Ấn chương Việt Nam - Đặc điểm bộ ấn kiềm ở phủ
Tôn nhân thời Nguyễn
Phủ Tôn nhân 宗人府 là cơ quan quản lý hoàng tộc
tồn tại từ các vương triều trước nhà Nguyễn. Khi Gia
Long lên ngôi chính thức lập ra phủ Tôn nhân triều
Nguyễn.
Người đứng đầu phủ Tôn nhân do nhà vua trực tiếp
đặt cử, Tôn nhân lệnh là chức cao nhất, được coi
trọng hơn cả đại thần trật nhất phẩm, dưới là chức Tả
và Hữu Tôn nhân hàm chánh nhị phẩm, tiếp đến Tả
và Hữu Tôn khanh lấy một văn một võ hàm tam
phẩm trong tôn thất. Dưới nữa là chức Tả, Hữu Tá lý
đều lấy chức Lang trung ở bộ Lại và bộ Lễ là người
Tôn thất kiêm giữ, các chức Tư giáo, Tộc trưởng,
Thừa biện ty mỗi hệ một người giúp việc ở phủ.
Thời vua Minh Mệnh, Hoàng tử Nguyễn Miên Tông
(Tức vua Thiệu Trị sau này) được vua cha cho đứng
đầu quản lãnh phủ Tôn nhân.
Chức năng của phủ Tôn nhân là phân biệt trật tự hàng
chiêu mục, ghi chép họ hàng ai gần ai xa, nuôi nấng
chu cấp trẻ em mồ côi, thưởng cấp cưới xin ma chay
v.v… trong họ nhà vua. Những dịp lễ, tết hàng năm
Tôn nhân phủ phải thực hiện theo đúng quy định đã
ban hành về nghi thức, nhân sự, trang phục v.v…
việc phụng mệnh biên soạn Ngọc diệp tôn phả và mọi
nghi thức khác trong Hoàng tộc đều do phủ Tôn nhân
đảm nhiệm.
giữ, hoặc ban thêm cho phủ Tôn nhân ấn mới loại
nhỏ để dùng vào công việc khác. Sử cũ ghi: “Năm
Minh Mệnh thứ 17 (1836) dụ chuẩn: Lấy giờ tốt đúc
chế một quả ấn bằng bạc cho Tôn nhân phủ 2 tầng,
núm chạm con kỳ lân, vuông 2 tấc 1 phân, dày 3
phân 6 ly. Một dấu kiềm cũng bằng bạc… khi đúc
xong vẫn giao cho Nội các cất giữ, đợi sau ban cấp sử
dụng”[186]. Hay đời Thiệu Trị năm đầu vua cũng sai
nha Hữu tư theo kiểu mẫu làm cho phủ Tôn nhân một
ấn và kiềm nhỏ bằng ngà để khi đi theo hộ giá tuần
hạnh vài ba ngày trở lên, viên quan của phủ Tôn nhân
mang theo để dùng, khi về lại phong khóa cất một
nơi[187].
Trên các văn bản chữ Hán trong Châu bản triều
Nguyễn chúng tôi thấy xuất hiện rất nhiều hình dấu
lớn Tôn nhân phủ ấn và kiềm nhỏ Tôn nhân trong các
tập sách khác nhau, qua nhiều đời vua thời Nguyễn
khác nhau. Chúng tôi thấy những con dấu này có sự
thay đổi, không phải thay đổi về ngoại hình, hoa văn,
… mà điều đặc biệt ở đây là sự thay đổi hoàn toàn
chữ “Tôn” trong dấu: Hai chữ “Tôn” khác nhau đồng
âm những khác tự dạng. Trong Châu bản triều
Nguyễn, tính từ đời Gia Long đến trước đời Đồng
Khánh, dấu của phủ Tôn nhân có hình vuông, mặt
dấu có kích thước 9x9cm, viền vòng ngoài để cỡ
0,7cm. 4 chữ Triện bên trong xếp vuông góc cỡ
3x3cm, đó là 4 chữ Tôn nhân phủ ấn 宗人府印 (ấn
của phủ Tôn nhân). (H. 119)
hình dấu này, phải chăng là sự khác biệt về quan
điểm, lập trường chính trị của vua Đồng Khánh và
những ông vua Nguyễn trước đó, trước biến cố của
xã hội Việt Nam đương thời, khi người Pháp đã thôn
tính gần xong nước Đại Nam của các vua Nguyễn?
Năm 1895 khi ra đi vua Hàm Nghi và Tôn Thất
Thuyết có mang theo một số ấn triện quí như Ngự
tiền chi bảo v.v… Do vậy dưới sức ép của người
Pháp, khi tổ chức lại chính quyền, thay đổi ít nhiều
thang quan chế, Đồng Khánh có làm lại và thay đổi
một số ấn triện. Cho nên không chỉ một ấn Tôn nhân
phủ ấn có thay đổi mà một số ấn triện khác cũng có
thay đổi theo.
Lật giở những trang chữ Hán đời Thành Thái trong
Châu bản triều Nguyễn, chúng tôi lại thấy xuất hiện
một loạt dấu lớn Tôn nhân phủ ấn và Kiềm dấu Tôn
nhân. Những dấu này có kích thước 7,2x7,2cm, còn
tự dạng thì tất cả giống y như dấu Tôn nhân phủ ấn
và Kiềm dấu Tôn nhân ở các đời vua trước đời Đồng
Khánh. Như vậy vua Thành Thái đã dùng chữ “Tôn”
宗 của tiên đế mình và bỏ chữ “Tôn” 尊 của đời
Đồng Khánh trong dấu Tôn nhân phủ ấn và Kiềm dấu
Tôn nhân[189]. Như chúng ta đã biết ấn triện có gắn
bó mật thiết với tổ chúc hành chính quan chế triều
Nguyễn, do vậy suy ngược lại vấn đề thì việc tổ chức,
quan chế đời Thành Thái cũng có ít nhiều thay đồi (?)
Ở đây chúng tôi chỉ xin cung cấp một số cứ liệu và
những nhận định chung như vậy, còn việc đánh giá,
khẳng định v.v… xin dành cho các nhà viết sử.