minh - Thanh xã hội Trung Quốc phát triển đến mức đi lên đỉnh điểm của thời kỳ
phong kiến với rất nhiều biến động. Các lĩnh vực phát triển mạnh và tập trung chủ yếu ở
thành thị. Ngoài Bắc Kinh và Nam Kinh còn xuất hiện hơn 30 thành thị mới. Nơi đây hội
Người khắc ấn không chỉ là người tạo tác công nghệ sản phẩm, không chỉ làm các dụng
cụ làm tín vật nữa mà đã trở thành những con người sáng tạo nghệ thuật phẩm, lưu thông
văn hóa phẩm. Tác phẩm Triện khắc được xã hội thừa nhận, lưu truyền, từ đó hình thành
phong cách nghệ thuật Triện khắc. Ở các địa khu kinh tế phát triển, số lượng các Triện
khắc gia nhiều và tập trung hơn các nơi khác nên có sự giao lưu và kế tục, từ đó đã hình
thành các trường phái Triện khắc gia ở mỗi địa khu. Những người khai sáng trường phái
Triện khắc đồng thời còn là những nhà thư pháp, họa sĩ, nghiên cứu tài giỏi; họ đã đóng
góp không nhỏ trong sự phát triển của ấn chương học nói riêng và văn hóa nghệ thuật nói
chung.
Thời Minh (1368 - 1664) có không ít tác giả, tác phẩm viết về ấn chương, hàng trăm tác
giả nổi tiếng với mấy trăm tác phẩm ra đời trong giai đoạn này. Tiêu biểu là Lã Chấn
(呂震) soạn Lịch đại tỷ ấn phả (歷代璽印譜) năm 1428; Dương Nguyên Tường (楊元祥)
soạn Dương thị tập cổ ấn phả (楊氏集古印譜) năm 1587; Trương Học Lễ (張學禮) soạn
Khảo cổ chính văn ấn loại (考古正文印類) năm 1589; Lai Hành Học (來行學) soạn
Tuyên Hòa tập cổ ấn sử (宣和集古印史) 8 sách năm 1596; Tô Tuyên (蘇宣) soạn Tô
Tuyên ấn sách (蘇宣印册) năm 1605 và Tô thị ấn lược (蘇氏印略) năm 1617; Chu Giản
(朱簡) soạn Ấn phẩm (印品) gồm 5 sách năm 1611; Hà Thông (何通) soạn Ấn sử (印史)
năm 1623 ; Hạ Thụ Phương (夏樹芳) soạn Diễn lộ đường ấn thưởng (演露堂印賞) 8
sách năm 1633. Riêng năm Sùng Trinh thứ 14 (1641) đã có 11 tác giả với 11 tác phẩm
viết về ấn chương, đồ sộ hơn cả là Kim Thân Chi (金申之) soạn bộ Kim thị khảo định ấn
phả (金氏考定印譜) gồm 8 đầu sách.
Sang thời nhà Thanh (1644 - 1911) việc nghiên cứu ấn chương mới thật rực rỡ với mấy
trăm tác gia tác phẩm khác nhau. Nổi bật là các tác gia Hồ Chính Ngôn (胡正言) với 3 bộ
Ấn sử sơ tập (印史初集) làm năm 1645, Ấn tồn sơ tập (印存初集) năm 1646 và Ấn tồn
huyền lãm (印存玄覽) hoàn thành năm 1660. Hứa Dung (許容) soạn Hứa Mặc công ấn
triển của văn hóa nghệ thuật nói chung và ấn chương học nói riêng. Tuy vậy ấn chương
Trung Quốc vẫn tồn tại và không ngừng đi lên với hàng trăm tác gia và tác phẩm mới.
Tiêu biểu là các tác gia La Chấn Ngọc (羅振玉) soạn nhiều tác phẩm lớn Khánh thất sở
tàng tỷ ấn tục tập (磬室所藏璽印續集) năm 1912, Tề Lỗ phong nê tập tồn
(齊魯封泥集存) năm 1927 , Ngô Ẩn (呉隱) soạn Tùy Am Tần Hán cổ đồng ấn phả
(隨庵秦漢古銅印譜) năm 1914, Tùy Am ấn học tùng thư (隨庵印學叢書) năm 1920, La
Phúc Di (羅福頤) soạn Đãi thời hiên ấn tồn (待時軒印存) 18 sách năm 1927, và 15 sách
năm 1932; Ấn phả khảo (印譜考) năm 1931, La Phúc Thành (羅福成) soạn Thượng phù
tỷ cổ ấn tập tồn (尚符璽古印集存) năm 1921, Kính ái sơn phòng ấn tồn (敬愛山房印存)
năm 1942, Cao Thời Ngạc (高時鶚) soạn Nhạc chỉ thất cổ tỷ ấn tồn (樂只室古璽印存)
và Nhạc chỉ thất ấn phả (樂只室印譜) năm 1944.
Nghiên cứu ấn chương giai đoạn hiện đại ở Trung Quốc có không ít tác gia, tác phẩm,
trong đó tên tuổi của La Phúc Di sáng chói trong giới ấn chương học Trung Quốc. Các
tác phẩm Ấn chương khái thuật (印章概述) năm 1963 , Hán ấn văn tự trưng
(漢印文字徵) năm 1978, Bắc Nguyên quan ấn khảo (北元官印考), Tây Hạ quan ấn
vựng khảo (西夏官印匯考), Cổ tỷ ấn khái luận (古璽印概論), Cổ tỷ văn biên
(古璽文編) và Cổ tỷ vựng biên (古璽匯編) năm 1981. Cận bách niên lai đới cổ tỷ ấn
nghiên cứu chi phát triển (近百年來戴古璽印硏究之發展) và Hán ấn văn tự trưng bí di
(漢印文字徵祕遺) xuất bản năm 1982.
Ngoài ra còn các tác gia khác như Hàn Thiên Hành (韓天衡) soạn chung sách Tân ấn phả
(新印譜) năm 1973, Thư pháp khắc tác (書法刻作) năm 1975, Trung Quốc triện khắc
nghệ thuật (中國篆刻藝術) năm 1980, Ngũ bách niên lưu phái ấn chương nghệ thuật
xuất tân đàm (五百年流派印章藝術出新談) năm 1982, Trung Quốc ấn học niên biểu
(中國印學年表) năm 1987, Mã Quốc Quyền (馬國權) soạn bộ Triện khắc kinh điển đồ
thích (篆刻經典圖釋) năm 1983. Từ Ngân Sâm (徐銀森) biên soạn Trung Quốc triện
khắc (中國篆刻) năm 1994. Lưu Nhất Văn (劉一聞) soạn sách Ấn chương (印章) năm
1995. Tào Tề (曹齊) soạn Triện khắc chi mĩ (篆刻之美) năm 1996. Nhiệm Kế Dũ
(任繼愈) soạn Trung Quốc đích ấn chương dữ triện khắc (中國的印章與篆刻) năm