CÔNG TY CP SỮA VIỆT NAM
PHÒNG PHÁT TRIỂN VÙNG NGUYÊN LIỆU
**** TÀI LIỆU TẬP HUẤN
KỸ THUẬT CHĂN NUÔI BÒ SỮA
Biên soạn : Th.S. Vương Ngọc Long
KHẢ NĂNG VỀ CÔNG LAO ĐỘNG ?
XÂY DỰNG CHUỒNG TRẠI:
QUY MÔ CHĂN NUÔI ?
ĐỊA HÌNH & ĐỊA THẾ ?
KIỂU CHUỒNG TRẠI ?
MUA BÒ GIỐNG
GIỐNG NÀO ?
GIÁ TIỀN ?
MUA Ở ĐÂU ?
TRỒNG CỎ :
GIỐNG CỎ NÀO ?
MUA CỎ GIỐNG Ở ĐÂU ?
HỌC TẬP KỸ THUẬT
CHĂN NUÔI BÒ SỮA
QUYẾT ĐỊNH KHỞI SỰ CHĂN NUÔI
CÁC BƯỚC KHỞI SỰ CHĂN NUÔI BÒ SỮA
I. GIỐNG BỊ SỮA
1.1. Vai trò của con giống bò sữa
Giống bò quyết định 60 % sự thành bại của việc chăn ni bò sữa. Để có
được bò tốt, ngừơi chăn ni cần nắm rõ về giống bò sữa, kỹ thuật chọn lựa một
bò giống tốt.
1.1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của bò sữa
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới như nước ta: nhiệt độ và ẩm độ cao là một
trong những yếu tố hạn chế đối với năng suất sữa của các giống bò. Các giống bò
sữa cao sản hiện nay trên thế giới đều có nguồn gốc từ các nước ơn đới, nên khi
nhập nội vào nước ta thì bò ảnh hưởng rất nhiều. Vì vậy, để hạn chế sự tác động
của điều kiện mơi trường, ngừơi ta thường sử dụng phương pháp lai tạo giữa các
giống bò ngoại với bò Địa phương kết hợp với việc cải tạo điều kiện tiểu khí hậu
và cải thiện chế độ chăm sóc ni dưỡng. Một giống bò cao sản thường đòi hỏi
Holstein Friesian đã và đang được sử dụng, nguồn nhập từ các nước như Canada 4
,Pháp, Mỹ, Cu Ba, Nhật , Hàn Quốc…. . Thơng thường thì các nước đều phát
triển giống bò Holstein Friesian tại nước mình và đặt tên riêng như Holstein
Francaise (Holstein Pháp) Holstein American (Holstein Mỹ), Holstein Canada
(Holstein Ca na đa)… Bò Holstein Friensian (thường gọi là bò Hà Lan)là giống bo
ø
có nguồn gốc từ
vùng Holland , Hà Lan ( , Holland - Netherland). Đây là giống bò có màu lang
trắng đen , năng suất cao và được nuôi rộng rãi trên nhiều vùng sinh thái khác
nhau (do thích nghi cao).
Bò Nâu Thụy Só (Brown Swiss)
Bò Nâu Thụy Só có nguồn gốc từ miền trung tâm và đơng Thụy Só. Đây là
giống bò tương đối lớn con (khối lượng con cái từ 600-700 kg). Bò có màu nâu
nhạt đến xám và đặc biệt là màu da tai trong và quanh mũi thường có màu trắng.
Năng suất sữa khoảng 5500-6000 kg/chu kỳ. Đây cũng là giống bò có khả năng
thích nghi rất tốt.
1.3.3. Các giống bò Zebu đang được sử dụng cải tạo bò Địa phương.
Bò Red Sindhi
Bò Sind thuần ( Red Sindhi ) có nguồn gốc từ vùng Malir, ngoại vi Karachi
của Pakistan. Bò Sind thường có màu từ đỏ đến nâu cánh dán , thường có một vài
đốm trắng trên trán và yếm. Bò có u, yếm phát triển . Sừng cong hướng lên trên.
Bò có trọng lượng trung bình. Khối lượng bò cái trưởng thành từ 250 – 350 kg,
bò đực từ 400-550 kg. Tuổi đẻ lần đầu vào khoảng 30 đến 40 tháng. Sản lượng
sữa trung bình từ 680 –2300 kg /chu kỳ. Chu kỳ cho sữa kéo dài từ 270 –400 ngày.
Tỉ lệ béo trong sữa vào khoảng 4 –5 %. Có bò cái được ghi nhận với năng suất
5500 kg /chu kỳ. Bò thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nóng và sức đề kháng
bệnh cao.
Bò Sahiwal
Bò Sahiwal thuần có nguồn gốc từ vùng Montgomery, Tây Punjab của
Pakistan. Bò Sahiwal thường có màu từ nâu đỏ đến nâu cánh dán, đỏ nhạt ,
thường có một vài đốm trắng trên thân mình . Bò có u, yếm , dậu phát triển . Sừng
nhỏ và bò cái thường khơng có sừng . Tai bò Sahiwal to và thường có lơng đen ở
rìa tai. Bò có trọng lượng trung bình. Trọng lượng bò cái trưởng thành từ 270 –
400 kg, bò đực trưởng thành từ 450 -590 kg. Tuổi đẻ lần đầu vào khoảng 30 đến
40 tháng. Sản lượng sữa trung bình từ 1100 –3100 kg /chu kỳ. Chu kỳ cho sữa
kéo dài từ 290 –490 ngày. Tỉ lệ béo trong sữa vào khoảng 4 –5 %. Có bò cái được
ghi nhận với năng suất 4500 kg /chu kỳ. Bò thích nghi tốt với điều kiện khí hậu
nóng và sức đề kháng bệnh cao.
BOØ CAÙI LAI SIND
Bò lai Holstein Friesian F1 (50 % HF)
Gieo tinh bò Holstein Friesian cho bò cái nền lai Sind để tạo ra bò Holstein
Friesian F1. Bò lai Holstein Friesian F1 thường có màu đen tuyền (đôi khi đen
xám, đen nâu). Tầm vóc lớn (khối lượng bò cái khoảng 300-400 kg), bầu vú phát
triển, thích nghi với điều kiện môi trườngchăn nuôi của Việt Nam. Năng suất sữa
trung bình khoảng 8-9 kg/ngày (2700 kg/chu kỳ). Có một số bò lai HF F1 nuôi tại 7
TP.HCM đạt sản lượng trên 4000 kg /chu kỳ (năng suất trung bình từ 14-15
kg/con/ngày ) BOØ CAÙI LAI HOLSTEIN FRIESIAN F1 (50%HF)
Bò lai Holstein Friesian F2 ( 75 % HF).
Bò cái Holstein Friesian F1 được tiếp tục gieo tinh bò Holstein Friesian để
tạo ra bò lai Holstein Friesian F2. Bò lai Holstein Friesian F2 thường có màu lang
%HF). Trọng lượng bò cái khoảng 450-550 kg. Sản lượng sữa trung bình 4200
kg/chu kỳ 300 ngày. GIỐNG BÒ AFS ( AUSTRALIA FRIESIAN SAHIWAL)
Trong điều kiện chăn nuôi ở vùng nhiệt đới như Việt Nam, có thể nuôi các bò lai
có tỉ lệ máu Holstein Friesian cao kể cả bò Holstein thuần với điều kiện là phải
đầu tư chuồng trại thích hợp, chăm sóc nuôi dưỡng đúng phương pháp , đúng kỹ
thuật, tiêm phòng đầy đủ các bệnh theo quy đònh của cơ quan thú y.
trường hợp ngừơi bán ngưng không vắt sữa một buổi để dồn sữa cho cữ vắt sau.
Tốt nhất là yêu cầu ngừơi bán đảm bảo về năng suất của con bò được bán.
* Căn cứ vào Gia phả
Khi tiến hành chọn con giống cần phải tham khảo, tìm hiểu được nguồn
gốc bò cha mẹ, năng suất của cha mẹ dựa trên phiếu cá thể hay lý lòch bò cái.
Đây là yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn bò tơ làm giống, khi chưa thể kiểm
tra được khả năng sản xuất sữa của bò tơ .
10
* Căn cứ vào tính tình của bò cái
Dựa trên những biểu hiện tính tình của bò cái có thể đánh giá được bò cái là
tốt hay xấu. Thơng thường một bò cái cao sản tính hiền, linh hoạt, dễ vắt sữa và ít
bò ảnh hưởng bởi điều kiện ngoại cảnh.
1.1.6. Gây dựng một đàn bò sữa gia đình.
Khi bắt đầu gây dựng một đàn bò sữa có thể theo những biện pháp và các
bước như sau :
• Từ bò nền lai Sind : biện pháp này thuận lợi ở điểm đầu tư ban đầu ít, kinh
nghiệm sẽ được tích lũy dần và nắm được rõ lý lòch bê cái sữa sau này. Nhược
điểm của biện pháp này là thời gian để thu họach được sản phẩm chậm (trên 3
năm). Biện pháp này áp dụng cho những ngừơi chăn ni có ít vốn và ít kinh
nghiệm .
Khai thác sữa
(mua bò từ lứa thứ hai trở lại là tốt). Mua bò có kèm bê còn ít tháng tuổi cũng là
biện pháp để tránh những rủi ro vì những khiếm khuyết trên.
11
Tuổi bò tơ 6 tháng 14 tháng 24 tháng
Thời gian 0 tháng 8 tháng 10 tháng
Mua
Bê lai HF cai sữa
Gieo tinh bò lai HF
Chọn mua bò giống là khâu quyết đònh sự thành công của chăn nuôi bò sữa.
Khi chọn bò giống phải dựa trên nhiều căn cứ . Khi mua bò tơ , quan trọng
nhất là tình trạng mang thai rồi kế đến là các căn cứ về phát triển tăng trưởng
và gia phả . Khi mua bò đang cho sữa, thì quan trọng nhất là năng suất sữa và
tình trạng mang thai. Tốt nhất là nên hỏi các cán bộ khuyến nông hoặc các
dẫn tinh viên để liên hệ mua được bò giống tốt.
Đẻ ra bê lai HF
Khai thác sữa
Công việc quan trọng nhất trong hệ thống quản lý giống bò sữa cho một
quốc gia là xây dựng mạng lưới thu thập thông tin của từng cá thể về khả năng
sản xuất ,chất lượng sữa,khả năng sinh sản, khẩu phần , tình trạng bệnh tật thú
y… đến những yếu tố kinh tế có liên quan, ví dụ: giá cả thu mua sữa ( nhất là khi
giá cả thu mua được xác định theo chất lượng sữa), giá cả thức ăn cho đàn bò để từ
đó , dựa trên những thông tin thu thập được có thể ước lượng giá trò gây giống của
gia súc. Những yếu tố xã hội (tập quán tiêu dùng, trình độ kiến thức của ngừơi
chăn nuôi) cơ sở hạ tầng cũng cần được xem xét trong việc xây dựng một
chương trình công tác giống hoàn chỉnh và hiệu quả.
Để có được những thông tin cơ bản, vai trò của hộ chăn nuôi bò là rất
quan trọng. Ngừơi chăn nuôi phải theo dõi và ghi chép đầy đủ các sự kiện có liên
quan đến đàn bò sữa, đặc biệt là khả năng sinh trưởng phát dục ( tăng trọng ngày,
tuổi lên giống lần đầu, tuổi phối giống lần đầu… ), nuôi dưỡng chăm sóc ( loại và
số lượng thức ăn ) , phối giống (loại tinh , phối mấy lần , phối khi nào, ai phối…),
sức khỏe (tiêm phòng, bệnh tật….) đặc biệt là khả năng sản xuất ( sản lượng và
chất lượng sữa trong toàn chu kỳ…). Để việc ghi chép dữ liệu của từng cá thể
thuận tiện, ngừơi ta sử dụng sổ hay phiếu cá thể bò cái. Thông thường tại nông trại
ngừơi ta sử dụng phiếu cá thể cho tiện theo dõi và ghi chép. Tại mỗi trại sử dụng
thêm một sổ chung, hoặc có thể sử dụng máy vi tính. Nội dung phiếu cá thể tùy
theo chương trình giống của mỗi nước nhưng nói chung thường có bốn phần: gia
phả, khả năng sản xuất của bò cái, các vấn đề về sinh sản, tình trạng sức khỏe,bệnh
tật và cách xử lý, và chế độ chăm sóc dinh dưỡng.
• Ghi chép phiếu cá thể
Ghi chép phiếu cá thể gồm những nội dung sau :
-
Định danh : Mỗi bò cái được định danh và đăng ký bằng tên, số và mã số . Mã
số có thể cho ta biết được những thông tin cơ bản về cá thể ví dụ , ngày sinh,
giống, tỉ lệ lai, khu vực Địa lý … (Tham khảo bảng qui định mã số áp dụng cho
trình tính tốn để đánh giá chính xác, tổng qt và chi tiết cho từng cá thể bò cái.
Các dữ liệu sau khi xử lý sẽ giúp cho chủ trại và Hội Đồng Quản Lý Giống Bò
Sữa hay các Hiệp hội Giống có thể ước lượng các chỉ số về giống. Nhờ đó, sẽ có
định hướng đúng trong việc nhập và sử dụng các dòng tinh thích hợp để cải thiện
chất lượng giống. Cung cấp các khuyến cáo cần thiết cho mạng lưới dẫn tinh viên
để gieo những tinh bò tốt , thích hợp cho từng cá thể bò cái. Ngừơi chăn ni bò sẽ
nhận được những khuyến cáo khoa học nhất, thích hợp nhất để cải thiện việc chăm
sóc ni dưỡng, quản lý từng cá thể bò cái, từ đó nâng cao thu nhập trong chăn
ni bò sữa. ,
Đ
eo số tai và ghi chép phiếu cá thể cho bò sữa là nhằm mục đích giúp cho người
chăn nuôi thuận tiện trong việc theo dõi, ghi chép, phối giống và quản lý đàn bò
sữa, nhất là về công tác giống. Ích lợi trước mắt của việc đeo số tai, lập phiếu cá
thể, theo dõi ghi chép là giúp cho người chăn nuôi quản lý đàn bò sữa của
mình.Còn lợi ích lâu dài là giúp nâng cao khả năng sản xuất của đàn bò qua
chọn lọc giống, tránh được hiện tượng đồng huyết. Đồng huyết sẽ làm giảm sức
sốngcủa bê, gây dò tật và giảm khả năng sản xuất của bò cái.
SUA
Á
T, TRANG THA
Ù
I MANG THAI…
KHÔNG CHỌN ĐƯC THỨC ĂN PHÙ HP , KINH TẾ
NHA
Á
T, HIỆU QUA
Û
NHA
Á
T
KHÔNG BIẾT BÒ BỊ BỆNH GÌ ,THỜI ĐIỂM NÀO DỄ
MA
É
CBỆNH
BỊ LÚC NÀO, , DIỄN BIẾN RA SAO Ỵ ĐỂ CÓ THỂ
PHO
Ø
NG VA
Ø
T
RỊ BỆNH HIỆU QUA
Û
KHÔNG BIẾT ĐỈNH ĐIỂM CHO SỮA, ĐỘ BỀN CHO
SƯ
Õ
A
CAO THẤP, CHẤT LƯNG SỮA TỐT HAY XẤU
1.1.8 . Giám định, phê xét ngoại hình bò sữa.
1.1.8.1. Đặc điểm chung :
Ưu điểm : Biểu hiện đặc điểm giống, giới tính, kiểu hình bò sữa phù hợp với tỉ
lệ máu bò HF ; sức khỏe tốt, có sinh lực, các bộ phận cơ thể tiếp hợp tốt hài hồ cân
đối. Da mỏng, đàn hồi tốt. Khối lượng bò tương đương mức trung bình của con
giống (Tham khảo thêm kết quả điều tra của đề tài quản lý giống bò sữa TP.HCM
: bò lai Holstein Friesian F1 :366.6kg ± 46.6; bò lai Holstein Friesian F2 : 369 kg
± 51.3 kg).
Khuyết điểm: Các bò có thân hình thô, to hoặc tầm vóc quá nhỏ. Sức khỏe không
tốt. Các bộ phận tiếp hợp thô. Da dày, lông xù.
1.1.8.2. Các bộ phận:
• Phần trước (đầu cổ)
Ưu điểm : Đầu cân đối; góc cạnh; mõm to; lỗ mũi rộng; hàm khỏe; mắt to sáng;
trán rộng pháng; sóng mũi tháng (ngoại trừ bò Jersey); tai nhỏ vừa phải, linh
hoạt;cổ dài, thanh tiếp giáp với vai tốt.
Khuyết điểm:Đầu quá to hoặc quá nhỏ, ngắn, không cân đối với cơ thể ;mõm
khô, nhỏ; lỗ mũi hẹp; hàm dưới yếu, thụt vào; mắt nhỏ, đỏ ,không tinh anh; trán
hẹp, vồ; tai quá to; cổ ngắn, hẹp.
• Phần giữa (vai, ngực, lưng hông, bụng)
Ưu điểm : Vai thanh, thon, tiếp hợp tốt với cổ và thân mình. Ngực rộng, sâu,
không thắt. Lưng hông tháng, rộng và bằng; các xương sừơn rộng cách xa vừa
phải. Bụng lớn, tròn, gọn, không thắt.
Khuyết điểm: Bầu vú nhỏ, khơng cân đối, hoặc q to thòng q khuỷu; da vú
dày đàn hồi kém; tiếp hợp sau trước kém (treo trước yếu, thắt; treo sau thấp), Các
phân cách giữa hai bên q sâu và có phân cách, thắt giữa các phần tư; các bầu vú
phát triển khơng cân bằng (bầu vú trước hoặc bầu vú sau nhỏ hơn).Núm vú hình
phễu, ngắn, nghiêng trước, nghiêng sau, hoặc nghiêng hai bên; bố trí khơng cân
đối; khoảng cách giữa núm vú khơng đều hoặc q gần nhau.Hệ thống tĩnh mạch
vú kém phát triển, khơng lộ rõ.
Hình dáng lý tưởng của một bò cái sữa tốt là hình nêm, đầu thanh, ngực sa
â
u rộng,
lưng thẳng, mông rộng dài, chân khỏe,bầu vú to, núm vú phân bố đều . Bộ phận
quan trọng nhất trong việc giám đònh một bò sữa là hệ thống bầu vú.
Các yếu tố khí hậu, khí tượng có ảnh hưởng đến gia súc là nhiệt độ, ẩm độ,
chuyển động của luồng khơng khí (gió) và các bức xạ . Tác động của từng yếu tố
này và sự tương tác lẫn nhau của chúng sẽ tác động một cách trực tiếp hoặc gián
ti
ếp lên gia súc.
Bò là động vật máu nóng, thân nhiệt biến động từ 38
o
C- 39,3
o
C ( trung bình
là 38,4
o
C ). Khi nhiệt độ mơi trường tăng , để thải nhiệt, làm mát cơ thể , lượng
máu sẽ được tăng cường đưa đến các vùng ngọai vi (như da ) . Lượng máu cơ thể
tăng lên , nước được điều động từ các phần khác của cơ thể song song với việc
tăng cường lượng nước uống vào.
Việc gia tăng lượng máu của cơ thể sẽ dẫn đến hiện tượng giảm nồng độ hoc-
mơn trong máu đến các cơ quan và do máu ưu tiên đến các vùng da nên giảm
lượng máu đưa chất dinh dưỡng đến ni các bộ phận khác của cơ thể , làm ảnh
hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát dục của bò (bò chậm lớn và sinh sản kém)
và ảnh hưởng đến sức sản xuất sữa của bò.
Nhiệt độ cao cũng ảnh hưởng đến tập tính gặm cỏ của bò. Khi nhiệt độ cao, bò
có khuynh hướng tìm kiếm bóng mát để nghỉ ngơi, giảm lượng cỏ ăn vào.Ngòai
ra, nhiệt độ cao cũng làm giảm độ ngon miệng Bên cạnh đó, trong điều kiện khí
hậu nhiệt đới ẩm , chất lượng thức ăn cũng bò ảnh hưởng : chất lượng cỏ thấp (do
ngun liệu làm chuồng sẵn có tại Địa phương để tiết kiệm chi phí. Một chuồng
bò tốt cần đảm bảo những tiêu chuẩn kỹ thuật như sau :
♦ Chọn hướng chuồng phù hợp tránh mưa tạt ,gió lùa, che nắng,thống mát . Tùy
theo điều kiện đất đai , có thể nên chọn hướng chuồng quay về hướng nam
hoặc hướng đơng nam để đảm bảo có ánh sáng và thơng thống tốt.
♦ Chuồng xây cao ráo, thốt nước tốt, khơng ẩm ướt đảm bảo dễ làm vệ sinh,
khơng gây ơ nhiễm mơi trường xung quanh. Chuồng trại nên làm xa nhà (hơn 4
m).
♦ Khơng xây máng ăn q sâu dễ gây tồn đọng thức ăn và khó làm vệ sinh .
♦ Nền chuồng nên làm có độ dốc từ 2 -3 % và khơng q trơn láng để bò khơng
bò trượt té.
♦ Cần có sân vận động cho bò
♦ Diện tích chuồng ni bình qn cho mỗi bò sữa khoảng 4 –6 m
2
♦ Bố trí máng uống cho bò sữa thích hợp để có thể cung cấp nước đầy đủ cho bò
vào mọi lúc.
♦ Bố trí hố ủ phân phù hợp để có thể tận dụng tòan bộ phân và cỏ ăn thừa, cũng
như chất độn (lá cây, cỏ hơi, bèo, dây đậu già…) đưa vào hố ủ phân để sản
xuất phân bón ruộng, giữ vệ sinh và tăng thu nhập cho chăn ni bò.
♦ Gần chuồng nên trồng một số cây cho bóng mát để giảm nhiệt độ quanh khu
vực chuồng trại.
19
2.3.THIẾT KẾ VÀ QUẢN LÝ CHUỒNG TRẠI
Chăn nuôi bò sữa là một nghề đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao .Để đạt được
hiệu quả cao, cần phải có những khoản đầu tư nhất định như đất đai, giống bò,
vì bò được chăn thả và ăn trên đồng cỏ. Phương thức mà ngừơi chăn nuôi Việt
Nam đang áp dụng được gọi là “Cầm cột tại chuồng”. Bò bò cầm cột không thể tự
do đi lại trong chuồng . Phương thức “tự do trong chuồng” chỉ mới được một số
hộ , trang trại lớn ở nước ta áp dụng.
2.4.1.Phương thức “Không chăn thả”
Thuận lợi của phương thức “không chăn thả” là năng suất của đất nông nghiệp
có thể tận dụng tối đa (không có sự hao hụt do giẫm đạp và rôi vãi). Điều bất lợi là 20
tốn thêm nhân công lao động (cắt cỏ, vận chuyển). Một thuận lợi khác của phương
thức “không chăn thả” là phân có thể dễ dàng thu thập cho việc bón phân, việc
quản lý và chăm sóc bê nghé tốt hơn và gia súc ít bò nhiễm ký sinh trùng.
2.4.2.Phương thức “Cầm cột tại chuồng”.
Thuận lợi chủ yếu của phương thức “cầm cột tại chuồng” là cần một diện tích
chuồng ít hơn so với phương thức “tự do trong chuồng”. Tuy nhiên, phải cần có
vật liệu lót chuồng tốt (rơm cháng hạn) cho bò nằm mới có thể giữ bò ở thể trạng
tốt trong điều kiện “cầm cột tại chuồng”. Nhưng đôi lúc cũng cần cho bò vận động
để giữ được thể trạng tốt . Dùng rơm lót chuồng còn có thể giữ cho bò khô sạch,
giảm thiểu các yếu tố gây viêm nhiễm bầu vú.Máng nước uống cần được đặt gần
nơi bò (một máng nước uống có thể dùng chung cho hai bò cạnh nhau). Bất lợi
của phương thức này là: khó phát hiện động dục; bò không thoải mái ; cần vật liệu
lót chuồng ; rủi ro khi vắt sữa giữa hai bò đứng sát nhau ; giẫm đạp lên nhau (nhất
là lên núm vú!) ; dễ bò bệnh móng, khớp…
2.4.3. Phương thức “Tự do trong chuồng”
Kiểu chuồng tạo sự thoải mái nhất cho bò là kiểu chuồng “tự do trong
cho từng cá thể (tùy theo sản lượng sữa) có thể được cung cấp ngay tại máng ăn
của chuồng vắt sữa 2 ngày/lần vào lúc vắt sữa. Nên cho bò ăn thức ăn hỗn hợp ở
dạng khô hoặc nhão. Tuyệt đối không hòa thức ăn hỗn hợp vào nước cho uống.
2.4.4. Chuồng vắt sữa (chuồng ép)
Nếu trại có quy mô lớn , cần phải xây dựng chuồng ép để tiện cho việc vắt sữa
(đặc biệt là các bò khó vắt sữa) .Ngoài ra, chuồng ép còn có tác dụng cung cấp
thức ăn riêng rẽ cho từng cá thể bò, cố định bò để được an tòan (bò và ngừơi) khi
điều trò, gieo tinh….Lượng thức ăn hỗn hợp được tính toán cho từng cá thể bò có
thể cung cấp cho bò ngay tại máng ăn của chuồng ép. Cho bò ăn trong lúc vắt sữa
có lợi điểm là ta có thể dễ dàng điều khiển bò (làm cho bò thích chui đầu vào khóa
cổ và sau đó dễ dàng vắt sữa).
2.4.5. Chuồng cho bê
Phương thức chăn nuôi tiên tiến là tách bê ra khỏi mẹ nó ngay sau khi sinh. Bê
con cần có chuồng riêng và chuồng này nên được thiết kế sao cho đáy chuồng nằm
cao hơn mặt đất và có những kẻ hở để phân và nước tiểu dễ dàng thoát xuống nền
nhà. Trên các thanh ngang của mặt đáy chuồng ta nên lót rơm khô. (Khỏang cách
giữa các thanh ngang của mặt đáy chuồng bê tối thiểu là 1 cm).Chuồng bê cũng
nên được thiết kế với giá đôõ xô (cho bò uống sữa rồi sau đó xô luôn đầy nước
sạch) và với máng ăn chứa cỏ hoặc các thực phẩm hỗn hợp cho bê.Chuồng bê nên
được đặt không quá xa chuồng vắt sữa. Qua đó bê sẽ ở gần mẹ khi cần thiết sẽ
kích thích phản xạ xuống sữa của mẹ nó. Bóng mát cũng như sự thông thóang rất
cần thiết cho nơi đặt chuồng bê.Ta phải tách bê con khỏi mẹ ngay sau khi đẻ vì các
lý do sau:có thể định lượng thức ăn của bê (để bê bú mẹ, ta không biết chính xác
lượng sữa bê đã bú);dễ dàng giữ vệ sinh chuồng trại; tránh được bệnh khớp (hoặc
tổn thương móng, khớp) cho bê con.
2.4.6. Nền chuồng và vật liệu lót chuồng
Yếu tố quan trọng nhất của chuồng bò sữa là nền chuồng. Nó phải được quan
lợp bằng một lớp dầy lá dừa hoặc tranh với độ cao vừa đủ sẽ tạo một mơi trường
lý tưởng cho bò sữa.Tuy nhiên, cũng tuỳ theo quy mơ có thể sử dụng ngói hoặc
tơn lạnh (tơn cách nhiệt) để là mái chuồng, miễn sao thơng thống tốt và hiệu quả
cao. Đầu mỗi ơ chuồng, một bức tường thấp được xây hoặc kéo dài mái để ngăn
nước mưa tạt vào ơ nằm của bò. Tránh nắng nóng, nhất là nơi đặt chuồng bê. Vì
vậy việc trồng cây tạo bóng mát quanh khu vực chuồng trại sẽ cung cấp một tiểu
khí hậu tốt cho chuồng. Để làm mát cho chuồng, nên lắp đặt các quạt máy .
Phương pháp này sẽ giúp giảm tác động của nhiệt độ cao, giúp cải thiện năng
suất, khả năng sinh sản của bò.
23
CŨI NHỐT BÊ TỪ SƠ SINH ĐẾN 10 NGÀY TUỔI
Nên bố trí hệ thống làm mát (quạt ) cho bò sữa.
CHUỒNG BÒ SỮA QUY MÔ NHỎ
SO SÁNH CÁC KIểU CHUồNG TRạI
KIểU MớI KIểU CŨ
1 6
♦ TỐN KÉM VỀ ĐIỆN , NƯỚC , CHẤT ĐỘN CHUỒNG…ÍT HƠN
BẤT LI
♦ DIỆN TÍCH LỚN, KHÓ THỰC HIỆN ĐỐI VỚI VÙNG ĐÔ THỊ HÓA
♦ CHI PHÍ XÂY DỰNG CAO
CHI PHÍ THÊM VỀ ĐIỆN, NƯỚC , CHẤT ĐỘN CHUỒNG
BẤT LI
♦ DƠ, THÔNG THÓANG KÉM
♦ KHÓ LÀM VỆ SINH MÁNG ĂN Ỵ CHẤT LƯNG TĂ KÉM
♦ BÒ DỄ MẮC BỆNH VỀ MÓNG, VIÊM VÚ
♦ KHÔNG PHÙ HP VỚI TẬP QUÁN VÀ SINH LÝ BÒ