Cách mạng tháng Tám 1945 - Một cuộc cách
mạng mang dấu ấn thời đại
Thứ Tư, 08/12/2010, 11:03 SA | Lượt xem: 519
Có những sự kiện lịch sử khi thời gian càng lùi xa,
người ta nhận thấy tầm vóc, ý nghĩa của nó càng lớn.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc ta là
một trong những sự kiện vĩ đại đó, đã đồng thời thực
hiện được 3 chức năng lịch sử và mang dấu ấn thời
đại
Có những sự kiện lịch sử khi thời gian càng lùi xa,
người ta nhận thấy tầm vóc, ý nghĩa của nó càng lớn.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc ta là
một trong những sự kiện vĩ đại đó, đã đồng thời thực
hiện được 3 chức năng lịch sử.
Trong lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử nhân loại
chỉ có những cuộc cách mạng vô sản mới có thể đáp
ứng đồng thời nhiều đòi hỏi của lịch sử mang tính
thời đại. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt
Nam đã thực hiện đồng thời ba chức năng lịch sử:
giải phóng dân tộc; giải phóng xã hội và giải
phóng con người.
Trước hết, về giải phóng dân tộc, Cách mạng
Tháng Tám đã lật đổ sự thống trị của thực dân Pháp
kéo dài hơn 80 năm, và sự cai trị của phát-xít Nhật,
giành lại độc lập cho dân tộc.
Trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc nhân dân ta
đã bao lần đứng lên lật đổ sự thống trị của quân xâm
lược nước ngoài, giành lại độc lập dân tộc. Đầu công
nguyên đó là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, tiếp
đó là khởi nghĩa của Bà Triệu, của Lý Bí (thế kỷ VI),
của Khúc Thừa Dụ (thế kỷ thứ X), của Lê Lợi (thế kỷ
Như vậy là nền độc lập của dân tộc Việt Nam không
phải là “chiến lợi phẩm” của quân Đồng minh trong
cuộc chiến tranh chống phát-xít. Đó cũng không phải
là “tặng phẩm” hào phóng của các cường quốc chiến
thắng trao lại cho chúng ta, mà là thành quả đấu tranh
anh hùng của một dân tộc đã ý thức được quyền dân
tộc tự quyết, được xem là quyền tự nhiên của mình,
đồng thời nắm trong tay chính nghĩa của cuộc chiến
đấu chống chủ nghĩa phát-xít, bảo vệ phẩm giá con
người. Trong Tuyên ngôn độc lập, ngày 2 tháng 9
năm 1945, sau khi trân trọng trích lại Tuyên ngôn độc
lập của Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn dân quyền và
nhân quyền của Pháp năm 1789, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nói: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả
các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân
tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và
quyền tự do”(1).
Để khẳng định cơ sở pháp lý và chính nghĩa cuộc đấu
tranh của dân tộc ta, Người nhấn mạnh: “Sự thật là
dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ
không phải từ tay Pháp
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp
hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe
Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó
phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”(2).
Ở vào thời điểm trước khi Liên hợp quốc ra đời,
Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam về khách
quan đã góp phần quan trọng vào nguyên tắc “bình
đẳng, tôn trọng chủ quyền của tất cả các nước thành
viên” của Hiến chương Liên hợp quốc, đồng thời trở
chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài
thì nó áp bức thuộc địa”(3). Với Người, một cuộc
cách mạng thành công, cách mạng “đến nơi”, nghĩa
là: “cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số
nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người”(4) và dân
chúng phải “được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình
đẳng thật ”(5).
Chính vì vậy, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành
công, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã chủ trương - không duy trì lâu dài Chính phủ
cách mạng lâm thời, nhanh chóng xây dựng nhà nước
pháp quyền, tiến hành tổng tuyển cử tự do trong cả
nước, xây dựng và ban bố hiến pháp Hiếm có một
cuộc cách mạng nào, một đảng chính trị nào lại có đủ
niềm tin, ý thức tôn trọng ý chí và nguyện vọng của
nhân dân như Đảng Cộng sản Việt Nam. Chỉ trong
vòng một năm, Đảng và Chính phủ ta đã thiết lập chế
độ chính trị, nhà nước và chính quyền nhân dân trong
cả nước. Sở dĩ có được niềm tin đó là vì Đảng Cộng
sản Việt Nam là hiện thân lợi ích của cả dân tộc. Đối
với Đảng ta, lợi ích của giai cấp luôn luôn thống nhất
với lợi ích của dân tộc. Như vậy là chế độ dân chủ,
nhà nước pháp quyền của nhân dân ta ra đời trong
Cách mạng Tháng Tám không phải là “thành tích”
“khai hóa” của “mẫu quốc”, cũng không phải là thứ
hàng ngoại nhập của các nhà dân chủ đương thời đem
lại, mà là kết quả của cuộc đấu tranh với không biết
bao nhiêu hy sinh, mất mát của đồng bào, cán bộ,
đảng viên của Đảng. Kết quả đó là sự sáng tạo của
cuộc cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
tưởng về nhân quyền trong hiến pháp, pháp luật của
Mỹ, của Pháp và tuyên bố của Tổng thống Mỹ Uyn-
xơn, sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc,
thay mặt những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn
Ái Quốc đã ký tên và gửi Bản “yêu sách của nhân
dân Việt Nam” đến Hội nghị nguyên thủ các nước
thắng trận ở Véc-xây (Pháp) năm 1919. Nhưng Bản
yêu sách kết cục đã không được chấp nhận. Nguyễn
ái Quốc đã rút ra kết luận: “Chủ nghĩa Uyn-xơn ( nội
dung là Mỹ sẽ trao quyền dân tộc tự quyết cho các
dân tộc) chỉ là một trò bịp bợm lớn”(6).
Lịch sử đã chỉ ra rằng, không một quốc gia tư bản
chủ nghĩa nào chấp nhận chia sẻ giá trị nhân
quyền cho các dân tộc thuộc địa. Quyền con người
của nhân dân ta không phải do lực lượng thống trị
tôn trọng “ tính phổ quát” hoặc “quyền tự
nhiên”của con người mà có. Đối với các dân tộc
thuộc địa, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là tiền
đề, điều kiện của quyền con người. Đây là một vấn đề
mới về lý luận và chính trị trong thời đại ngày nay.
Muốn có độc lập dân tộc, chế độ dân chủ, quyền
công dân và quyền con người, các dân tộc bị áp
bức phải tự mình đứng lên làm cách mạng theo
chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đây là một kết luận khoa
học - chính trị, cũng có thể xem là một nguyên lý
mác-xít mới mà bản quyền hoàn toàn thuộc về
Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng về lý luận cũng như kỹ
năng lập hiến, lập pháp, ngay sau khi cách mạng
cách mạng đó đã đặt ra. Với tinh thần đó, ngày nay
chúng ta cần thực hiện tốt chiến lược bảo vệ Tổ quốc,
sự toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích của dân tộc; xây
dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chống
quan liêu, tham nhũng; giữ vững sự ổn định chính trị,
xã hội, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm
mưu, thủ đoạn lợi dụng dân chủ, nhân quyền của các
thế lực thù địch hòng can thiệp vào công việc nội bộ
của ta./.
Cao Đức Thái
TS, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh
___________________________________________
______
(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2000, t 4, tr 1, 3
(3), (4), (5) Hồ Chí Minh: Sđd, t 2, tr 274, 270, 280
(6) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt
động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, tr
33
n