ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ HƯỜNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ HƯỜNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Chuyên ngành
: Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả Luận văn
Ngô Thị Hường
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. KHÁI LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP TƯ
NHÂN .......................................................................................................................7
1.1
Tổng quan về Doanh nghiệp tư nhân ................................................................... 7
1.1.1 Lịch sử phát triển của Doanh nghiệp tư nhân ..................................................... 7
1.1.2 Vai trò và y nghĩa của Doanh nghiệp tư nhân ................................................... 10
nghiệp tư nhân .................................................................................................... 71
2.4
Thực trạng pháp luật Việt Nam về chủ thể của Hợp đồng mua bán Doanh
nghiệp tư nhân .................................................................................................... 80
2.5
Thực trạng pháp luật Việt Nam về nội dung cơ bản của Hợp đồng mua bán
Doanh nghiệp tư nhân ........................................................................................ 84
2.6
Thực trạng pháp luật Việt Nam về vi phạm nghĩa vụ Hợp đồng mua bán
Doanh nghiệp tư nhân và các chế tài ................................................................. 86
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN .... 105
3.1
Những định hướng cơ bản................................................................................ 105
3.1.1 Chỉnh sửa và xây dựng những quy phạm pháp luật có tính chặt chẽ và phù
hợp trên cơ sở rà soát và nghiên cứu thực trạng mua bán Doanh nghiệp tư
nhân tại Việt Nam ............................................................................................ 105
3.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống các văn bản pháp luật ........................ 106
3.1.3 Đảm bảo sự quản ly, điều phối của cơ quan quản ly nhà nước ...................... 107
3.2
Bảng 01: Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động phân theo loại hình
Bảng 02: Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm của doanh nghiệp phân theo
loại hình doanh nghiệp (Tỷ đồng)
Bảng 03: Tổng số lao động trong các doanh nghiệp phân theo loại hình (người)
MỞ ĐẦU
1
Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra cho các
Doanh nghiệp trong nước nhiều cơ hội đầu tư, kinh doanh nhưng cũng đem lại
không ít những khó khăn, thách thức trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp
nước ngoài có quy mô và tiềm năng về vốn, về kỹ thuật, về năng lực quản lý...Trên
thực tế, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc những doanh nghiệp quản trị kém
không thể tiếp tục “chèo lái” con thuyền của mình đã phải bán doanh nghiệp hoặc
bán phần vốn góp của mình trong công ty hay sáp nhập vào công ty khác. Điều đó
đồng nghĩa với việc, có những doanh nghiệp sẽ ngày một mạnh lên nhờ công nghệ,
nhờ quản trị, nhờ sản phẩm chiến lược…và sẽ luôn tìm kiếm cơ hội mở rộng hoạt
động kinh doanh của mình. Ngược lại, có những doanh nghiệp ngày một suy kém
và buộc phải rút lui khỏi thị trường. Một trong những hình thức tương đối hữu hiệu
mà các doanh nghiệp mạnh thường nghĩ đến là mua lại các công ty khác đang “hấp
hối” để tranh thủ những nguồn lực sẵn có của công ty này (như nguồn nhân công rẻ,
tay nghề tốt hay mạng lưới cung cấp khách hàng tiềm năng hay thương hiệu hàng
hóa sẵn có…). Tương lai gần, việc mua bán doanh nghiệp hay chuyển nhượng vốn
góp sẽ ngày càng phát triển và trở thành xu hướng tất yếu của thị trường.
Trong bức tranh chung về mua bán doanh nghiệp, thì có lẽ vấn đề mua bán
doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình) là vấn đề đầu tiên được pháp luật ghi nhận chính
Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian gần đây, cùng với sự gia tăng của các giao dịch mua bán
doanh nghiệp, số lượng các bài nghiên cứu cũng tăng lên. Qua tìm hiểu có thể kể
đến một số công trình và bài viết nghiên cứu có liên quan phần nào đến DNTN, hợp
đồng mua bán doanh nghiệp sau đây:
Thứ nhất, với các công trình luận án, Luận văn, có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu sau:
Luận án Tiến sỹ Luật Học (2000) của Phạm Quý Tỵ bàn về “Nhà nước quản
ly bằng pháp luật đối với Doanh nghiệp tư nhân và Công ty trách nhiệm hữu hạn”;
Luận án Tiến sỹ Luật học (2003) của Phạm Trí Tuệ bàn về “Địa vị pháp ly
của Doanh nghiệp tư nhân”;
Luận án Tiến sỹ - chuyên ngành Kinh tế quản lý và kế hoạch hóa kinh tế
quốc dân (2003) của Lê Anh Dũng bàn về vấn đề “Đổi mới cơ chế quản ly của nhà
nước đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh”;
Luận văn Thạc sĩ của Mai Vân Anh (2009) bàn về “Hợp đồng mua bán
Doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam”.
Thứ hai, với các sách chuyên khảo, các bài viết tạp chí (báo) Việt Nam và
Quốc tế, có thể kể đến một số tài liệu sau:
Sách của tác giả Corinne Renault – Brahinsky, người dịch Trần Đức Sơn,
Nhà pháp luật Việt Pháp, Nhà xuất bản Gualino (2002), nghiên cứu về “Đại cương
pháp luật hợp đồng”;
Sách của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa (2004), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Hà Nội với tựa đề “Chuyên khảo luật kinh tế”;
Sách của LS.TS Nguyễn Thanh Bình (chủ biên), Nhà xuất bản Thống Kê
(2008), nghiên cứu về “Nghiệp vụ của Luật sư về Tư vấn pháp luật và Tư vấn Hợp
đồng”;
và đặc trưng pháp lý của hợp đồng mua bán DNTN; đánh giá và phân tích thực
trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng mua bán DNTN trên cơ sở đối
chiếu, so sánh với pháp luật các nước; trên cơ sở đó, đề xuất những kiến nghị, giải
pháp để góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán
DNTN.
Để đạt được những mục tiêu trên, Luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu
sau: (i) Thứ nhất, nghiên cứu đặc trưng pháp lý của loại hình DNTN và những vấn
đề lý luận về hợp đồng mua bán DNTN; (ii) Nghiên cứu, phân tích những quy định
pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán DNTN; (iii) Đánh giá, bình luận về
những ưu điểm, hạn chế của quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán
DNTN; (iv) Đưa ra những kiến nghị cụ thể góp phần khắc phục những hạn chế,
thiếu sót và hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán doanh
nghiệp nói chung và mua bán doanh nghiệp tư nhân nói riêng.
4
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận về hợp đồng
mua bán DNTN và thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán DNTN.
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là Luận văn tiến hành nghiên cứu thực
trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về việc mua bán DNTN (có sự đối chiếu, so
sánh với một số quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1990 trở lại đây). Ngoài
ra, DNTN được đề cập tại Luận văn chính là DNTN theo nghĩa hẹp, tức một loại
hình doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 được
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông
qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 (“Luật Doanh nghiệp 2005”), là DNTN do một cá
nhân làm chủ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình. Luận văn
không nghiên cứu DNTN theo nghĩa rộng, tức không nghiên cứu toàn bộ các loại
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Thứ nhất, Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách bao quát, có
hệ thống lý luận pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán DNTN.
Thứ hai, Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý cơ bản về hợp
đồng mua bán DNTN tại Việt Nam và đánh giá một cách tương đối có hệ thống
thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán DNTNi.
Thứ ba, Luận văn, trong phần kiến nghị những định hướng và giải pháp hoàn
thiện, đã đưa ra được những định hướng và giải pháp cụ thể nhằm góp phần xây
dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán DNTN nói riêng và
mua bán doanh nghiệp nói chung cũng như góp phần cung cấp những nền tảng pháp
lý cho các chủ thể khi tìm hiểu hay tham gia vào hoạt động mua bán DNTN tại Việt
Nam.
8
Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Mục
lục, Luận văn chia ra thành 3 chương như sau:
Chương 1: Khái luận về Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về Hợp đồng mua bán Doanh
nghiệp tư nhân.
Chương 3: Định hướng và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân.
CHƯƠNG 1
KHÁI LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
1.1
Trong vòng 6 năm, toàn bộ sở hữu tư nhân trong các doanh nghiệp bị quy
thành sở hữu nhà nước. khu vực kinh tế tư nhân gần như bị tiêu diệt hoàn toàn. Nền
kinh tế Việt Nam (Miền Bắc) chỉ còn hai thành phần chủ yếu là Kinh tế nhà nước và
kinh tế tập thể, một phần nhỏ là kinh tế cá thể. Hiện trạng này giống như Trung
Quốc trước Cải cách mở cửa.
Sau 1975, đất nước thống nhất, chính sách quốc hữu hóa tài sản của khu vực
kinh tế tư nhân lại được áp dụng ở Miền Nam. Gần như toàn bộ tài sản của 22.456
DNTN với giá trị khoảng 800 triệu USD đã trở thành sở hữu nhà nước. Các DNTN
bị liệt vào thành phần phi xã hội chủ nghĩa và không được phép tồn tại. Cũng như ở
Trung Quốc, Doanh nghiệp ở Miền Bắc Việt Nam bị phân biệt đối xử, thậm chí còn
bị coi là thành phần phản cách mạng. Nền kinh tế Việt Nam đến giữa những năm
1980 ngày càng trì trệ, lạc hậu. Một đất nước nông nghiệp với điều kiện tự nhiên
tương đối thuận lợi và người dân cần cù, sáng tạo nhưng liên tục thiếu đói, phải
trông chờ viện trợ lương thực từ các nước xã hội chủ nghĩa ở Châu Âu.
Năm 1986 là năm đánh dấu một thời kỳ mới – thời kỳ Đổi mới – bằng việc
Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI lần đầu tiên khẳng định cần xây dựng
một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần cho dù nền kinh tế hàng hóa đó vẫn phải
theo chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất. Thời kỳ này đánh dấu bước ngoặt cho
các DNTN có cơ hội phát triển trở lại.
Sự phát triển của DNTN ở Việt Nam từ 1986 đến 1990
Bước đầu nền kinh tế Việt Nam nổi lên với nền kinh tế hộ cá thể (năm 1990
số hộ kinh doanh cá thể lên đến khoảng 840 hộ) [2], những điều kiện phát triển kinh
tế tư nhân thoát khỏi phạm vi kinh tế hộ cá thể gần như chưa có. Các hộ sản xuất
kinh doanh phi nông nghiệp này vẫn phải hoạt động “ngầm” và chủ hộ vẫn bị kỳ
thị, vẫn bị coi là “con buôn”. Đây thực sự mới chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho sự ra
đời của DNTN.
Sự phát triển của DNTN ở Việt Nam từ 1991 đến 1999
Kinh tế hộ đứng trước đòi hỏi bức thiết về mở rộng quy mô, ngành nghề sản
xuất kinh doanh, muốn thoát khỏi cảnh hoạt động ngầm cũng như được pháp luật và
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của Doanh nghiệp tư nhân
1.1.2.1. Doanh nghiệp tư nhân - quy luật phát triển tất yếu của kinh tế hộ gia
đình ở Việt Nam
Giai đoạn 1986-1990 khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam chủ yếu mới xuất
hiện dưới hình thức kinh tế hộ gia đình và còn chịu nhiều ràng buộc. Các hộ sản
xuất kinh doanh phi nông nghiệp vẫn chưa được xã hội chấp nhận, vẫn hoạt động
“ngầm” là chủ yếu và chủ hộ vẫn còn bị kỳ thị, coi là “con buôn”.
Sang đến giai đoạn 1991-1999, kinh tế hộ gia đình nhất là hộ công thương
nghiệp kinh doanh cá thể đứng trước đòi hỏi bức thiết về mở rộng quy mô, ngành
nghề sản xuất kinh doanh đồng thời thoát khỏi cảnh hoạt động “ngầm”, muốn được
luật pháp chính thức thừa nhận. Điều này phù hợp với xu thế tất yếu khách quan là
phải giải phóng sức sản xuất.
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VII (1991) đã chính thức coi phát triển
nền kinh tế hàng hóa đa thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng Xã
hội chủ nghĩa là chủ trương trong cả thời kì quá độ lên Xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam.
Chủ trương của Đảng được thể chế hóa thông qua việc ban hành Luật Doanh
nghiệp Tư nhân 1990 và được sửa đổi bổ sung vào năm 1994. Đây là bước ngoặt
quan trọng mở ra một thời kỳ mới cho DNTN. DNTN và sở hữu tư nhân chính thức
được pháp luật công nhận và bảo hộ.
Tuy nhiên, việc phát triển nhanh chóng của kinh tế hộ và đặc biệt của các
DNTN về quy mô và số lượng đã làm bộc lộ nhiều hạn chế của Luật Doanh nghiệp
Tư nhân 1990. Vì vậy, sau nhiều lần soạn thảo, Quốc Hội đã thông qua Luật Doanh
nghiệp mới vào tháng 6/1999.
Từ năm 2000 – 2005: từ sau khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời, kinh tế tư
nhân nói chung và DNTN nói riêng, một lần nữa, tiếp tục khẳng định những đóng
góp và vai trò to lớn của mình đối với sự phát triển của kinh tế đất nước, cùng với
sự kiện Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO), Đảng
và Nhà nước nhận thấy cần có sự bình đẳng hơn đối với tất cả các thành phần kinh
mật tối đa và những ưu điểm như phân tích ở trên, loại hình DNTN vẫn là loại hình
được ưa chuộng. Từ khi loại hình Công ty TNHH một thành viên được ghi nhận,
dường như phần nào ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của các DNTN. Tuy nhiên,
điều đó cũng không thể làm phủ nhận được vị trí và vai trò to lớn của DNTN trong
nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
Ta có thể thấy được điều này qua số liệu thống kê của Tổng cục thống kê
như nêu tại Bảng 01 – Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động phân theo loại hình
(được đính kèm tại Phụ lục của Luận văn) [58]. Nhìn vào Bảng 01 ta thấy số lượng
DNTN được thành lập hàng năm vẫn tăng đều và trong cơ cấu các loại hình doanh
nghiệp được thành lập thì tỷ trọng DNTN lại giảm dần. Có hiện tượng này là do sự
ra đời của Luật Doanh nghiệp 1999, tiếp theo là Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật
Đầu tư năm 2005 đã mở ra cho các nhà đầu tư một khung pháp lý thống nhất, thông
thoáng và cởi mở hơn cho kế hoạch kinh doanh của các nhà đầu tư trong và ngoài
nước. Điều này cũng là nguyên nhân khiến số lượng các doanh nghiệp ở hầu hết các
loại hình doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng.
Thứ hai, loại hình DNTN là phương thức huy động vốn tối đa trong nhân
dân, huy động vốn từ những cá thể đơn lẻ có số lượng vốn nhỏ và vừa vào trong
hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì thế, “góp gió thành bão”, với số lượng DNTN
đông đảo và với một số lượng vốn tương đối lớn, các DNTN đã đóng một vai trò
quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta.
Ta có thể thấy được điều này qua số liệu thống kê của Tổng cục thống kê
như nêu tại Bảng 02 – Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm của doanh
nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp (được đính kèm tại Phụ lục của Luận văn)
[58].
Thứ ba, các DNTN đã góp phần giải quyết một số lượng lớn việc làm cho
dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo. Ta có
thể thấy được điều này qua số liệu thống kê của Tổng cục thống kê như nêu tại
Bảng 03 – Tổng số lao động trong các doanh nghiệp phân theo loại hình (được đính
Để có một cái nhìn tổng quan về DNTN, tác giả Luận văn nghiên cứu sơ
lược các cách phân loại doanh nghiệp khác nhau và các đặc trưng pháp lý đi kèm
với từng cách phân loại. Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu các cách tiếp cận và nhìn
nhận loại hình DNTN của các quốc gia khác trong sự đối chiếu so sánh với pháp
luật Việt Nam.
Doanh nghiệp và các tiêu chí phân loại doanh nghiệp
Các nước phương Đông có xu hướng du nhập mô hình doanh nghiệp phương
Tây, cho nên cách phân loại doanh nghiệp hiện nay về cơ bản đều anh hưởng bởi
các tiêu chí phân loại của phương Tây [41, 90]. Có rất nhiều tiêu chí và theo đó
cũng có nhiều cách phân loại khác nhau: (i) theo tiêu chí sở hữu và mục đích hoạt
động, doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp tư và doanh nghiệp công, trong
đó doanh nghiệp công thường có một phần sở hữu nhà nước hoặc do Nhà nước
đóng vai trò chi phối trong chiến lược kinh doanh; (ii) theo tiêu chí quy mô, doanh
nghiệp được chia thành doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp lớn; (iii) căn cứ
vào sự liên kết, doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp độc lập và các tập
đoàn, các nhóm công ty, các tổ hợp, các công ty đa quốc gia; (iv) căn cứ vào đặc
trưng pháp lý, doanh nghiệp được chia thành công ty, hợp danh và cá nhân kinh
doanh, trong đó công ty được chia thành nhiều loại hình doanh nghiệp (công ty cổ
phần, công ty TNHH), hợp danh cũng được chia thành hợp danh hữu hạn, hợp danh
vô hạn, hợp danh hữu hạn theo cổ phần. Thương nhân phương Tây thậm chí còn có
khả năng biến tấu mô hình doanh nghiệp thành nhiều loại hình doanh nghiệp khác
bằng các điều lệ thành lập công ty.
Khác với các nước phương Đông, các nước theo hệ thống luật Châu Âu - Lục
Địa thường phân loại công ty thành công ty đối vốn và công ty đối nhân. Công ty
đối nhân bao gồm các công ty dân luật, hợp danh, hợp danh hữu hạn, hợp danh cổ
phần theo thương luật. Công ty đối vốn bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn và
công ty cổ phần [44, 1].
Truyền thống này của họ pháp luật Châu Âu - Lục Địa đã được du nhập vào