cho người lao động. Đây là vấn đề hết sức cần thiết đối với các trang trại, vì do
đặc điểm lịch sử, chất lượng nguồn lao động nông nghiệp thường thấp kém so với
các ngành khác Hoạt động sản xuất nông nghiệp đòi hỏi sự chăm sóc nghiêm ngặt,
tự giác của người lao động đối với cây trồng, gia súc. Trong nhiều trường hợp,
mệnh lệnh hành chính có khi không mang lại kết quả m
ong muốn, các phương
pháp kinh tế không phát huy tác dụng phương pháp giáo dục lại trở nên hữu hiệu.
Mỗi phương pháp quản trị có một cách thức tác động khác nhau và tác động
đến những mặt khác nhau. Vì vậy, vận dụng tổng hợp các phương pháp trong quản
trị sản xuất kinh doanh nói chung. trong các trang trại nói riêng là cần thiết. Tuy
nhiên, trong những trường hợp nhất định. phương pháp này được nhấn mạnh hơn
phương pháp khác, nhưng sự nhấn mạnh đó cũng chỉ là nhất thời. Cần năng động
và hết sức mềm dẻo khi sử dụng các phương pháp tác động đến con người trong
quản trị sản xuất ki
nh doanh.
CHƯƠNG III. LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI SẢN XUẤT
I. NHỮNG MỐI QUAN HỆ CÓ TÍNH VẬT CHẤT.
Trong chương này chúng tôi trình bày những nội dung chính về lý thuyết của
kinh tế học trong khu vực sản xuất, đã tỏ ra cần thiết trong nghiên cứu về thị
trường nông nghiệp.
Cũng như mọi ngành kinh tế khác, kinh tế học trong sản xuất
nông nghiệp cũng quan tâm đến việc phân phối nguồn lực khan hiếm cho nhiều
phương hướng sản xuất. Trong lý thuyết về sản xuất, người ta tìm mọi cách chọn
lựa: Sản xuất cái gì? Sản xuất bao nhiêu và sản xuất như thế nào? Quyết định việc
này bởi chính người sản xuất - đư
ợc xác định là “một tác nhân cụ thể chuyên trách
việc chuyển đổi các yếu tố đầu vào thành các loại hàng hoá mong muốn, đó là các
yếu tố đầu ra” (Hirshlefer – 1976).
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hoà các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc
các yếu tố sản xuất như: đất đai, lao động…) để tạo ra các đầu ra (hàng hóa hoặc
dịch vụ như: thóc, ngô, thịt, trứng, sữa…). Chẳng hạn để sản xuất ra một tấn mũ
Hàm sản xuất có thể được biểu diễn bằng một phương trình, một bảng số liệu
hay một đồ thị nào đó. Để hiểu thêm về hàm sản xuất ta lấy ví dụ như sau: Giả sử
có một nhà máy may quần áo, để đơn giản ta chỉ xét 2 yếu tố đầu vào là lao động
và máy khâu. Sự kết hợp giữa lao động và máy khâu cho chúng ta các kết quả đầu
ra khác nhau, thể hiện ở biểu sau:
Biểu 1.1: Hàm sản xuất với hai đầu vào là máy khâu và lao động.
Số lao động
mỗi ngày
Số máy khâu
0 1 2 3 4 5 6
0 0 0 0 0 0 0 0
1 0 15 34 44 48 50 51
2 0 20 46 64 72 78 81
3 0 21 50 79 82 92 99
Qua biểu trên ta thấy, nếu không có lao động và không có máy khâu nào thì tất
nhiên không tạo ra được sản phẩm, nói cách khác không có đầu và
o thì cũng
không có đầu ra. Với một máy khâu và một lao động, doanh nghiệp có thể sản
xuất tối đa 15 bộ quần áo mỗi ngày; với 2 máy khâu và 2 lao động doanh nghiệp
sản lượng tối đa là 46 bộ quần áo… Cần lưu ý rằng mức sản lượng nói trên chỉ đạt
đư
ợc khi doanh nghiệp tổ chức sản xuất và quản lý thật tốt.
Như vậy, hàm sản xuất cho chúng ta biết một khái niệm có tính chất thuần túy
vật chất, nhằm mô tả lượng đầu ra tối đa về vật chất với việc sử dụng một hoặc
một số yếu tố đầu vào nhất định về vật chất. Trình độ kết hợp giữa các yếu tố đầu
vào trong sản xuất quyết định hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng các yếu tố đó.
Hơn nữa trong nền ki
2
, X
3
, X
n
: đứng sau kí hiệu / là các yếu tố sản xuất không biến đổi.
Biểu 1.2: Sản xuất với một đầu vào biến đổi (Lao động)
Tổng số
lao động (L)
Tổng số
vốn (K)
Tổng số
Độngầu ra
(Q)
Năng suất
B.quân (Q/L)
Năng suất cận
biên (∆Q/∆L)
0 10 0 - -
1 10 10 10 10
2 10 30 15 20
3 10 60 20 30
4 10 80 20 20
5 10 95 19 15
6 10 108 18 13
7 10 112 16 4
8 10 112 14 0
9 10 108 12 -4
10 10 100 10 -8
1
’’’ là độ nghiêng của
đường thẳng OA và đó chính là độ nghiêng lớn nhất hay điểm có sản phẩm bình
quân cực đại (hình 1.1b).
1.1.3. Sản phẩm cận biên (MP: Marginal product).
Người sản xuất luôn tìm kiếm liệu chi phí đầu tư tăng thêm có đem lại sản
lượng sản phẩm tương ứng hay không, cứ mỗi lần tăng thêm một lượng X
1
nhất
định có thể thu được một lượng sản phẩm tăng bổ sung, phần sản phẩm tăng thêm
đó gọi là sản phẩm cận biên. Nếu X
1
biến đổi một lượng ∆X
1
thì Q cũng biến đổi
một lượng ∆Q tương ứng. Như vậy:
Sản phẩm cận biên của một yếu tố đầu vào biến đổi là mức sản phẩm tăng
thêm hay giảm đi khi sử dụng thêm một đơn vị yếu tố đầu vào biến đổi đó trong
điều kiện giữ nguyên mức sử dụng các yếu tố đầu vào cố định khác.
Sản phẩm cận biên của X
1
= Thay đổi tổng sản phẩm/ Thay đổi lượng đầu vào
X
1
MP
X1
= Q/ X
1
Nếu ∆X
1
> X
1
’’;
MP
X1
= 0 tại điểm cực đại của đường cong tổng sản phẩm khi X
1
= X
1
’’.
Như vậy, khi X
1
chạy từ 0 đến X
1
’ thì MP
X1
tăng dần và đạt cực đại tại X
1
’; khi
X
1
chạy từ X
1
’ đến X
1
’’ thì MP
X1
giảm dần và bằng 0 khi X
1
1.1.4. Quy luật năng suất cận biên giảm dần.
Quy luật năng suất cận biên giảm dần được phát biểu như sau:
Tổng
sản phẩm
Hình 1.
1a: Đường cong tổng sản phẩm
Mức
độ 3
TP
0 X
1
’
X
1
’’’
1b: Đường cong sản phẩm cận biên và sản phẩm bình quân
Năng suất cận biên của một yếu tố đầu vào biến đổi sẽ giảm dần khi sử dụng
ngày càng nhiều hơn đầu vào đó trong quá trình sản xuất (với điều kiện giữ
nguyên lượng sử dụng các đầu vào cố định khác).
Khi một yếu tố đầu vào được sử dụng tăng dần mà các yếu tố đầu vào khác
không thay đổi thì sản lượng tăng lên nhưng đến một lúc việc sử dụng ngày càng
nhiều hơn yếu tố đầu vào đó tr
ong quá trình sản xuất thì mức tăng tổng sản lượng
sẽ ngày càng giảm đi. Giả định, yếu tố đầu vào X
1
thay đổi theo hướng tăng lên
còn các yếu tố khác không thay đổi, chúng ta có thể thấy được mối quan hệ giữa
sản phẩm đầu ra với yếu tố đầu vào X
1
biến đổi duy nhất đó (hình 1.1a và 1.1b).
Điều đó có nghĩa khi tăng X
1
qua một số điểm, sản phẩm cận biên của yếu tố đầu
vào biến đổi X
1
sẽ giảm đi, hình vẽ cho thấy:
Khi X
1
< X
1
’, sản lượng tăng nhanh khi tăng thêm yếu tố đầu vào X
1
.
Khi X
Số đơn vị
lao động
(X
3
)
Sản lượng
lúa (tạ)
Q
Sản lượng lúa
cận biên MP
(tạ)
Sản lượng lúa
bình quân AP
(tạ)
0 0 0 0 - -
1 1 1 6 6 6
2 1 1 15 9 7,5
3 1 1 29,25 14,25 9,75
4 1 1 39 9,75 9,75
5 1 1 44 5 8,8
6 1 1 48,5 4,5 8,1
7 1 1 52 3,5 7,4
8 1 1 54,6 2,6 6,8
9 1 1 56,5 1,9 6,3
10 1 1 50,5 -6 5,1
Với 3 yếu tố đầu vào là phân bón, đất đai và lao động để trồng lúa. Dĩ nhiên,
nếu không dùng bất cứ một loại đầu vào nào thì tổng sản phẩm là số không. Nếu 3
loại đầu vào đều sử dụng 1 đơn vị, tổng sản lượng sẽ đạt 6 tạ lúa. Sau đó các yếu
tố đất đai, lao động không thay đổi, yếu tố phân bón thay đổi tăng lên thì sản
lượng lúa tăng lên, khi tăng phân bón lên 3 đơn vị đạt sản lượng cận biên lớn nhất
mức độ 1 lượng đầu vào này là không đủ. Ở mức độ 1, sản phẩm bình quân của
yếu tố đầu vào thay đổi X
1
tăng lên và trong phạm vi của mức độ này đường MP
nằm trên đường AP. Như vậy, với mỗi đơn vị X
1
tăng thêm, ta sẽ gia tăng được
tổng sản phẩm nhiều hơn là gia tăng sản phẩm bình quân so với những đơn vị X
1
đã dùng trước. Do đó, nếu sản xuất một loại sản phẩm nào đó có lợi cho đến hết
mức độ 1 và như vậy có thể dự đoán vị trí tối ưu về mặt sử dụng đầu vào thay đổi
sẽ nằm ở một điểm nào đó thuộc mức độ 2. Khi xem xét kết hợp giá cả đầu vào và
sản phẩm cuối cùng ta mới có thể xác định cụ thể vị trí tối ưu đó. Tóm
lại:
* Mối quan hệ Sản phẩm bình quân và Tổng sản phẩm:
Sản phẩm bình quân là độ dốc của đường thẳng nối từ gốc tọa độ đến đường
tổng sản phẩm.
* Mối quan hệ giữa Sản phẩm cận biên với Tổng sản phẩm:
Năng suất cận biên là độ dốc của đường c
ong tổng sản phẩm.
- Khi MP >0, Sản lượng tăng và đường TP dốc lên,
- Khi MP = 0, Sản lượng đạt cực đại, đường TP nằm ngang,
- Khi MP <0, Sản lượng giảm xuống và đường TP dốc xuống.
* Mối quan hệ giữa Sản phẩm cận biên và Sản phẩm bình quân:
- Khi MP > AP, thì AP tăng lên và đường AP dốc lên,
- Khi MP <AP, thì AP giảm dần và đường AP dốc xuống,
- Khi MP = AP, thì AP đạt cực đại.
1.2. Mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất (sản xuất với 2 đầu vào biến
đổi).
dãy số the
o hàng ngang là số đầu ra tăng khi các đầu vào của lao động tăng (với
đầu vào vốn cố định). Cũng như mỗi dãy số theo cột dọc là số đầu ra tăng khi các
đầu vào của vốn tăng (với đầu vào lao động cố định).
Biểu 1.4: Sản xuất với 2 đầu vào biến đổi
Vốn
1 2
3 4 5
1 20 40 55 65 75
2 40 60 75 85 90
3 55 75 90 100 105
4 65 85 100 110 115
5 75 90 105 115 120
Lao động
Từ bảng số liệu trên ta có thể trình bày bằng các đường đồng lượng. Đường
đồng lượng là đường biểu thị tất cả những sự kết hợp các đầu vào khác nhau để
sản xuất một lượng đầu ra nhất định.
B
A
D
Hình 1.2: Đường cong đồng sản lượng
Đường đồng lượng Q
1
đo lường tất cả những sự kết hợp các đầu vào để sản
xuất được 55 đơn vị đầu ra. Tại điểm A, 1 đơn vị lao động với 3 đơn vị vốn sản
xuất ra 55 đơn vị sản phẩm, nhưng trái lại ở D, một đầu ra như vậy được sản xuất
bởi 3 đơn vị lao động và 1 đơn vị vốn. Đư
ờng đồng lượng Q
2
đo lường tất cả
những tổ hợp đầu vào sản xuất ra 75 đơn vị sản phẩm,…
Khi di chuyển từ A đến D yếu tố lao động tăng dần từ 1 đơn vị lên 3 đơn vị
đồng thời yếu tố vốn giảm dần từ 3 đơn vị xuống 1 đơn vị. Như vậy, đường đồng
sản lượng là quỹ tích của nhiều tổ hợp khác
nhau của 2 yếu tố đầu vào biến đổi
cùng tạo nên một mức sản lượng đầu ra.
1.2.2. Sự thay thế các yếu tố đầu vào - Tỷ số thay thế cận biên (MRS:
Marginal rate of substitution).
Độ nghiêng của đường đồng lượng cho thấy có thể dùng một số lượng đầu
vào này thay thế cho một số lượng đầu vào khác như thế nào trong khi đầu ra vẫn
không đổi. Chúng ta gọi độ nghiêng đó là tỷ số thay thế cận biên.
Như vậy, tỷ số thay thế cận biên là tỷ số mà một yếu tố đầu vào thay thế
cho một yếu tố đầu vào khác tại bất kỳ điểm nào trên đường cong đồng sản lượng
1
và X
2
và luôn đo lường
như một số lượng dương:
- Số đầu ra có thêm do tăng cường sử dụng đầu vào X
1
là MPX
1
.
- Số đầu ra giảm đi do giảm sử dụng đầu vào X
2
là MPX
2
.
Vì chúng ta giữ cho số đầu ra không thay đổi bằng cách di chuyển dọc theo
một đường đồng lượng nên tổng số thay đổi phải bằng 0. Do đó:
MP
X1
.X
1
+ MP
X2
.X
2
= 0 => MRS = - X
1
/X
2
= MP
2
, x
3
, x
n
)
Một số khái niệm cần làm rõ là:
1.3.1. Đường giới hạn công nghệ (đường cong năng lực sản xuất).
Các hạn chế về công nghệ và tài nguyên đặt người sản xuất vào một số khả
năng nhất định. Người sản xuất chỉ có thể lựa chọn trong khả năng sản xuất (hay
giới hạn công nghệ) của mình để sản xuất sản phẩm này hay sản phẩm khác. Theo
giả định trên, với các cách kết hợp đầu và
o khác nhau người ta sản xuất ra lượng
Q
M
và Q
N
khác nhau. Cách kết hợp hiệu quả nhất là khi người sản xuất đang ở trên
đường cong giới hạn công nghệ nghĩa là khi mà tất cả các nguồn tài nguyên đã
được sử dụng triệt để.
Đường giới hạn công nghệ là quỹ tích của các tổ hợp sản phẩm M và N mà ta
có thể sản xuất với một số yếu tố đầu vào nhất định và với những điều kiện kỹ
thuật canh tác nhất định.
, Nếu đem toàn bộ vốn vật tư để sản xuất sản phẩm N thì sẽ thu được
một lượng sản phẩm N
0
. Các tổ hợp khác của 2 loại sản phẩm được vẽ thành từng
điểm nằm trên đường cong M
0
N
0
. Như vậy, một trang trại mà nằm trên đường giới
hạn khả năng sản xuất là trang trại đó hoạt động có hiệu quả. Nếu sử dụng hết tài
nguyên để sản xuất một sản phẩm nào đó thì luôn luôn phải bỏ không sản xuất một
sản phẩm khác, thay thế là một quy luật trong một nền kih tế sử dụng hết tài
nguyên.
1.3.2. Tỷ số chuyển đổi cận biên (MRT).
Người ta có thể lựa chọn nhiều cách khác nhau để có một số lượng sản phẩm
M, N khác nhau. Độ dốc của đường giới hạn công nghệ cho ta tỷ số chuyển đổi
cận biên.
Tỷ số chuyển đổi cận biên là thước đo chi phí cơ hội về sản xuất sản phẩm N
thay cho việc sản xuất sản phẩm M. Nghĩa là muốn sản xuất thêm 1 đơn vị sản
phẩm N thì phải bớt bao nhiêu đơn vị sản phẩm M.
MRT của N sang M = ∆Q
M
/∆Q
N
1.3.3. Chi phí cơ hội.
Chi phí cơ hội là một khái niệm cơ bản của kinh tế học, phản ánh sự tìm kiếm
và lựa chọn phương hướng phân phối và sử dụng nguồn lực khan hiếm. Bản chất
của nó là sự mất đi về giá trị của một sản phẩm (hoặc dịch vụ) do ta bớt các yếu
tố đầu vào tạo ra phần sản phẩm (hoặc dịch vụ) đó để tạo ra phần sản phẩm hoặc
- Sản lượng cận biên của yếu tố X
1
(MP
X1
);
- Giá đơn vị của yếu tố X
1
(P
X1
);
- Giá đơn vị của sản phẩm (P).
Giá trị của một đơn vị yếu tố đầu vào tăng thêm đối với người sản xuất là thu
nhập bổ sung mà họ nhận được do kết quả của việc sử dụng nhiều vật tư, tiền vốn
hơn. Khái niệm giá trị sản phẩm cận biên (VMP) được dùng làm thước đo để chỉ
ra rằng khi tăng thêm một đơn vị chi phí thì giá trị sản phẩm cận biên tăng thêm
một lượng là MP
X1
x P tức là VMP
X1
. Như vậy, nghĩa là khi chi phí tăng thêm 1
lượng P
X1
giá trị sản phẩm tăng thêm một lượng bổ sung VMP
X1
.
Khi giá trị sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào biến đổi bằng giá trị của nó
thì ta đạt hiệu quả tối ưu, tạo ra lợi nhuận tối đa:
VMP
X1
= P
2.2.1. Xác định điểm tối ưu
Khi có hai yếu tố đầu vào X
1
và X
2
thay đổi, muốn sử dụng chúng một cách
tối ưu, cần thiết phải có các thông tin sau:
- Giá của hai yếu tố đầu vào đó trên thị trường (P
X1
; P
X2
);
- Hệ số thay thế cận biên giữa hai hai yếu tố đầu vào thay đổi (MRS)
- Người sản xuất với một lượng vốn nhất định C
0
có thể sử dụng để mua
các yếu tố X
1
, X
2
theo các tỷ lệ khác nhau. Đường thẳng nối các điểm đó gọi là
đường thẳng đồng chi phí (đường thẳng đồng giá), được biểu diễn ở hình 1.4
C
0
/P
X2
X
1
Vì người sản xuất mon
g muốn khoản chi phí về các yếu tố đầu vào càng ít
càng tốt nên cần có quy tắc xác định tổ hợp chi phí tối thiểu của đầu vào.
Ở hình 1.5 ta thấy khoản chi phí tối thiểu về các yếu tố đầu vào biến đổi để làm
ra một lượng sản phẩm n
hất định Q nằm ở điểm tiếp tuyến giữa đường đồng chi
phí C
0
và đường cong đồng sản lượng Q (điểm A). Ta có thể làm ra sản lượng Q
với các tổ hợp khác của hai yếu tố đầu vào không phải tại điểm A nhưng các
khoản chi phí có thể cao hơn, biểu thị bằng đường đồng chi phí C
1
bên phải C
0
.
Ngược lại, dùng các khoản chi phí thấp hơn C
0
thì khó có thể tạo ra sản luợng Q
dự kiến, biểu thị bằng đường đồng chi phí C
2
bên trái C
0
. Như vậy, để tạo ra một
sản lượng dự kiến nào đó, ta tìm điểm phối hợp tối ưu giữa hai yếu tố X
1
và X
2
bằng cách đem chồng đường cong đồng sản lượng lên đường thẳng đồng chi phí,
điểm tiếp xúc giữa chúng gọi là điểm tối ưu, tại đó độ dốc của đường cong đồng
X
1
C
1
/P
X1
Hình 1.5: Phối hợp đầu vào với chi phí ít nhất
C
2
/P
X1 C
0
/P
X1 Mà độ dốc của đường cong đồng sản lượng là tỷ số thay thế cận biên M
RS và
độ dốc của đường đồng chi phí là tỷ số giá (-) P
X1
/P
X2
, nên điều kiện tối ưu là:
X1
> ∆X
2
. P
X2
thì chi phí yếu tố đầu vào thay thế X
1
cao hơn so với
chi phí yếu tố đầu vào bị thay thế X
2
. Đây là sự thay thế không hiệu quả, bỏ đi một
yếu tố đầu vào có chi phí thấp để thay bằng một yếu tố đầu vào có chi phí cao mà
chỉ cho cùng một mức sản lượng.
Nếu ∆X
1 .
P
X1
< ∆X
2
. P
X2
thì chi phí yếu tố đầu vào thay thế X
1
thấp hơn so
với chi phí yếu tố đầu vào bị thay thế X
2
. Đây là sự thay thế có hiệu quả, bỏ đi một
yếu tố đầu vào có chi phí cao để thay bằng một yếu tố đầu vào có chi phí thấp để
có cùng một mức sản lượng.
Những phân tích trên đây dẫn ta đến quy tắc xác định mức chi phí tối thiểu để
y.
Ở hình 1.6, trình bày những đuờng cong chi phí điển hình, chi phí cố định
không thay đổi với mọi Q được biểu diễn ở đường FC. Khi Q tăng cần nhiều chi
phí biến đổi và ngược lại, biểu diễn ở đường VC. Tổng chi phí được hợp thành bởi
chi phí cố định và chi phí biến đổi, biểu diễn ở đư
ờng TC.
Sản lượng
O
TC
FC
VC
TC
VC
FC
Chi phí Hình 1.
6: Tổng chi phí, chi phí cố định, chi phí biến đổi
- Tổng chi phí bình quân (ATC: Average total cost hay AC) hay chi phí
trung bình là tổng chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm. Tổng chi phí bình
Vì FC là chi phí cố định nên MC thực ra là lượng chi phí biến đổi tăng thêm do
sản xuất thêm 1 đơn vị sản phẩm. MC cũng có dạng hình chữ U do quy luật năng
suất cận biên giảm dần quyết định.
Hình 1.7 minh họa các đường cong MC, AC và AVC có liên quan đến các
đường cong TC, FC và VC ở hình 1.6.
Sản lượng
O
Chi phí
Hình 1.7: Chi phí bình quân, chi phí cận biên
MC
ATC
Min
AVC
ATC
AFC - Mối quan hệ giữa MC và ATC.
Cũng như mối quan hệ giữa MP và AP:
khái niệm sau:
- Tổng thu nhập (TR: Total receipts).
Giả định rằng doa
nh nghiệp đó so với toàn bộ thị trường thì còn nhỏ và là
người nhận giá có thể bán chạy mọi sản phẩm làm ra với giá thị trường. Tổng thu
nhập là tổng số tiền mà doanh nghiệp đó thu được nhờ bán hàng hóa hoặc dịch vụ
trong khoảng thời gian xác định. Vậy, Tổng thu nhập của trang trại sẽ tăng tỷ lệ
thuận với lượng hàng hóa bán ra và bằng tích số của sản lượng với giá thị trường:
TR = P x Q
Đường cong tổng thu nhập sẽ là đường thẳng chạy qua gốc tọa độ (hình 1.8a)
- Lợi nhuận: Là phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí sản xuất
của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian xác định.
∏ = TR - TC hoặc: ∏ = = Q x (P - AC)
- Thu nhập cận biên (MR: Marginal receipts): là phần thu nhập tăng thêm
với mỗi đơn vị sản lượng bán ra tăng thêm.
MR = ∆TR/∆Q = ∆Q.P/∆Q = P
Đặc biệt nếu ∆Q = 1 thì: MR = TR
Q+1
- TR
Q
Như vậy, khi MR không đổi và bằng P, doanh nghiệp sẽ đạt được trạng thái
cân bằng khi ∏ = TR - TC ở mức tối đa. Ở hình 1.8a , khi sản lượng thấp hơn Q
1
và cao hơn Q
2
thì doanh nghiệp sẽ thua lỗ, vì ở các mức sản lượng này đường
cong tổng chi phí nằm phía trên đường cong tổng thu nhập, mức sản lượng tối ưu
là ở Q* do hiệu TR - TC là lớn nhất.
Hình 1.
8b, đường thẳng nằm ngang biểu thị giá cả, vì sản phẩm bán một giá
nên thu nhập cận biên bằng giá cả và cũng bằng thu nhập bình quân (MR = P =
AR). đường cong c
hi phí cận biên (MC) và chi phí bình quân (AC) có dạng hình
Q
Q
0
Q
1
Q* Q
2
MC
MR = P = AR
Q
Q
0
Q
1
Q* Q
2
Đồng
A
B
C
D
hư điểm F thì
sản xuất sẽ bất lợi, vì trong trường hợp này thu nhập bình quân nhỏ hơn tổng chi
phí bình quân nên sản xuất bị thua lỗ. Bất kỳ giá nào thấp hơn tổng chi phí bình
quân tối thiểu như tại điểm C doanh nghiệp sẽ bị lỗ vốn. Nhưng trong trường hợp
ngắn hạn, vẫn nên tiếp tục sản xuất kể cả khi MR và AR thấp hơn AC, m
iễn là
chúng vẫn lớn hơn chi phí biến đổi bình quân (AVC). Như vậy, doanh nghiệp tạo
thêm thu nhập lớn hơn chi phí biến đổi thường xuyên, nhờ thế góp phần bù đắp chi
phí cố định mà theo định nghĩa dù ngừng sản xuất vẫn phải chi phí. Trên cơ sở
những kết quả đó, ta có thể trình bà
y đường cong cung ứng sản phẩm của một
doanh nghiệp cạnh tranh là một phần đường cong chi phí cận biên của doanh
nghiệp nằm phía trên mức chi phí biến đổi bình quân tối thiểu.
2.3. Tối ưu hóa hiệu quả kinh tế trong mối quan hệ giữa các sản phẩm
(nguyên tắc lựa chọn cơ cấu sản phẩm của người sản xuất).
Để đạt được lợi nhuận tối đa trong điều kiện sản xuất ra nhiều sản phẩm
, doanh
nghiệp cần biết các thông tin về:
- Tỷ số chuyển đổi cận biên giữa các sản phẩm;
- Giá cả của sản phẩm.
Khi đã biết khối lượng và giá cả của các yếu tố đầu vào, để đạt lợi nhuận tối đa
cần thiết phải đạt tổng thu nhập tối đa. Ở đây, ta gặp khái niệm đường t
hẳng đồng
thu nhập, đó là quỹ tích các điểm của các nhóm sản phẩm khác nhau nhưng tạo ra
cho doanh nghiệp cùng một mức thu nhập.
Hình 1.9 là đường thẳng đồng thu nhập trong trường hợp có hai sản phẩm rau
và hoa (R và H). Độ dốc của đường thẳng là tỷ giá của sản phẩm (-)P
R
/PR/P
H
Q
HOA
Hình 1.9: Đường thẳng đồng thu nhập
Với tổng t
hu nhập từ hơn 3 sản phẩm trở lên thì đường thẳng đồng thu nhập là
đường thẳng song song cách xa gốc tọa độ hơn. Ở hình 1.10 người ta đặt một loạt
đường đồng thu nhập lên cùng với đường biên năng lực sản xuất và ta có điểm thu
nhập tối đa tại tiếp điểm giữa đường cong năng lực sản xuất và đường đồng thu
nhập cao nhất. Trong trường hợp này tiếp điểm ứng với các đầu ra Q*
R
và Q*
H
; vì
vậy điều kiện cân cân bằng là tỷ số chuyển biến cận biên MRT của rau sang hoa
bằng trị số âm của giá hoa và rau hay: ∆Q
R
/∆Q
H
= (-) P
H
/P
R