Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG PHÚC

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS TRẦN NGỌC DŨNG

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trường Đại
học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật
Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
chương trình sau đại học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến giảng
viên – PGS. TS. Trần Ngọc Dũng, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn động
viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.

CHƯƠNG 1

6

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm và các hình thức mua bán doanh nghiệp ở Việt

6

Nam.
1.1.1. Khái niệm mua bán doanh nghiệp

6

1.1.2. Đặc điểm pháp lý của mua bán doanh nghiệp

10

1.1.3. Các hình thức mua bán doanh nghiệp

12

1.2. Khái quát về hợp đồng mua bán doanh nghiệp

15

1.2.1. Khái niệm hợp đồng mua bán doanh nghiệp

15


2.1.1. Bên bán doanh nghiệp

30

2.1.2. Bên mua doanh nghiệp

32

2.2. Đối tượng của hợp đồng mua bán doanh nghiệp

37

2.3. Hình thức của hợp đồng mua bán doanh nghiệp

39

2.4. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua

41

bán doanh nghiệp


2.4.1. Quyền và nghĩa vụ của bên bán doanh nghiệp

41

2.4.2. Quyền và nghĩa vụ của bên mua doanh nghiệp



PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
3.1. Tình hình hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam và sự cần thiết

54

phải xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán doanh
nghiệp.
3.2. Các nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán doanh

59

nghiệp.
3.3. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán doanh

61

nghiệp.
3.3.1. Xây dựng quan niệm thống nhất về mua bán doanh nghiệp

62

3.3.2. Xây dựng, ban hành văn bản pháp luật riêng về mua bán doanh

62

nghiệp để điều chỉnh mối quan hệ trong hợp đồng mua bán
doanh nghiệp.
3.4. Các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng

động. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong nước chưa có nhiều thông tin, hiểu
biết về các điều kiện, thủ tục sáp nhập, mua lại doanh nghiệp; khuôn khổ pháp
lý cho hoạt động này tại Việt Nam cũng chưa được quy định cụ thể… Bởi vậy,
hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam chưa thật sự hiệu quả. Hợp đồng
mua bán doanh nghiệp do vậy sẽ mang tính rủi ro cao. Bên cạnh đó, pháp luật
của Việt Nam về hợp đồng mua bán doanh nghiệp còn rất sơ khai, một số quy
định bộc lộ sự mâu thuẫn và không thống nhất. Có thế nhận thấy rằng pháp
luật của Việt Nam về vấn đề này chưa bắt kịp được với sự phát triển của hoạt
động mua bán doanh nghiệp đang diễn ra trong thực tế.
Từ những cơ sở trên có thể thấy hoạt động mua bán, sáp nhập doanh
nghiệp đóng vai trò tích cực trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Tuy
nhiên, khung pháp lý về vấn đề này và những quy định riêng về hợp đồng mua
bán doanh nghiệp lại chưa hoàn thiện, gây rất nhiều khó khăn cho các doanh
nghiệp. Chính từ sự cấp thiết này, em xin mạnh dạn chọn vấn đề: “Một số vấn


2

đề pháp lý về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam” để làm đề tài
luận văn tốt nghiệp cao học luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
M&A là hoạt động còn khá mới mẻ đối với các nhà đầu tư Việt Nam.
Hoạt động này chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp cả trên phương diện kinh tế
lẫn pháp lý. Trên thế giới, thuật ngữ M&A - Mergers and Acquisitions (sáp
nhập và mua lại) - thường được viết và đọc kèm với nhau. Vì vậy rất ít có công
trình nghiên cứu tách rời từng hoạt động mua bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp
mà đa số các công trình khoa học đều nghiên cứu về cả hai hoạt động này.
Cũng chính vì vậy, việc nghiên cứu riêng khía cạnh hợp đồng mua bán doanh
nghiệp càng ít được đặt ra.
Acquisitions được dịch là mua bán hoặc mua lại doanh nghiệp. Tên gọi

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động mua bán doanh nghiệp,
pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp: quan niệm, đặc trưng pháp lý
của hợp đồng mua bán doanh nghiệp;
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá những quy định pháp luật hiện hành
về hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Luận văn chỉ ra những tồn tại, những
khoảng trống pháp lý về chủ thể của hợp đồng mua bán doanh nghiệp, việc
thực hiện loại hợp đồng này và cách thức kiểm soát việc mua bán doanh
nghiệp ở Việt Nam;
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện
hệ thống pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán doanh nghiệp
nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp luôn là cụm từ song hành với nhau,
nhưng giữa chúng lại tồn tại hai khái niệm khác nhau (mua bán doanh nghiệp
và sáp nhập doanh nghiệp), đồng thời cách thức tiến hành việc kết hợp hai
doanh nghiệp theo một trong hai hình thức này cũng không giống nhau. Việc
nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng của hai hình thức này
sẽ có nhiều vấn đề cần được đề cập. Do vậy, với dung lượng của một luận văn
thạc sĩ, tác giả không đi sâu nghiên cứu hết các vấn đề trong hoạt động M&A
và pháp luật về hợp đồng của hai hình thức này mà chỉ tập trung nghiên cứu


4

các vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam. Luận văn
cũng chỉ chủ yếu phân tích về hợp đồng mua bán doanh nghiệp, chứ không đi
sâu vào tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động mua bán doanh nghiệp nói
chung. Trên cơ sở đó, kết hợp với thực tiễn những tồn tại từ hoạt động kinh
doanh, tác giả luận văn đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm xây
dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam.

- Đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán doanh nghiệp dựa trên sự phân
tích các đặc trưng pháp lý cơ bản của hợp đồng này;
- Nêu và phân tích thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán doanh
nghiệp tại Việt Nam;
- Đưa ra các kiến nghị nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật
về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở
Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở
Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam.


6

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1.1. Khái niệm, đặc điểm và các hình thức mua bán doanh nghiệp ở
Việt Nam.
1.1.1. Khái niệm mua bán doanh nghiệp
Mua bán doanh nghiệp là một thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam, đặc
biệt là khi thị trường chứng khoán có những bước phát triển nhanh chóng.
Thuật ngữ này bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh “Mergers and Acquisitions
(Sáp nhập và Mua lại)” được viết tắt là M&A. Mặc dù hoạt động M&A ở Việt

doanh nghiệp mua lại. Doanh nghiệp bị mua lại có thể sẽ chấm dứt sự tồn tại
của mình theo quyết định của doanh nghiệp mua lại hoặc tiếp tục hoạt động
trong mô hình doanh nghiệp mẹ - con. Trên thực tế, cách hiểu về khái niệm
mua bán doanh nghiệp trong pháp luật của Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn từ
thuật ngữ Acquisition này.
Mặc dù vậy, trong các văn bản pháp luật của Việt Nam, khái niệm mua
bán doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa hẹp hơn. Hoạt động mua bán doanh
nghiệp ở Việt Nam được quy định rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật
khác nhau và hiện chưa có một khung pháp luật hoàn chỉnh và thống nhất điều
chỉnh lĩnh vực này. Các giao dịch này, tùy từng trường hợp cụ thể, có thể liên
quan và chịu sự điều chỉnh của một số quy định như quy định về bán doanh
nghiệp tư nhân trong Luật Doanh nghiệp (2014) (Điều 187); quy định về mua
lại doanh nghiệp trong Luật Cạnh tranh (2004) (Điều 17), quy định về bán
doanh nghiệp nhà nước trong Nghị định số 128/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12
năm 2014 về bán, giao và chuyển giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Luật
Đầu tư (2005) cũng phân biệt hai hình thức đầu tư góp vốn thành lập tổ chức
kinh tế và đầu tư sáp nhập, mua lại doanh nghiệp nhưng không định nghĩa
“mua bán doanh nghiệp” là gì. Tuy nhiên, Luật Đầu tư (2014) (có hiệu lực từ
ngày 1/7/2015) thì lại không thấy nhắc đến việc sáp nhập, mua lại doanh
nghiệp, hay nói cách khác, Luật Đầu tư (2014) không coi sáp nhập, mua lại


8

doanh nghiệp là một hình thức đầu tư. Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp (2014)
cũng có những quy định gần gũi với hoạt động mua bán doanh nghiệp như các
quy định về vấn đề chuyển nhượng cổ phần, vốn góp của thành viên; vấn đề
chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho tổ chức, cá nhân khác;
vấn đề bán tài sản có giá trị lớn của doanh nghiệp… Cụ thể, một số quy định
về mua bán doanh nghiệp được quy định trong pháp luật của Việt Nam như

thương mại, lợi thế kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa, hệ thống nhân sự, hệ
thống khách hàng…
- Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/2/2010 Quy định việc sáp
nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng thì:
Mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng (sau đây gọi
là tổ chức tín dụng mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi
ích hợp pháp của tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng bị mua lại).
Sau khi mua lại, tổ chức tín dụng trở thành công ty trực thuộc của tổ
chức tín dụng mua lại.
Qua quy định trên, có thể thấy: (i) chủ thể mua và bán là các tổ chức tín
dụng; (ii) hình thức mua bán là mua bán toàn bộ tổ chức tín dụng; (iii) hệ quả
pháp lý của mua lại tổ chức tín dụng là tổ chức tín dụng bị mua lại trở thành
công ty trực thuộc của tổ chức tín dụng mua lại. Như vậy, các chủ thể mua và
bán tổ chức tín dụng không được quyền lựa chọn hình thức mua bán một phần
tổ chức tín dụng mà phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể mua và bán phải là
các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, quy định về mua bán tổ chức tín dụng chỉ là
những ngoại lệ mà không phải phản ánh đầy đủ bản chất của mua bán doanh
nghiệp.
Như vậy, trên thế giới và Việt Nam, khái niệm mua bán doanh nghiệp
có thể được hiểu theo hai nghĩa:
- Theo nghĩa rộng (cách hiểu của pháp luật nhiều nước trên thế giới):
Mua bán doanh nghiệp là hoạt động mua bán toàn bộ hoặc một phần tài sản
của doanh nghiệp hoặc mua cổ phần, vốn góp để nắm quyền chi phối đối với
hoạt động của doanh nghiệp.
- Theo nghĩa hẹp (cách hiểu của pháp luật Việt Nam hiện hành): Mua
bán doanh nghiệp là mua bán toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh


10



11

tài sản đã mua. Mua bán tài sản của doanh nghiệp không làm thay đổi về chủ
sở hữu doanh nghiệp. Do vậy, bên mua tài sản không có quyền quản lý doanh
nghiệp đã bán tài sản và tất nhiên không thể thay đổi hoạt động quản trị hay
chi phối ngành nghề kinh doanh cuả doanh nghiệp đã bán tài sản.
Mua bán doanh nghiệp trước hết cũng là mua bán tài sản (một phần
hoặc toàn bộ doanh nghiệp) đồng thời bên mua cũng phải mua được cả tư cách
pháp lý của doanh nghiệp mục tiêu. Điều đó dẫn đến hệ quả cho phép bên mua
doanh nghiệp có quyền thay đổi hoạt động quản trị, kiểm soát ngành nghề kinh
doanh của doanh nghiệp mục tiêu.
Trường hợp thành viên bán, chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho
người khác thì chỉ chuyển được một phần quyền, nghĩa vụ của họ tại doanh
nghiệp cho bên mua mà không thể chuyển giao tư cách pháp lý của doanh
nghiệp cho bên mua. Bên mua cũng không thể có toàn quyền quyết định hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu, bởi bên mua lúc này cũng chỉ là
một trong những đồng chủ sở hữu của doanh nghiệp. Ngược lại, do đối tượng
mua bán doanh nghiệp là “doanh nghiệp”, một loại hàng hóa đặc biệt, nên bên
bán không chỉ chuyển giao tài sản là doanh nghiệp mục tiêu mà còn chuyển
giao các quyền, nghĩa vụ và tư cách pháp lý cho bên mua. Bên bán sẽ rút lui
khỏi doanh nghiệp hay bộ phận doanh nghiệp đã bán. Trong trường hợp bên
mua mua lại toàn bộ vốn điều lệ của chủ sở hữu doanh nghiệp mục tiêu hoặc
bên mua thâu tóm được số lượng phần vốn góp, cổ phần đủ để chi phối, kiểm
soát được doanh nghiệp mục tiêu do pháp luật doanh nghiệp, các văn bản pháp
luật chuyên ngành và điều lệ doanh nghiệp quy định thì đây cũng được coi là
một hình thức mua bán doanh nghiệp, tuy nhiên, việc mua bán doanh nghiệp ở
trường hợp này được coi là thực hiện một cách gián tiếp thông qua việc thâu
tóm cổ phần, vốn góp. Bởi sau khi hoàn tất thủ tục mua bán cổ phần, trước hết,
bên mua sẽ trở thành một thành viên của doanh nghiệp, sau đó căn cứ theo

kí kết hợp đồng, vì vậy phải có sự đồng ý của bên bán, bên mua mới có thể
tiến hành giao dịch. Bên bán sẽ phải tiến hành thủ tục họp hội đồng thành viên
hoặc hội đồng cổ đông để thông qua quyết định bán doanh nghiệp. Như vậy
hình thức mua bán trực tiếp chỉ áp dụng trong trường hợp bán các loại hình


13

doanh nghiệp một chủ sở hữu như doanh nghiệp nhà nước, công ty TNHH một
thành viên, doanh nghiệp tư nhân hoặc các mô hình doanh nghiệp có ít sự
tham gia của các thành viên.
- Thứ hai, mua bán toàn bộ doanh nghiệp tạo ra một áp lực lớn về tài
chính đối với bên mua. Nhu cầu tài chính tại thời điểm giao dịch là rất lớn đòi
hỏi bên mua phải có năng lực tài chính đầy đủ. Từ đó có thể thấy đối tượng
của việc mua bán trực tiếp toàn bộ doanh nghiệp thường là những doanh
nghiệp có quy mô vốn vừa và nhỏ, nằm trong phạm vi tài chính của bên mua.
Về cơ bản, những doanh nghiệp đại chúng có quy mô lớn ít khi được mua bán
thông qua hình thức này.
Việc mua bán toàn bộ doanh nghiệp được thực hiện thông qua hợp đồng
mua bán doanh nghiệp.
b) Mua bán một phần doanh nghiệp:
Mua bán một phần doanh nghiệp là việc bên mua tiến hành mua lại một
phần tài sản của doanh nghiệp đủ để kiểm soát, chi phối một ngành, nghề của
doanh nghiệp bị mua lại. Về cơ bản, mua bán một phần doanh nghiệp chính là
hình thức mua bán tài sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc mua bán tài sản
này đặc biệt ở chỗ nó dẫn đến hệ quả là bên mua được kiểm soát và chi phối
một ngành, nghề của doanh nghiệp mục tiêu. Như vậy, đối tượng tài sản của
doanh nghiệp bị mua lại trong trường hợp này cũng rất đặc biệt. Những tài sản
được bán phải có sự có sự tách biệt độc lập tương đối. Việc bán tài sản này
không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của những ngành nghề khác.

của mua bán doanh nghiệp. Như đã phân tích ở trên, không phải mọi trường
hợp mua bán chuyển nhượng phần vốn góp, chuyển nhượng cổ phần đều được
coi là mua bán doanh nghiệp. Chỉ đến khi nào bên mua, bên nhận chuyển
nhượng phần vốn góp, cổ phần sở hữu một tỷ lệ nhất định theo quy định của
pháp luật và điều lệ của doanh nghiệp đủ để kiểm soát, chi phối hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp mục tiêu thì khi đó, giao dịch này mới được coi là
một thương vụ mua bán doanh nghiệp (mặc dù không được thể hiện rõ ràng là
hợp đồng mua bán doanh nghiệp).


15

1.2. Khái quát về hợp đồng mua bán doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm hợp đồng mua bán doanh nghiệp
Để thực hiện việc mua bán doanh nghiệp, các bên phải kí với nhau một
hợp đồng, gọi là hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Đối với việc mua bán
doanh nghiệp, việc xác lập hợp đồng được xem là yếu tố rất quan trọng. Đây
sẽ là cơ sở để bên bán, bên mua doanh nghiệp thiết lập các điều khoản để ràng
buộc các cam kết, trách nhiệm pháp lý với nhau và với các cơ quan công
quyền.
Hợp đồng mua bán doanh nghiệp là hình thức pháp lý ghi nhận nội dung
quan hệ mua bán doanh nghiệp, có thể dưới dạng hợp đồng mua bán toàn bộ
doanh nghiệp, hợp đồng mua bán một bộ phận doanh nghiệp hoặc hợp đồng
chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần. Có thể hiểu hợp đồng mua bán doanh
nghiệp là sự thể hiện và ghi nhận những cam kết của các bên đối với giao dịch
mua bán và sáp nhập doanh nghiệp. Nó không chỉ liên quan đến khía cạnh
pháp lý mà là sự phối hợp một cách hài hòa các yếu tố có liên quan đến giao
dịch mua bán và sáp nhập doanh nghiệp khác như tài chính, kinh doanh ... chỉ
khi kết hợp một cách hoàn chỉnh các yếu tố có liên quan thì hợp đồng mua bán
và sáp nhập mới thật sự là công cụ để bảo đảm quyền lợi cho các bên tham gia

sự, hợp đồng mua bán doanh nghiệp cũng có những đặc điểm riêng, cụ thể như
sau:
Thứ nhất, về bản chất, hợp đồng mua bán doanh nghiệp là sự thỏa thuận
giữa bên mua và bên bán về việc chuyển giao quyền sở hữu một phần hoặc
toàn bộ doanh nghiệp. Bản chất của việc mua bán là chuyển quyền sở hữu, vấn
đề đặt ra để phân biệt với các quan hệ mua bán khác đó là ai được quyền mua
bán doanh nghiệp (chủ thể) và đối tượng của việc mua bán có gì khác so với
các loại tài sản khác? Điều này cho phép phân biệt rõ hợp đồng mua bán tài
sản thông thường của doanh nghiệp với hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
Đối với hợp đồng mua bán doanh nghiệp, quyền sở hữu doanh nghiệp sẽ
được chuyển từ tổ chức, cá nhân này sang tổ chức, cá nhân khác. Bên mua lại
doanh nghiệp không chỉ sở hữu đơn thuần tài sản hay cổ phiếu của doanh
nghiệp bên bán mà được sở hữu toàn bộ doanh nghiệp đó, bao gồm quyền sở


17

hữu các tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp bán, đồng thời sở hữu cả
tư cách chủ thể kinh doanh. Khi mua lại doanh nghiệp, bên mua kế thừa một
số quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bán để lại như việc giải quyết các vấn
đề liên quan đến nhân sự, tiếp tục thực hiện các hợp đồng đã kí kết với khách
hàng hoặc được hưởng các quyền ưu đãi về đầu tư do doanh nghiệp cũ để lại…
Với đặc điểm này, hợp đồng mua bán doanh nghiệp có sự khác biệt với
hợp đồng cho thuê doanh nghiệp và hợp đồng sáp nhập doanh nghiệp.
- Phân biệt với hợp đồng cho thuê doanh nghiệp: Ở hợp đồng mua bán
doanh nghiệp, bên mua sẽ được chuyển giao quyền sở hữu toàn bộ hoặc một
phần doanh nghiệp, nghĩa là được quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
(trong phạm vi các quyền, nghĩa vụ được chuyển giao từ bên bán sang bên
mua phù hợp với quy định của pháp luật) các vấn đề liên quan đến doanh
nghiệp do mình mua lại. Sau khi đã thực hiện việc chuyển giao này, bên mua

nhập doanh nghiệp mà còn khác với hợp đồng góp vốn, mua cổ phần. Bởi lẽ,
các hợp đồng loại này không làm trực tiếp thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp.
Chủ sở hữu hiện thời vẫn tiếp tục điều hành, quản lý doanh nghiệp của mình
sau khi hoàn tất những loại hợp đồng nói trên. Trong khi đó, hợp đồng mua
bán doanh nghiệp làm thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp ngay khi hợp đồng có
hiệu lực, điều này thể hiện rõ trong chính nội dung của hợp đồng. Đây chính là
điểm khác nhau cơ bản nhất giữa hợp đồng mua bán doanh nghiệp so với
những hợp đồng khác. Bên cạnh đó, trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp,
giá trị của hợp đồng chính là giá trị của một doanh nghiệp. Giá trị đó bao gồm
các tài sản hữu hình, những giá trị tài sản vô hình, lợi thế kinh doanh, mạng
lưới phân phối… Như vậy, so với các hợp đồng mua bán tài sản của doanh
nghiệp hoặc hợp đồng mua cổ phần thì việc xác định giá trị doanh nghiệp
trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp tương đối phức tạp hơn, vì phải dựa
vào nhiều yếu tố để xác định giá trị, trong khi việc xác định giá trị ở các hợp
đồng mua bán tài sản doanh nghiệp hoặc hợp đồng góp vốn, mua cổ phần đơn
giản và cụ thể hơn nhiều.
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng mua bán doanh nghiệp là doanh
nghiệp. Khi mua bán doanh nghiệp, đối tượng mà các bên hướng đến ở đây là


19

doanh nghiệp. Doanh nghiệp trong trường hợp này loại hàng hóa đặc biệt. Một
tổ chức được coi là doanh nghiệp khi có đủ các điều kiện theo quy định của
pháp luật. Như vậy, để xác định mua bán doanh nghiệp tức là phải mua bán
được các yếu tố của doanh nghiệp đó, bao gồm các tài sản hữu hình và cả các
giá trị tài sản vô hình. Cần phải hiểu “doanh nghiệp” với tư cách là đối tượng
được mua bán ở đây có ý nghĩa là một bộ máy đang vận hành mà người mua
nó có thể tiếp tục sử dụng, khai thác để mang lại lợi nhuận.
Thứ ba, chủ thể của hợp đồng mua bán doanh nghiệp gồm bên bán

khối tài sản tĩnh. Chính vì vậy, trên thực tế, bên mua doanh nghiệp cần cân
nhắc trước khi tiến hành mua lại doanh nghiệp xem mình có thuộc đối tượng
bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp hay không.
Thứ tư, về hình thức, hiện nay chưa có quy định cụ thể về hình thức của
hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Nhưng xuất phát từ tính phức tạp của quan
hệ này, các chủ thể đều sử dụng hình thức hợp đồng bằng văn bản, và trên thực
tế, cũng nên sử dụng hình thức này. Bởi lẽ, không giống như mua bán hàng
hóa, tài sản thông thường, mua bán doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc
chuyển tiền và giao hàng hóa, mà hai bên còn phải giải quyết hàng loạt vấn đề
về “hậu mua, bán doanh nghiệp”. Hình thức kí kết hợp đồng mua bán doanh
nghiệp bằng văn bản sẽ là cơ sở pháp lý rõ ràng để các bên thực hiện các
quyền, nghĩa vụ đối với nhau và là căn cứ pháp lý quan trọng để cơ quan có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp (nếu có) phát sinh từ hợp đồng mua bán
doanh nghiệp.
1.2.3. Phân loại hợp đồng mua bán doanh nghiệp
Có nhiều tiêu chí để phân loại hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Căn cứ
vào các hình thức pháp lý của doanh nghiệp mục tiêu mà hợp đồng mua bán
doanh nghiệp được chia ra thành hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân,
hợp đồng mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, hợp đồng mua bán các
doanh nghiệp thông thường. Việc phân loại này nhằm mục đích xác định được
nhanh chóng các văn bản pháp luật điều chỉnh nội dung đối với từng hợp đồng
trong từng trường hợp. Chẳng hạn như đối với hợp đồng mua bán doanh
nghiệp tư nhân, khoản 3, Điều 187 Luật Doanh nghiệp (2014) quy định:
“Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status