Ấn chương Việt Nam - CHƯƠNG IV TÍN KÝ, KÝ
VÀ ẤN TƯ NHÂN THỜI NGUYỄN I. Tín Ký và Ký với dấu tên riêng
Sự đa dạng của ấn chương còn thể hiện trong loại hình ấn triện nhỏ mà chúng tôi tạm đặt
là Tín Ký 信記 và Ký 記.
Ngay từ thời Gia Long, tất cả các quan tướng lớn nhỏ trong triều ngoài kinh ai cũng được
phép tự chế tạo một quả ấn nhỏ cho riêng mình. Việc tạo ấn này mang tính tự do giống
với ấn tư nhân trên mọi lĩnh vực ngoài xã hội. Chưa có quy định cụ thể về vấn đề này,
dẫn đến ảnh hưởng trong việc quản lý của chính quyền từ trung ương xuống địa phương.
Đến năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) quy chế về Tín Ký bắt đầu được chú ý. Sử cũ chép:
“Đình thần tâu: Trước nay các quan viên trong triều ngoài quận được giao cho ấn, triện,
Quan phòng đều đã có phép nhất định. Duy có việc dùng Ký Triện riêng tự ý chế tạo, thể
thức chế khác nhau, chưa đủ để phân biệt tôn ty mà tín nhiệm được, xin định cho cách
thức thể chế”[272].
Theo thống kê của chúng tôi, chữ Triện khắc trên tất cả các ấn riêng của các quan viên
này thường là: TÍNH DANH + TÍN KÝ, hoặc TÍNH DANH + KÝ, có rất ít chức danh
không Tín Ký. Còn Ký Triện là từ dành cho cấp tổng, xã, đầu đời Minh Mệnh chưa có
quy chế về loại hình ấn này, nên ở Minh Mệnh chính yếu gọi Ký Triện riêng (hoặc cách
gọi của người dịch). Theo chúng tôi phải đặt loại ấn tên riêng này là loại TÍN KÝ hoặc
KÝ mới đúng.
Cũng vào năm 1826, quy chế về loạt hình Tín Ký và Ký chính thức ban hành: “Năm thứ
7, phúc chuẩn cho quan viên văn vũ từ Tứ phẩm trở lên được chế riêng một quả ấn triện
vuông ngà hay gỗ tùy ý, Triện khắc chữ Tên họ mỗ tín ký. Nhất, Nhị phẩm dài 1 tấc 4
phân, ngang 1 tấc 3 phân, Tam, Tứ phẩm dài 1 tấc 2 phân, ngang 1 tấc 1 phân đều cho
đóng dấu son… những việc riêng, chuẩn cho dùng Triện riêng mới chế, đóng vào bên
2. Ký
Cùng hàng với Tín Ký còn có Ký thường dùng cho các Lại thuộc ở các cơ quan (Thư lại,
Vị nhập lưu thư lại), những người có phẩm hàm thấp nhất, hoặc chưa có phẩm hàm thấp.
Ký ở đây có sự đồng hàng về danh xưng lẫn với Ký Triện của Tổng, Lý, vì Cai tổng có
phẩm hàm ngang với Thư lại. Nhưng về ngoại hình ấn dấu của Ký cũng tương tự như Tín
Ký. Do đó chúng tôi xếp Ký ngang hàng với Tín Ký và đặt ở cùng chương mục, tách hẳn
với Ký Triện của cấp tổng, xã. Trên thực tế số lượng thư lại rất nhiều, nhưng kiểu dấu ký
cùng một loại.
Những dấu Ký có hình thức giống như dấu Phạm Tôn tín ký (Đã mô tả ở mục 1), chỉ
khác là dấu Ký thuôn nhỏ hơn, khuôn hình chữ nhật trong dấu nhỏ hơn vì chỉ 1 dòng chữ
Triện bên trong xếp theo hàng dọc: Họ + Tên + Ký.
Tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh còn giữ mấy quả ấn thuộc loại
hình Ký. Đáng chú ý là quả ấn có chất liệu bằng ngà, núm ấn khắc hình con sư tử miệng
há rộng, đuôi vểnh, thế nhún chân. Phần đế ấn chính là bệ chân sư tử mà phần dưới làm
theo hình bát giác lõm hai cạnh giữa ấn. Mặt dấu hình bát giác, 2 cạnh giữa lõm hình
vòng cung, viền ngoài khắc họa tiết. Đường viền giữa hình chữ nhật có kích thước
1,5x4,0cm, ba chữ Triện trong dấu xếp theo hàng dọc 3 chữ Nguyễn Chính ký 阮正記.
Đây là dấu ký của một vị thư lại tên là Nguyễn Chính (H. 201 a,b,c)
Giới thiệu một dấu Ký có hình lục giác, viền ngoài có họa tiết, khuôn hình vuông kích
thước 1x2,2cm, trong có 3 chữ Triện Trần Tố ký 陳做記.Đây là dấu Ký cửa ông Trần
Đình Tố, là Vị nhập lưu thư lại. Dấu áp trên bản công văn mà chính tay ông viết trong tập
Công văn cổ chỉ[275]. (H. 202)
là 3 chữ Đa văn đường 多文堂, niên đại của sách chép năm Tự Đức thứ 11 (1858). (H.
204)
Các dòng họ như Ngô gia văn phái, Phan Huy, v.v… đều có những kho thư viện sách
riêng để khỏi lẫn với các dòng họ khác.
Dòng Ngô gia văn phái với dấu Danh gia tàng thư 名家藏書 có hình vuông, kích thước
2,6x2,6cm, 4 chữ Triện bên trong khắc vuông vức đẹp đẽ, dấu được in trong cuốn Ngô
gia văn phái[279]. (H. 205)
Dòng họ nổi tiếng Bùi Huy Bích cũng sử dụng dấu ấn riêng trên sách của họ. Trong cuốn
Hoàng Việt thi tuyển[280], dòng chữ “Tồn Am gia tàng” viết ngay ngắn và bên cạnh là
hình dấu Danh gia hội tuyển 名家會選, dấu hình vuông kích cỡ 3,4x3,4cm, bốn chữ
Triện trong dấu có nét khắc khác hẳn dấu của họ Ngô trên. (H. 206)
Những cổ vật ngày nay còn lại khá nhiều. Trên các đồ gốm, sứ, đồng v.v… và những bức
tranh, thơ cổ có nhiều hình dấu khác nhau, ở những bức tranh, dưới những bài thơ cổ
thường là dấu tên hiệu các họa sĩ, thi gia. Việc xác định chính xác đó là tranh cổ Việt
Nam hay Trung Quốc và thuộc thời nào, đồng thời xác định rõ hình dấu trên đó là một
việc làm khó khăn, chỉ có các họa sĩ, thi gia lão thành và các nhà nghiên cứu tranh, thơ cổ
chuyên nghiệp mới giải đáp được.
Đồ gốm, sứ, đồng thời Nguyễn khá phong phú. Các cổ vật Trung Quốc đã trộn hòa cùng
tồn tại với gốm Bát Tràng, Thanh Hóa trên đất Việt. Những hiện vật dân tộc thường
không khắc ấn dấu, chúng tôi chỉ thấy những dòng ghi niên hiệu như “Gia Long niên
Tùng tuyết trai 松雪齋 có kiểu chữ Triện thật lạ mắt và độc đáo[282]. (H. 210)
Mô típ dấu chữ Phúc 福 Lộc 祿 Thọ 壽 theo lối chữ Triện có trên rất nhiều hiện vật chất
liệu khác nhau, và chạm khắc nhiều ở đình, đền, chùa trong dân gian. Mỗi một chữ loại
này có rất nhiều kiểu khác nhau, ở đây thể hiện sự phong phú mang tính sáng tạo về thể
loại chữ Triện của những người sáng tác và cả các nghệ nhân điêu khắc. (H. 211) Những người chơi ấn thường tạo ra những quả ấn rất nhỏ, mặt dấu làm theo hình trái cây,
hoa lá, khắc tên hiệu, hoặc khắc những mỹ tự mà họ thích. Trong dấu dùng chữ Triện như
dấu Thuận cát[283] 順吉 (H. 212) hoặc khắc lối Chân thư như dấu Tường hợp[284]
祥合. (H .213)
2. Ấn tín trong lĩnh vực thương mại thời Nguyễn
Công cuộc cải cách của vua Minh Mệnh ít nhiều đã thúc đẩy sự đi lên của nền kinh tế đất
nước. Nông nghiệp, thủy lợi được chú trọng, việc khai thác mỏ vàng, kim loại, đá quí
phát triển, nghề kim hoàn khôi phục trở lại, hàng năm vàng bạc đá quí và một số mặt
hàng khác được tập trung đến thương cảng Hội An tỏa đi các nước.
Hội An là khu vực lý tưởng của giới thương mại lúc đó, số lượng người Hoa, Nhật Bản ở
Hội An ngày một tăng. Đây được coi là trung tâm cộng đồng Hoa kiều ở Việt Nam và các
nước Đông Nam Á trong thời nhà Nguyễn.
Các cửa hàng mọc lên xung quanh các hội quán, với những cửa hàng kim hoàn, lụa tơ
tằm, vải vóc, đồ sành, sứ, dược phẩm, v.v… bán sỉ và bán lẻ. Để đảm bảo sự tín thực,
chắc chắn và ổn định lâu dài trong công việc làm ăn, mỗi chủ hiệu đều sử dụng ấn tín
dòng chữ Hán bình thường. Nếu không tự tay cầm ấn đóng trên văn bản, mà chỉ xem dấu
chữ Chân trên giấy như những dòng chữ Hán in, thì có lẽ chúng tôi cũng chưa dám khẳng
định đây là những hình dấu trong lĩnh vực thương mại. Tất cả ấn loại này đều được làm
bằng gỗ, có núm cầm, theo thể hình chữ nhật hoặc gần chữ nhật. Như dấu Diệp Đồng
Xuân 葉同春 có kích thước 2,5x7,5cm. Ba chữ Hán xếp theo hàng dọc, kiểu Chân thư
chữ lớn rất rõ ràng, đây là dấu hiệu cửa hàng gọi là Diệp Đồng Xuân. (H. 216)
Có khi hai loại ấn dấu của một cửa hàng (một dấu tên hiệu và một dấu hóa đơn) có cùng
một hình thức, kích cỡ, kiểu chữ và cách bố cục văn tự ở dấu. Trên dòng chữ dấu khắc
hai chữ Chân Hội An 會安 xếp ngang, cỡ nhỏ bằng nửa chữ của dòng dấu, như dấu Hội
An Diệp Đồng Nguyên hiệu thư đông 會安葉同源號書東 có kích thước 1,2x7,2cm. Đây
là dấu cho hiệu sách Diệp Đồng Nguyên ở Hội An. (H. 217)
Và dấu Hội An Diệp Đồng Nguyên phát hóa đơn 會安葉同源發貨單. Đây là dấu hóa
đơn của hiệu Diệp Đồng Nguyên trên (H. 218)
Cửa hàng kim hoàn và dược phẩm của người Hoa ở Hội An lại sử dụng ấn dấu có hình
thể khác biệt. Khi đóng dấu trên giấy sẽ thành 3 dòng chữ Hán: dòng giữa chữ lớn gấp
đôi chữ của hai dòng bên. Như dấu của cửa hiệu kim hoàn gốc người tỉnh Quảng Đông có
kích thước 3x5cm, chữ khắc ở dấu theo thể Chân thư. Năm dòng chữ ở giữa là Quảng
Đông di xương âm 廣東怡昌陰, bốn chữ dòng bên trái là Bản hiệu đại thụ 本校大售,
bốn chữ dòng bên phải là Thập túc kim diệp 十足金葉. (H. 219)
Đây là ấn dấu của cửa hàng kim hoàn vào loại lớn lúc bây giờ, tên hiệu gắn liền với địa
danh quê hương của họ. Điều này cũng nói lên được sự tín thực, đảm bảo trong việc buôn
bán làm ăn, nhất lại là đối với loại hàng là vàng, bạc phải sử dụng loại cân tiểu ly. Việc
khẳng định loại vàng lá đủ mười tuổi (thập túc kim diệp) trong hình dấu, nó có giá trị hơn
nhiều về lòng tin so với chiếc cân tiểu ly của bản tiệm đối với khách hàng đến mua và
bán. Ngày nay các tiệm kim hoàn của ta vẫn sử dụng ấn riêng trên vàng bạc và hóa đơn,
nhưng là chữ Quốc ngữ và số La Mã.
Nẵng, mà còn tiềm ẩn ở Bắc kỳ với thành Hà Nội cổ kính và ở Nam bộ một vùng Sài
Gòn - Chợ Lớn sầm uất. Tại Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi đã
in chụp được một số ấn dấu của thương nhân thời Nguyễn, xin nêu một ví dụ cuối cùng
của mục này, ấn có ký hiệu BTLS 1368 bằng ngà, cao 4,2cm, chiều ngang 2,5cm, hình
một con vật đứng trên khối hình chữ nhật. Mặt dấu hình chữ nhật đứng cỡ 0,8x2,5cm,
bốn chữ Triện xếp theo một hàng là bốn chữ Mỹ ánh thảo đường 美映艸堂. Đây là ấn
dấu của một bản hiệu ở Sài Gòn - Chợ Lớn có tên là Mỹ ánh thảo đường. (H. 222a&b).
3. Ấn tín trong lĩnh vực Tôn giáo tín ngưỡng thời Nguyễn
Xã hội phong kiến thời Nguyễn rập khuôn hoàn toàn theo khuôn mẫu của xã hội phong
kiến Việt Nam trước nó. Tư tưởng Tam giáo (Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo) đã ăn sâu
cắm rễ vào con người Việt Nam qua nhiều thế hệ. Ở một xã hội phong kiến nghèo nàn lạc
hậu, bế tắc chồng chất khiến con người luôn tìm đến tôn giáo tín ngưỡng, hy vọng một sự
giải thoát hữu hiệu. Tâm linh họ đến cửa Phật, thánh, thần, ông hoàng, bà chúa v.v… một
tấm lòng thành những mong được bình an và giải hạn. Lời thỉnh cầu của họ được gửi gắm
vào lá sớ hóa cùng vàng mã, vào lá bùa dùng để trấn yểm v.v… Trên những lá sớ, lá bùa
đó thường có in hình con dấu riêng biệt đặc trưng cho loại hình sớ và từng loại bùa khác
nhau.
Không như là sớ được lưu hành rộng rãi tự do, lá bùa chỉ có ở các thầy cúng, thầy phù
thủy. Khi gia chủ yêu cầu về việc gì thì thầy sẽ cho đạo bùa đúng yêu cầu đó. Những
người dựng nhà mới, dù đất có dữ hay không, nhưng lễ “Nhập trạch” họ thường mời thầy
hành lễ và đặt bùa “Trấn trạch” ở nhiều chỗ trong ngôi nhà. Trên lá bùa, ngoài những
dòng ghi chữ Hán, những nét bùa chú còn in một hoặc hai ba hình ấn dấu. Không chỉ có
một mà có vài ba loại bùa “Trấn trạch” khác nhau. Hình dấu ở mỗi loại cũng hoàn toàn
khác nhau, cái hình vuông, cái hình chữ nhật, cái to, cái nhỏ v.v… Những gia đình có
người mới mất bị phạm vào ngày giờ trùng tang, trùng phục hay nhất Sa, nhị Sa, tam Sa
v.v…, gia chủ mời thầy về hành lễ. Thầy cho nhiều bùa khác nhau. Ngoài các lọ bùa yếm
ở mả, ở cổng ngõ, tám góc trên dưới trong nhà, các cửa, bùa cuốn vào tay người mất, và
(H. 224 a,b,c)
Ngoài số ít ấn tín có nội dung trùng lặp ở Phật giáo, còn lại hầu hết là những ấn tín thuộc
Đạo giáo. Số ấn này hiện được lưu giữ ở nhiều ngôi đền, điện thờ đức Thánh Trần Hưng
Đạo, tam, tứ phủ công đồng, Ngọc hoàng thượng đế, chư vị Thánh mẫu cùng các đệ tử bà
chúa, ông hoàng v.v… Xin được giới thiệu một số ấn bằng gỗ tiêu biểu. Những quả ấn
này có hình thức khác nhau, núm ấn chiếc nào làm đơn giản thì để mộc, chiếc nào đẽo
gọt cẩn thận thì quét sơn ta. Mặt đế ấn khắc viền để rìa cạnh, chữ Triện khắc vuông vức
và rõ nét. Ấn thứ nhất làm theo kiểu hình tháp bằng đầu, ngoài phủ lớp sơn ta đã cũ, cao
4,8cm. Mặt đế hình vuông cỡ 3,3x3,3cm có khắc chữ Thượng (上). Mặt trên hình vuông
cỡ 4,2x4,2cm. Mặt dấu hình vuông bằng cỡ mặt đế ấn, đế viền ngoài 0,5cm, bên trong là
4 chữ Triện Kiếp Bạc linh phù 劫泊靈符. Đây là phù ấn đóng trên các đạo bùa ở đền
Kiếp Bạc. (H. 225 a,b,c)
Các ấn tiếp theo dưới đây đều có chung hình thức là núm cầm ngắn, gần như không có
chiều cao của ấn, phần độ dầy của đế ấn gắn liền với núm cầm. Quả ấn có phần mặt ấn
khắc đường gờ lượn góc, núm cầm thấp nhưng rộng và cạnh uốn hình sóng nước, trên
mặt khắc chữ Chính (正) Mặt đế ấn hình vuông kích thước 5,5x5,5cm. Mặt dấu hình
vuông bằng cỡ đế ấn, để viền ngoài 0,8cm, bên trong là 4 chữ Triện Tam phủ công đồng
(三府公同). Đây là ấn dấu ở ban Tam phủ công đồng. Theo quan niệm Đạo giáo “Tam
phủ” tức là ba phủ “Thiên phủ”, “Địa phủ” và “Thủy phủ”. Ở Đạo giáo nước ta, Tam phủ
công đồng là ban thờ lớn ở chính thất thờ chư vị Thánh mẫu. Đệ nhất Thượng thiên
(Tượng là mẫu Liễu Hạnh), Đệ nhị Thượng ngàn (Mẫu Thượng ngàn) và Đệ tam Thoải
phủ (Mẫu Thoải - tức mẫu Thuỷ phủ). Về sau này một số đền, điện thờ ở ban Tam phủ
công đồng còn thờ thêm nhiều hình tượng khác, bố cục xếp đặt cũng không được thống
nhất, đó là sự biến tướng khá phức tạp của Đạo giáo Việt Nam. (H. 226 a,b)