Pháp luật việt nam về hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ THỊ HƯỜNG

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 60 38 50

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ HUY CƯƠNG

Hà nội – 2011


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................1
CHƯƠNG 1..............................................................4
KHÁI LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
..............................................................................4
1.1Tổng quan về Doanh nghiệp tư nhân...................4
1.1.1Lịch sử phát triển của Doanh nghiệp tư nhân....4
1.1.2Vai trò và ý nghĩa của Doanh nghiệp tư nhân....4
1.1.3Khái niệm Doanh nghiệp tư nhân.....................5
1.1.4Đặc trưng pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân. . .5
1.2Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân...........6

đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân và các chế tài14
CHƯƠNG 3............................................................16
ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
............................................................................16
3.1Những định hướng cơ bản.................................16
3.1.1Chỉnh sửa và xây dựng những quy phạm pháp luật có
tính chặt chẽ và phù hợp trên cơ sở rà soát và nghiên cứu
thực trạng mua bán Doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam.....16
3.1.2Đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống các văn bản pháp
luật......................................................................16
3.1.3Đảm bảo sự quản lý, điều phối của cơ quan quản lý nhà
nước.....................................................................17
3.2Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về
Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân..............18
3.2.1Về cách tiếp cận doanh nghiệp tư nhân..........18
3.2.2Về hình thức của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư
nhân....................................................................18
3.2.3Về đối tượng của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư
nhân....................................................................19
3.2.4Về chủ thể của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư
nhân....................................................................19


3.2.5Về nội dung cơ bản của Hợp đồng mua bán Doanh
nghiệp tư nhân.....................................................20
3.2.6Về vấn đề lao động trong Hợp đồng mua bán Doanh
nghiệp tư nhân.....................................................21
3.2.7Về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán Doanh nghiệp
tư nhân và các chế tài...........................................21

hoạt động mua bán doanh nghiệp.... hoặc dừng lại ở việc nghiên cứu những đặc
trưng pháp lý của DNTN mà chưa đi vào phân tích cụ thể những vấn đề pháp lý
liên quan đến hợp đồng mua bán DNTN. Do vậy, có thể nói hiện nay chưa có
một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc đầy đủ chi tiết về hợp đồng mua
bán DNTN theo pháp luật Việt Nam.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
1


Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn là: (i) Thứ nhất, nghiên
cứu đặc trưng pháp lý của loại hình DNTN và những vấn đề lý luận về hợp đồng
mua bán DNTN; (ii) Nghiên cứu, phân tích những quy định pháp luật hiện hành
về hợp đồng mua bán DNTN; (iii) Đánh giá, bình luận về những ưu điểm, hạn
chế của quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán DNTN; (iv) Đưa ra
những kiến nghị cụ thể góp phần khắc phục những hạn chế, thiếu sót và hoàn
thiện hành lang pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán doanh nghiệp nói
chung và mua bán doanh nghiệp tư nhân nói riêng.
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Luận văn tiến hành nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về
việc mua bán DNTN (có sự đối chiếu, so sánh với một số quy định của pháp luật
Việt Nam từ năm 1990 trở lại đây). Ngoài ra, DNTN được đề cập tại Luận văn
chính là DNTN theo nghĩa hẹp, tức một loại hình doanh nghiệp được quy định
tại Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm
2005 (“Luật Doanh nghiệp 2005”), là DNTN do một cá nhân làm chủ và chịu
trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình. Luận văn không nghiên cứu
DNTN theo nghĩa rộng, tức không nghiên cứu toàn bộ các loại hình doanh
nghiệp có nguồn vốn đầu tư từ tư nhân.
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình hoàn thiện Luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp

phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán DNTN
nói riêng và mua bán doanh nghiệp nói chung cũng như góp phần cung cấp
những nền tảng pháp lý cho các chủ thể khi tìm hiểu hay tham gia vào hoạt động
mua bán DNTN tại Việt Nam.
8 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Mục
lục, Luận văn chia ra thành 3 chương như sau: Chương 1: Khái luận về Hợp
đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân; Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam
về Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân; Chương 3: Định hướng và các
kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư
nhân.

3


CHƯƠNG 1
KHÁI LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
1.1 Tổng quan về Doanh nghiệp tư nhân
1.1.1 Lịch sử phát triển của Doanh nghiệp tư nhân
Tháng 5/1999, Luật Doanh nghiệp ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2000. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 1999 là bước đợt phá cả về tư duy
lẫn kỹ năng quản lý đối với khối kinh tế tư nhân. Do yêu cầu của kinh tế thị
trường, hội nhập kinh tế quốc tế nên các doanh nghiệp tư nhân của nước ta đã
gia tăng nhanh chóng. Cho đến nay, với cơ chế mở cửa, chính sách hội nhập
quốc tế và sự phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp cho thương nhân lựa
chọn, loại hình DNTN dù không tiếp tục phát triển rầm rộ như những năm trước,
nhưng xu hướng mua bán DNTN vẫn tồn tại phát triển. Do đó, cùng với quá
trình này, việc bổ sung, sửa đổi và ban hành các quy định mới về doanh nghiệp
tư nhân cũng được dần hoàn chỉnh.
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của Doanh nghiệp tư nhân

với từng cách phân loại. Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu các cách tiếp cận và
nhìn nhận loại hình DNTN của các quốc gia khác trong sự đối chiếu so sánh với
pháp luật Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu sơ lược về các cách phân loại doanh nghiệp cho thấy
hầu hết các họ pháp luật và hệ thống pháp luật của các nước, một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp, đều ghi nhận sự tồn tại của loại hình kinh doanh cá thể tức loại
hình kinh doanh do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
sản của mình về hoạt động kinh doanh của cá nhân đó. Nói cách khác, đó cũng
chính là DNTN theo quan điểm của pháp luật Việt Nam, pháp luật Trung Quốc
và một số quốc gia theo hệ pháp luật Châu Âu – Lục Địa.
Từ đó, một cách khái quát nhất, có thể định nghĩa DNTN là một thực thể
kinh doanh không có tư cách pháp nhân do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về toàn bộ hoạt động của DNTN (trách
nhiệm vô hạn).
1.1.4 Đặc trưng pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân
Thứ nhất, DNTN là một thực thể kinh doanh có tư cách chủ thể pháp lý
độc lập nhưng không có tư cách pháp nhân.
Thứ hai, DNTN do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ.
Thứ ba, chủ DNTN chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi
hoạt động của DNTN (trách nhiệm vô hạn)
Thứ tư, về nghĩa vụ thuế của DNTN, pháp luật Việt Nam coi DNTN là một
loại hình doanh nghiệp, thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho
5


nên chủ DNTN không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Trong khi đó, trên cơ sở
quan điểm coi DNTN như một thể nhân kinh doanh (một thương gia độc lập),
cho nên pháp luật các nước (Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, Đức… hay thậm chí là
Singapore) quy định DNTN là đối tượng của thuế thu nhập cá nhân. Theo đó,
DNTN không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, chỉ người chủ DNTN phải

thì chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Với những vấn đề liên quan đến
đăng ký doanh nghiệp, chuyển đổi địa vị pháp lý của chủ doanh nghiệp, quyền
và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp…thì chịu sự điều chỉnh của pháp Luật Doanh
nghiệp. Với những vấn đề riêng trong hợp đồng (lao động, tài chính, chuyển giao
đất đai, tài sản trí tuệ, tài sản có đăng ký quyền sở hữu…) thì chịu sự điều chỉnh
của pháp luật chuyên ngành (pháp luật lao động, pháp luật đất đai, pháp luật tài
chính…).
1.2.3 Hình thức của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân
Hình thức của hợp đồng mua bán DNTN, theo nguyên tắc chung nhất, có
thể lập bằng ngôn từ (bằng miệng), bằng hành vi cụ thể nhưng do bản chất của
hợp đồng mua bán DNTN là một hợp đồng phức hợp, chứa đựng nhiều loại tài
sản khác nhau (bao gồm cả những tài sản đặc thù như đất đai, tài sản trí tuệ, các
loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu khác) nên hợp đồng mua bán DNTN trên
thực tế vẫn được các bên lựa chọn lập dưới hình thức văn bản. Hơn nữa, tùy vào
quy định của mỗi hệ thống pháp luật, hợp đồng mua bán DNTN chứa đựng các
tài sản đặc thù còn phải được công chứng công theo quy định của pháp luật hoặc
nếu pháp luật không có yêu cầu phải công chứng công thì các bên có thể lựa
chọn tư chứng thư hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
1.2.4 Đối tượng của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân
Đối tượng của hợp đồng mua bán DNTN chính là phần tài sản có của
DNTN, khối tài sản nợ tính đến thời điểm chuyển nhượng DNTN không đương
nhiên được chuyển giao sang cho bên mua, ngược lại bên bán vẫn phải chịu
trách nhiệm đối với phần tài sản nợ đó. Tuy nhiên, với quy định này, các bên rất
khó chấp nhận và khó triển khai trên thực tế. Vì vậy, giải pháp pháp lý đưa ra là
các bên và chủ nợ có thể thỏa thuận ba bên về việc chuyển giao khoản nợ
và/hoặc nghĩa vụ từ bên bán sang cho bên mua.
Nói cách khác, với quy định về việc tài sản nợ không đương nhiên chuyển
giao từ bên bán sang bên mua và bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm về phần tài
sản nợ chỉ là cơ sở để các bên đàm phán giá trị chuyển nhượng, là nền tảng để
đánh giá giá trị của DNTN, là nền tảng để các bên có ý thức trong việc chuyển

kinh doanh thông qua DNTN đó nên điều kiện để một chủ thể tham gia vào quan
hệ mua DNTN phải đáp ứng các điểu kiện (i) bên mua phải là cá nhân không
thuộc các đối tượng bị cấm quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp; (ii) phải đáp
ứng các điều kiện chung khi ký hợp đồng như phải có đủ năng lực pháp luật,
năng lực hành vi dân sự đầy đủ; và (iii) hiện không phải là chủ của một DNTN
khác vì theo pháp luật Việt Nam thì mỗi cá nhân chỉ có thể thành lập một
DNTN.
8


1.2.6 Nội dung cơ bản của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân
Hợp đồng là sự tự do ý chí của các bên. Về nguyên tắc, pháp luật không
ràng buộc hay hạn chế thỏa thuận của các bên (trừ khi có lý do xác đáng như để
bảo vệ quyền và lợi ích của người thứ ba, bảo hộ quan hệ hợp đồng và theo đó
đảm bảo trật tự công cộng, đạo đức xã hội). Với hệ thống pháp luật của Pháp,
nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán cơ sở kinh doanh là một trong những
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (bên cạnh các điều kiện về chủ thể, về hình
thức của hợp đồng).
Tóm lại, tùy vào hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, nội dung cơ bản của
Hợp đồng mua bán DNTN cũng có thể trở thành một trong những điều kiện có
hiệu lực của Hợp đồng (bên cạnh các điều kiện về hình thức hợp đồng, về chủ
thể của hợp đồng).
1.2.7 Vi phạm Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân và các chế tài
Vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán DNTN, cũng không nằm ngoài lý
luận về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nói chung, được hiểu là hành vi có lỗi của
một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các điều
khoản trong hợp đồng mua bán DNTN và các chế tài có thể được áp dụng khi có
hành vi vi phạm hợp đồng mua bán DNTN bao gồm: (i) Buộc thực hiện đúng
nghĩa vụ hợp đồng; (ii) Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại; (iii) Đơn phương
chấm dứt hợp đồng; (iv) Đình chỉ thực hiện hợp đồng; (v) Hủy bỏ hợp đồng; và

Pháp luật Việt Nam hiện hành không quy định cụ thể về hình thức của hợp
đồng mua bán DNTN, nhưng xuất phát từ các các quy định gián tiếp của pháp
luật và đặc trưng về đối tượng của hợp đồng mua bán DNTN, hình thức của hợp
đồng mua bán DNTN cần tuân thủ các quy định sau đây:
Hợp đồng mua bán DNTN được xác lập bằng văn bản: Luật Doanh nghiệp
2005 quy định người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại theo quy
định của pháp luật (Khoản 4, Điều 145) và hợp đồng mua bán DNTN là một văn
bản cần thiết để hoàn tất hồ sơ đăng ký kinh doanh lại doanh nghiệp.
Hợp đồng mua bán DNTN được công chứng, chứng thực theo quy định
của pháp luật: Bộ luật Dân sự quy định hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập
thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác (Điều 450). Như vậy, hợp đồng mua bán DNTN mà có đối tượng là
nhà ở, bất động sản thì ngoài việc lập thành văn bản còn phải tuân thủ quy định
về công chứng, chứng thực hợp đồng.

10


2.3 Thực trạng pháp luật Việt Nam về đối tượng của Hợp đồng mua
bán Doanh nghiệp tư nhân
Để hiểu rõ hơn đối tượng của Hợp đồng mua bán DNTN, có thể xem xét
đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản thông thường. Theo Điều 429, Bộ luật
dân sự 2005, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản thông thường chính là các
tài sản được phép giao dịch, nếu tài sản là vật thì vật phải được xác định rõ,
trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là quyền tài sản thì phải có
giấy tờ hoặc các bằng chứng khác chứng minh quyền đó thuộc sở hữu của bên
bán. “Tài sản được phép giao dịch”, theo Điều 163, Bộ luật Dân sự 2005, được
tiếp cận theo hướng liệt kê các loại tài sản. Điều 174, Bộ luật Dân sự 2005 lại
tiếp cận khái niệm tài sản theo hướng phân loại tài sản thành bất động sản và
động sản.

cho việc định giá tài sản vừa thuận lợi cho quá trình các bên thực hiện hợp đồng,
đặc biệt là những tài sản cần có yêu cầu xác nhận sở hữu từ phía cơ quan nhà
nước có thẩm quyền hoặc những tài sản nợ (nghĩa vụ về tài sản) của chủ sở hữu
DNTN phát sinh trong quá trình kinh doanh, mà các bên có thỏa thuận chuyển
giao. Đối với các khoản nợ, nếu muốn chuyển giao cần có sự thỏa thuận của bên
mua, bên bán và chủ nợ, chủ nợ đồng ý thì mới có thể chuyển giao. Trường hợp
các bên bán muốn chuyển giao trái quyền như quyền đòi nợ (quyền yêu cầu con
nợ trả tiền vay) cho bên mua thì không nhất thiết phải cần có sự đồng ý của con
nợ trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác; bên
chuyển giao quyền yêu cầu phải thông báo cho bên có nghĩa vụ biết bằng văn
bản về việc chuyển giao quyền yêu cầu. Nếu tài sản chuyển giao bao gồm cả
quyền sử dụng đất thì cần chú ý trình tự, thủ tục chuyển nhượng theo pháp luật
đất đai để chủ thể mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.
Đối với tài sản chuyển giao là quyền sở hữu trí tuệ thì cần chú ý trình tự, thủ tục
chuyển nhượng riêng của pháp luật sở hữu trí tuệ để bên mua được công nhận là
chủ sở hữu mới của văn bằng bảo hộ. Về thủ tục chuyển giao DNTN, trước khi
chuyển giao, chủ DNTN phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh
doanh và người mua mới thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh lại cho DNTN
dưới tên của chủ sở hữu mới.
2.4 Thực trạng pháp luật Việt Nam về chủ thể của Hợp đồng mua
bán Doanh nghiệp tư nhân
Chủ thể chính tham gia vào hợp đồng mua bán DNTN là bên mua và bên
bán. Theo quy định của pháp luật hiện hành, Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền
bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp của mình vào doanh nghiệp khác. Tuy nhiên,
pháp luật lại không có quy định cụ thể để xác định chủ doanh nghiệp tư nhân.
12


Căn cứ vào thủ tục thành lập doanh nghiệp thực tế, có thể thấy thông tin
của người chủ DNTN được ghi nhận ngay tại Giấy chứng nhận đăng ký kinh



2.5 Thực trạng pháp luật Việt Nam về nội dung cơ bản của Hợp
đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân
Pháp luật Việt Nam không có các quy định trực tiếp về các nội dung cơ
bản của Hợp đồng mua bán DNTN. Bộ luật Dân sự 2005 cũng chỉ quy định về
nội dung của hợp đồng dân sự nói chung (Điều 402).
Căn cứ vào thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành, có thể hiểu nội dung
cơ bản của hợp đồng không phải là yêu cầu bắt buộc để xác định hợp đồng có
hiệu lực hay không. Tuy nhiên, trên thực tế, một hợp đồng chỉ có thể có hiệu lực
thi hành nếu hợp đồng đó đạt được những thỏa thuận cơ bản nhất, cốt lõi nhất
của giao dịch, những vấn đề khác không được thỏa thuận tại hợp đồng thì có thể
áp dụng theo quy định của pháp luật hoặc áp dụng tương tự theo thông lệ, án lệ.
Nói cách khác, hợp đồng sẽ không thể có hiệu lực ràng buộc các bên nếu hợp
đồng không thỏa thuận về những vấn đề cơ bản, cốt lõi mà nếu thiếu các thỏa
thuận này các bên cũng không thể áp dụng theo quy định của pháp luật hay áp
dụng tương tự theo thông lệ, án lệ. Việc không quy định những nội dung cốt yếu
của Hợp đồng mua bán DNTN là một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng là một trong những bất cập của pháp luật Việt Nam, chưa đáp ứng được đời
sống giao dịch thực tiễn.
2.6 Thực trạng pháp luật Việt Nam về vi phạm nghĩa vụ Hợp đồng
mua bán Doanh nghiệp tư nhân và các chế tài
2.6.1 Vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Pháp luật Việt Nam không có các quy định trực tiếp về các trường hợp
được coi là vi phạm hợp đồng mua bán DNTN. Do đó, việc xác định hành vi vi
phạm nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán DNTN được căn cứ vào các quy định về
vi phạm hợp đồng và vi phạm nghĩa vụ dân sự nói chung.
Vi phạm hợp đồng, theo Luật Thương mại 2005, là việc một bên không
thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả
thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật Thương mại 2005 (Khoản 12,

Trong phạm vi Luận văn, tác giả không đi sâu phân tích thực trạng pháp
luật về tất cả các chế tài mà chỉ tập trung vào một số chế tài điển hình như phạt
vi phạm, bồi thường thiệt hại, đơn phương chấm dứt hợp đồng, vô hiệu hợp
đồng. Ngoài ra, tác giả tập trung phân tích các quy định về miễn trừ trách nhiệm
khi có vi phạm hợp đồng.

15


CHƯƠNG 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
3.1 Những định hướng cơ bản
3.1.1 Chỉnh sửa và xây dựng những quy phạm pháp luật có tính chặt
chẽ và phù hợp trên cơ sở rà soát và nghiên cứu thực trạng mua bán Doanh
nghiệp tư nhân tại Việt Nam
Cần thiết phải sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật mới nhằm hoàn
thiện chế định giao dịch mua bán doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng,
những quy định của pháp luật hạn chế quyền lợi của các nhà đầu tư. Song song
với đó là việc ban hành những văn bản hướng dẫn cụ thể vấn đề này cho các
doanh nghiệp, các nhà đầu tư như điều kiện giao dịch, các thủ tục hành chính
kèm theo. Việc xây dựng các văn bản pháp luật về mua bán doanh nghiệp nói
chung và mua bán DNTN nói riêng cần phải quan tâm đến việc bảo đảm quyền
và lợi ích của các bên cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia
quan hệ hợp đồng.
Bên cạnh đó pháp luật cần có những quy định cụ thể hơn về mặt bản chất
của giao dịch này như thế nào là mua bán doanh nghiệp nói chung và mua bán
DNTN nói riêng, những nội dung chính yếu của hợp đồng mua bán DNTN. Nhờ
đó, các bên sẽ bớt lúng túng, ngần ngại khi tham gia giao dịch và hiểu được bản
chất của hoạt động mình đang tham gia. Hoàn thiện pháp luật về vấn đề này cần

sự điều chỉnh đối với hoạt động mua bán doanh nghiệp nói chung và mua bán
DNTN nói riêng.
3.1.3 Đảm bảo sự quản lý, điều phối của cơ quan quản lý nhà nước
Tăng cường sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước sẽ giúp các giao dịch
được thực hiện đúng pháp luật, minh bạch, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên. Theo đó, ngoài việc chỉnh sửa các quy định bất cập hiện hành, ban
hành bổ sung khung pháp lý còn thiếu, cần xây dựng cơ chế quản lý và kiểm
soát của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động mua bán doanh nghiệp nói
chung và hoạt động mua bán DNTN nói riêng, nhất là sự quản lý của cơ quan
quản lý cạnh tranh. Với sự tham gia quản lý sát sao, cơ quan quản lý nhà nước sẽ
có được những số liệu sát sao về các giao dịch thành công, không thành công,
nguyên nhân, hạn chế…Dựa trên những số liệu thống kê đó, cơ quan nhà nước
sẽ có một cái nhìn tổng hợp cũng như kinh nghiệm toàn diện về hoạt động mua
bán doanh nghiệp nói chung và mua bán DNTN nói riêng tại Việt Nam. Điều
này có ý nghĩa vô cùng to lớn trong quá trình hoàn thiện khung pháp luật về lĩnh
vực này.
17


3.2 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về Hợp đồng
mua bán Doanh nghiệp tư nhân
3.2.1 Về cách tiếp cận doanh nghiệp tư nhân
Pháp luật Việt Nam đang tiếp cận DNTN theo hướng coi DNTN là một
loại hình doanh nghiệp, chịu sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp và là đối
tượng của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong khi đó, DNTN lại không
có tư cách pháp nhân, chủ DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài
sản của chủ DNTN. Điều này phần nào không đúng với bản chất pháp lý của
một doanh nghiệp và phần nào vô hình tạo thành rào cản, hạn chế sự phát triển
của DNTN. Trên thực tế, số lượng DNTN ngày càng giảm mạnh và dường như
loại hình DNTN không phải là một loại hình doanh nghiệp được các cá nhân ưu

nhất về cách phân loại tài sản, có quan điểm cho rằng pháp luật Việt Nam (cụ thể
là Bộ luật Dân sự 2005) đang phân vân giữa nhiều cách phân loại tài sản.
Do đó, hoặc là (i) các nhà làm luật cần tìm được một quan điểm thống nhất
về nguyên tắc phân loại tài sản cho toàn bộ hệ thống pháp luật và trên cơ sở đó,
xây dựng các quy định pháp lý đi kèm cho phù hợp với từng loại tài sản; hoặc là
(ii) với mỗi chế định pháp luật, các nhà làm luật có thể đi theo một cách phân
loại riêng và xây dựng các quy định pháp luật đi kèm cho phù hợp. Ví dụ: với
quy định về định giá tài sản, có thể phân loại tài sản tài sản hữu hình, tài sản vô
hình; với quy định về nghĩa vụ tài sản, có thể phân loại tài sản thành có và tài
sản nợ….
Ngoài ra, pháp luật cần có những quy định cụ thể và thống nhất về trình tự,
thủ tục chuyển giao từng loại tài sản đặc thù trong DNTN, các quy định cụ thể
về nguyên tắc định giá tài sản.
3.2.4 Về chủ thể của Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân
Điều 145 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định chủ sở hữu DNTN có quyền
bán doanh nghiệp của mình, theo đó trong quan hệ mua bán DNTN đã xác định
rõ bên bán là chủ sở hữu DNTN, nhưng pháp luật chưa có quy định rõ ràng về
bên mua trong quan hệ mua bán DNTN. Cần có quy định pháp luật hướng dẫn
cách xác định chủ thể mua và chủ thể bán trong giao dịch mua bán DNTN trong
đó nhấn mạnh trường hợp những chủ thể không thể trở thành thương nhân thì
cũng không được tham gia giao dịch mua bán DNTN, tránh trường hợp bị cấm
quyền kinh doanh, nhưng không bị cấm quyền mua lại doanh nghiệp nên sau khi
mua lại, tiếp tục đem bán sản nghiệp thương mại vì mục đích lợi nhuận.
Đồng thời cần thống nhất việc xác định chủ thể mua lại DNTN theo Luật
Doanh nghiệp và luật cạnh tranh. Luật cạnh tranh cho rằng bên mua lại doanh

19


nghiệp là doanh nghiệp, như vậy hạn chế quyền mua lại doanh nghiệp của các cá


20


yếu đó, hợp đồng mua bán DNTN có thể bị tuyên vô hiệu một phần hoặc vô hiệu
toàn bộ, tùy trường hợp cụ thể.
3.2.6 Về vấn đề lao động trong Hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư
nhân
Hợp đồng mua bán DNTN có hiệu lực, làm phát sinh những hậu quả pháp
lý nhất định đối với các bên trong đó có việc thực hiện nghĩa vụ đối với người
lao động. Điều 145, Luật Doanh nghiệp 2005 có quy định bên bán và bên mua
doanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật lao động. Luật lao động nhấn mạnh, người
sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm “tiếp tục” thực hiện hợp đồng lao
động với người lao động, chịu trách nhiệm trả lương và các quyền lợi khác cho
người lao động. Pháp luật doanh nghiệp cần có quy định rõ về việc bên bán và
bên mua cần thỏa thuận về phương án sử dụng lao động khả thi và việc tiếp nhận
hay không những nghĩa vụ đối với người lao động mà bên bán chưa thực hiện,
còn phương án sử dụng lao động như thế nào, nghĩa vụ của bên mua sau khi trở
thành người lao động kế tiếp như thế nào, sẽ do pháp luật lao động quy định,
tránh quy định chung chung là “tuân thủ các quy định của pháp luật về lao
động”.
3.2.7 Về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán Doanh nghiệp tư nhân và
các chế tài
Về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, nên tham khảo án lệ của Pháp
để xây dựng quy định pháp lý liên quan đến nguyên tắc xác định các trường hợp
điều khoản miễn trách nhiệm theo thỏa thuận được chấp nhận, những trường hợp
cơ quan tài phán có quyền can thiệp để hạn chế, giới hạn mức độ của điều khoản
miễn trách nhiệm, những trường hợp mà thỏa thuận về điều khoản miễn trách
nhiệm bị coi là vô hiệu.
Về chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, cần thống nhất quy định


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status