21Bài 4
MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC TIÊU
4.1. GIỐNG TIÊU
- Những giống nổi tiếng trên thế giới:
Piper nigrum hoang dại có sự biến động đáng kể về kích thước của các lóng, lá,
phát hoa, quả và hầu như là đơn tính dị chu. Con người đã chọn lọc những giống mà
chủ yếu mang hoa lưỡng tính và chúng được nhân giống bằng cành.
Một số lượng lớn nhất về giống đã xuất hiện tại Ấn Độ “Balamcotta” là một trong
những loài tiêu Malabar được trồng rộng rãi nhất, tiếp theo sau là “Kalluvalli”,
“Balamcotta” sinh trưởng mạnh, đầy sức sống, lá lớn, có màu xanh sáng, gié hoa dài và
thẳng, đóng quả thưa với những quả màu xanh nhạt, hoa lưỡng tính, giống này đã nổi
tiếng ở Ấn Độ về việc cho năng suất cao và ổn định. “Kalluvalli” được biết như là cây
chịu rét và mạnh, cho quả đều đặn, kháng được bệnh héo cũng như hạn, lá hẹp hơn và
xanh tối hơn, hoa cũng lưỡng tính và có gié hoa dài.
Những giống Ấn Độ khác bao gồm“Cheriacaniakadan” là loại phổ biến thường
được trồng tại Travancore, lá nhỏ hình elip và gié hoa dài. Nó được biết như là cây sai
quả có chất lượng cao, kháng được bệnh héo, nhưng nó không được nổi tiếng tại
Sarawat. Gentry cho rằng nó là hoàn toàn đơn tính dị chu tại Malaysia.
Hai giống được nhận ra tại Sarawat là “Kuching” có năng suất cao, lá lớn và rất
mẫn cảm đối với bệnh thối rễ được gây ra bởi nấm Phytophtora palmivora (xem phần
bệnh) và giống “Sarikei” có lá nhỏ hơn.
Những dòng vô tính được trồng hiện nay tại Lampong ở vùng phía nam Sumatra
là “Belantung” có lá lớn và quả nhỏ cho năng suất trung bình nhưng đề kháng với thối
rễ. Nó được mang đến từ “Djambi” nhưng lại rất nhạy cảm với thối rễ tại Lampong.
“Bangka” hay còn có tên khác là “Muntok” giống như “Sarikei” của Sarawat là dòng
vô tính chính cho việc sản xuất ra tiêu trắng của người Trung Quốc trên đảo Bangka.
“Phnom-pon” là một giống lá lớn của Campuchia, “Kamchay” là một giống lá
nhỏ cũng ở đó. Ngoài ra còn có các giống khác như Nam Vang mà bao gồm hỗn hợp
Giống
Trên
trụ
Trên
ha
Chiều
dài gié
(cm)
Trọng
lượng
quả
tươi/gié
(g)
Hoa
lưỡng
tính
trên gié
(%)
Trọng
lượng
100 hạt
tiêu khô
đen
(g)
Djambi 11,80 19957 8,27 9,35 95,7 4,54
Belangtung 9,95 16708 7,94 7,65 Kuching
12,06
Kalluvalli 8,57 14388 10,20 12,20 87,7 5,95
đang được lưu hành tại Việt Nam có giống “Lada” và nhiều giống “Cam pu chia” như
đã được giới thiệu ở phần trên. Các giống tiêu ‘Cam pu chia” thường có phẩm chất tốt,
và năng suất cao hơn “Sẽ đất đỏ” trong điều kiện Việt Nam. Những giống này thường
được trồng phổ biến tại Hà Tiên, Phú Quốc, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Nhìn chung trong điều kiện canh tác lâu đời và nhân giống vô tính tự phát tại các
địa phương khác nhau đã hình thành nên những giống đặc trưng của mình. Những
giống này rất là thích hợp với vùng sinh thái mà nó được trồng. Tuy nhiên, nếu có sự di
chuyển đến vùng mới khả năng thay đổi nhiều đặc tính sinh học của nó có thể có
những biến động nhất định.
4.2. NHÂN GIỐNG
- Nhân giống bằng hạt:
Trừ một phần nhỏ từ những công việc lai tạo, cây tiêu hầu như luôn được nhân
giống bằng phương pháp vô tính. Cây con trồng bằng hạt thường lâu cho quả hơn là
cây cắt cành, chúng cũng rất là biến động về các đặc tính sinh trưởng và năng suất và
cây có thể là đơn tính dị chu.
Khi việc nhân giống bằng hạt là cần thiết, quả được chọn phải là những quả chín
đầy đủ. Chúng được ngâm vào trong nước trong 2 đến 3 ngày, vỏ quả ngoài sẽ bị loại
đi và hạt được làm khô trong bóng râm. Sau đó chúng được gieo vào những luống của
vườn ươm hoặc trong những cái hộp hay bầu. Hạt sẽ nảy mầm trong vòng 5-6 tuần sau
gieo và có thể được đưa vào những túi lớn hơn cho dễ chăm sóc. Để hạt tiêu có tỉ lệ
nảy mầm cao (75-85%) cần chọn những hạt tiêu có kích thước lớn hơn 4mm đường
kính (1kg hạt tiêu loại này có thể mọc được từ 6000-8000 cây con).
Khoảng 4 tháng sau khi gieo cây con có thể đạt được chiều cao là 20cm có 6-8 lá.
- Nhân giống bằng cành hom: Có 2 cách ươm hom tiêu là: Ươm hom tiêu trên
luống và ươm hom tiêu trong bầu. Cụ thể như sau
+ Kỹ thuật nhân:
* Chọn đất để làm vườn ươm: Vườn ươm tiêu được lập ở nơi đất tốt, giàu dinh
dưỡng, chủ động tưới tiêu, thoát và giữ nước tốt, có cây chắn gió, cây che bóng, bằng
phẳng, gần nơi sản xuất.
24
20 phút để giúp hom ra rễ rồi đem trồng vào hố. Hoặc là dùng NAA 700-1000mg/lít
nước trong 5-10 giây, hay nồng độ 200mg trong 1 giờ
* Giâm hom: Thời gian giâm hom vào buổi chiều, khi ánh nắng không còn gay
gắt nữa. Mỗi hom cắm mỗi bầu, nếu trồng ở vườn ươm thì hom được cắm cách nhau
20cm. Có thể giâm hom trong bể giâm cho ra rễ đầy đủ rồi cho hom vào trong bầu.
Hom cắm 2 mắt dưới mặt đất và chừa 1-2 mắt trên mặt đất, mặt đất gần sát với
mắt thứ nhất trên không.
* Làm giàn che: Nguyên vật liệu làm giàn che là tranh, tre, nứa, cột bê tông,
lưới. Giàn che phải bảo đảm che mát, giữ được độ ẩm, dễ dàng điều chỉnh ánh sáng
cho vườn ươm, không bị gãy sập khi mưa lớn gió bảo. Các cọc cách nhau 3m và nằm ở
giữa luống để thuận tiện cho đi lại chăm sóc.
Chú ý: Ươm hom cắt cùng một đợt thì ươm cùng một lần và trồng cùng một nơi
để bảo đảm độ đồng đều quần thể.
+ Chăm sóc: Khi ươm hom tiêu xong thì tưới nước cho ẩm, sau đó một ngày tưới
2 lần.
25
Khi hom được 5-10cm (2 tháng sau trồng) thì ta tiến hành tưới phân sulfat đạm
(pha loãng 5%) để tăng sức sống cho cây, hoặc rãi phân hữu cơ hoai mục hay phân rác
quanh gốc tiêu.
Đất vườn ươm phải luôn giữ sạch cỏ và đủ độ ẩm cần thiết nhưng tuyệt đối tránh
đọng nước, nếu không hom tiêu sẽ thối chết.
* Điều chỉnh ánh sáng: Che bóng 70-80% cường độ chiếu sáng khi mới trồng,
sau đó giảm xuống 50% khi ươm được 2-3 tháng và 20-30% khi cây được 5-6 tháng.
Sau 3 tháng hom tiêu cao được khoảng 25-30cm, 6 tháng trở đi hom đủ tiêu
chuẩn đem đi trồng được. Trước khi trồng ta loại bỏ các cây con mọc yếu, có dị tật
hoặc bị sâu bệnh.
Khi đem trồng ta bứng nguyên bầu đất đường kính 12-15cm hoặc xé bao nilong
hay giở bỏ giỏ tre ra, nhẹ tay đặt nguyên bầu đất vào hố trồng. Sau đó nén đất chặt lại
kết hợp tưới nước đủ ẩm.
nước ta trụ sống được dùng nhiều ở khu vực Bắc Miền Trung. Trụ sống thường được
trồng trước khi trồng tiêu một thời gian từ 6 tháng đến 3 năm tuỳ theo đường kính của
cây trụ và tốc độ tăng trưởng đường kính thân.
+ Ưu - nhược điểm của cây Trụ sống
* Ưu điểm
Tuổi thọ lớn hơn 40 năm nên bảo đảm cho tiêu leo bám suốt chu kỳ kinh doanh.
Cây trụ sống rẻ tiền, đôi khi chỉ tốn tiền công ươm cây
Trong mùa khô, cây trụ sống có thể che cho tiêu một phần ánh sáng (nhất là đối
với tiêu non) góp phần giữ ẩm cho tiêu.
Nếu chọn những cây trụ sống có bộ rễ chính ăn sâu, không những không cạnh
tranh dinh dưỡng với tiêu mà còn tạo ẩm cho tiêu bằng cách: Cây trụ hút nước ở các
tầng đất sâu, phát tán nước qua bộ khung tán của mình tạo ẩm cho vườn tiêu vào mùa
khô, đồng thời các rễ bám của tiêu có thể tận dụng được một ít hơi nước và nhựa luyện
từ vỏ cây trụ.
* Nhược điể m
Cây trụ cạnh tranh một phần dinh dưỡng và ánh sáng với tiêu làm hạn chế năng
suất tiêu.
Cây tiêu leo trên trụ sống thường có lá nhiều, chùm quả thưa, năng suất <
2kg/trụ.
Trồng tiêu leo trên trụ sống thường khó chủ động trong việc tổ chức trồng và
mở rộng quy mô canh tác. Do vậy, phải trồng trụ sống trước tiêu 1-2 năm (trồng cành)
và 3-4 năm (trồng hạt).
Độ đồng đều vườn tiêu kém, khó có khả năng thâm canh cao.
Tốn công xén tỉa, tạo hình hàng năm, nếu xén tỉa chậm cây trụ có thể phát sinh
nhiều cành lá rậm rạp nên che mất ánh sáng của cây tiêu, đồng thời tạo ẩm độ cục bộ
trong vườn tiêu vào mùa mưa dễ làm cho tiêu nhiễm bệnh.
Như vậy kỹ thuật trồng cây trụ sống thích hợp với điều kiện canh tác phân tán
quanh thổ cư, ít vốn đầu tư (tưới nước – bón phân), tiến độ trồng mới ít khẩn trương và
nhằm đạt năng suất vừa phải, ổn định.
+ Điều kiện chọn trụ sống: Đối với trụ sống thì cây tiêu và trụ sống cùng sinh
trên đều có khả năng nhân giống bằng cành và hạt một cách dễ dàng, tốc độ tăng chu vi
thân và đường kính rất nhanh. Tuy nhiên, chúng thường có bộ tán quá lớn, cạnh tranh
dinh dưỡng và nước với cây tiêu nên không được sử dụng như là cây trụ chính.
+ Kỹ thuật trồng cây trụ sống: Mật độ khoảng cách, thời điểm trồng trụ sống,
chế độ phân bón và kỹ thuật xén tỉa cho cây trụ tuỳ thuộc nhiều vào cách nhân giống
(vô tính hay hữu tính), loài cây trụ sống, khả năng sinh trưởng phát triển của cây trụ và
điều kiện đất đai trong vùng.
Thông thường cây trụ sống trồng bằng cách dâm cành với khoảng cách gần
(vông, cóc rừng, dâu tằm, lồng mức).
* Chuẩn bị đất trồng: Trên các đất trồng tiêu đào hố với kích thước 30cm x
30cm x 30cm. Khoảng cách biến động từ 2m x 2m, 2,5m x 2,5m tuỳ thuộc vào loại mật
độ trồng.
Bón lót 5-7kg phân hữu cơ + 100g phân lân (hoặc lân văn điển)/hố.
* Chuẩn bị cây trụ: Cây trụ sau khi chặt xong buộc lộn ngược đầu trở lại, bảo
quản chỗ râm mát trong vòng 1-2 ngày. Mục đích để rễ phát triển mạnh ở đầu cành.
* Trồng và chăm sóc cây trụ: Sau 3-4 tuần mầm cành bắt đầu phát động, bón
thúc 20-30g urê/hố để thúc cành phát triển nhanh.
Sau khi mầm cành phát triển nhanh chọn để lại 1 mầm cành khoẻ mạnh nhất có
góc phân cành nhỏ, sẽ phát triển thành thân chính của cây mẹ.
28
Trong quá trình phát triển trụ cần tỉa bỏ các cành ngang nhằm duy trì một thân
chính duy nhất.
Khi cây trụ cao khoảng 1,8-2m thì bấm ngọn trụ, nuôi 2-3 chồi mới phát sinh để
gia tăng diện tích leo bám của tiêu.
Sau khi bấm ngọn, bón thúc 40g urê + 20g K
2
O/hố và duy trì cây trụ ở độ cao
3,5-4m.
Biện pháp xén tỉa hàng năm có thể chia làm 2 thời kỳ
là việc trồng bằng trụ sống nhờ vào sự đồng đều của các trụ tiêu và khả năng đứng
vững của nó trong giai đoạn đầu. Do vậy, vườn tiêu leo trên trụ chết thường có độ đồng
29
đều quần thể cao hơn so với vườn tiêu leo trên trụ sống.
Nếu chủ động được nguồn cây trụ, có thể trồng tiêu trên quy mô tập Trung,
không phải qua thời gian chờ đợi như đối với trụ sống.
Không tốn công xén tỉa hàng năm.
Khi dùng trụ này củng có những nhược điểm:
Tuy nhiên, đầu tư cho loại cây trụ này thật sự cao hơn rất nhiều so với trụ sống.
Thời gian tồn tại khoảng 20 năm so với chu kỳ kinh doanh là 20-30 năm. Do đó,
để bảo đảm cho tiêu qua hết chu kỳ kinh doanh thì phải thay trụ và tái tạo hình cho tiêu
sau khi thay trụ, làm mất sức cây tiêu khoảng 1-2năm.
Cây tiêu leo trên trụ chết, nếu không có biện pháp thâm canh hợp lý (chủ yếu là
bón phân cân đối), thì dẫn đến hiện tượng mất cân bằng sinh trưởng, cây ra hoa, ra quả
quá nhiều so với thân lá. Năm sau kiệt sức nên ra hoa rất ít gây ra hiện tượng “sai trái
cách năm” và cây tiêu nhanh già cỗi.
Mặt khác, việc dùng trụ gỗ để trồng tiêu thường được xem là một trong những
nguyên nhân phá rừng nghiêm trọng tại những vùng trồng tiêu. Dù cây trụ tốt như thế
nào nó cũng chỉ tồn tại không quá 15-20 năm do phần chân trụ bị mục theo thời gian và
mưa gió. Vì thế để kéo dài thời gian thu quả tiêu cần phải nắm bắt kỹ thuật thay trụ khi
trụ cũ đã mục chân.
Những nghiên cứu trên cây trụ gỗ của viện Nông Học Nhiệt Đới Tiệp và Phan
Hữu Trinh (1986) đã cho thấy trụ gỗ còn có thêm một nhược điểm nữa đó là mẫn cảm
với bệnh chết héo hơn là trồng trên trụ sống. Nguyên nhân của vấn đề này là sự mục
của lớp gỗ ngoài của trụ là môi trường thuận lợi cho nấm bán ký sinh phát triển.
Như vậy, biện pháp trồng tiêu trên trụ chết là phương pháp thâm canh thích ứng
trên quy mô tập trung.
Để gia tăng ổn định năng suất trên vườn tiêu, trụ chết phải cân đối việc quy hoạch
khai thác rừng.
- Tưới nước lên cây trụ, nhẹ tay tháo gỡ bộ khung thân chính của tiêu ra khỏi
trụ.
- Nhổ bỏ cây trụ cũ, thay trụ mới vào.
- Dùng dây buộc bộ khung thân chính vào cây trụ mới, bảo đảm bộ khung thân
chính phải được phân bố đều trên trụ.
Thời gian thay trụ chỉ được kéo dài trong khoảng từ 15-20 ngày. Phải bảo đảm
sau khi thay trụ 1 tháng thì mùa mưa bắt đầu, nhằm duy trì khả năng sống của tiêu.
Trong trường hợp chủ động về nguồn nước cần tưới cho tiêu 2 lần/tuần cho đến
khi đón trận mưa đầu tiên.
Trong năm đầu sau khi thay trụ, bón phân cho tiêu theo công thức áp dụng cho
năm 2. Các cành gié sẽ phát sinh và ra hoa, tuỳ thuộc vào tình trạng sinh trưởng của
cây tiêu sẽ tỉa bỏ ½ đến toàn bộ chùm hoa, dành sức cho mùa hoa các năm sau.
Các cành tược phát sinh trong năm cần tỉa bỏ hết. Trong trường hợp số lượng
cành gié mới phát sinh quá thưa, không phân bố đều hết cây trụ, thì sẽ duy trì 1-3 cành
tược tăng cường khung thân chính trên trụ cho năm sau.
- Trụ xây bằng gạch: Do những khan hiếm về trụ gỗ và nhu cầu hạt tiêu cao trên
thị trường thế giới người ta đã làm trụ tiêu từ vật liệu gạch, đá. Các rễ bám có khả năng
bám vào gạch đá một cách chắc chắn như bám vào gỗ.
* Ưu - nhược điể m
Ưu điểm
Có thể chủ động xây các trụ với kích thước tương ứng nhằm bảo đảm đảm bảo
điều kiện ánh sáng tối ưu cho tiêu.
Diện tích leo bám trên trụ xây bằng gạch thường lớn hơn trên trụ sống 3-4 lần.
Trên một trụ xây có từ 10-12 dây tiêu (đường kính từ 1-1,2m) tương đương
31
11.000-13.000 dây tiêu/ha do đó vườn tiêu nhanh định hình, năng suất các năm đầu cao
và ổn định, đồng thời có đủ cơ sở để tăng năng suất.
Bảng 4.2. Một số chỉ tiêu về các loại trụ chết
Loại
khi cây tiêu còn nhỏ. Khi cây tiêu đã phủ trụ tác hại này thường rất hiếm khi xảy ra.
Như vậy, Trụ xây bằng gạch là một biện pháp kỹ thuật đòi hỏi quá trình thâm
canh tương ứng phải nghiêm ngặt, đồng bộ, vốn đầu tư ban đầu lớn.
Để bảo đảm sinh trưởng cho tiêu trên trụ gạch phải chú ý đến việc che chắn cho
cây tiêu non và tưới nước đầy đủ cho tiêu vào mùa khô.
* Kỹ thuật xây trụ bằng gạch:
Nguyên liệu: Vật liệu xây trụ phổ biến là gạch nung 4 lỗ (20cm x 10cm x 10cm),
đá vôi được kết dính bằng hồ xi-măng mác P
300,400
, có thể đá hộc – đá ong.
Kỹ thuật xây: Cách sắp xếp vật liệu cho tiết kiệm nhất là cách sắp có khoảng hở
giữa các viên gạch trong cùng hàng gạch, các viên gạch có thể cách nhau 5-6cm và
gạch đặt đứng. Trụ có thể xây theo hình khối vuông hay hình chóp cụt, khối lăng trụ tứ
diện
Kích thước phổ biến hiện nay là cao 3,5-4m, đường kính đáy 0,8-1,2m, đường
kính đỉnh 0,6-0,8m. Việc mở rộng hơn nữa đường kính trụ thường không đem lại năng
suất cao trên một đơn vị diện tích do sự che khuất giữa trụ này với trụ khác. Năng suất
tiêu vì thế sẽ không đồng đều giữa các trụ và thậm chí giữa các vị trí khác nhau trên
cùng một trụ. Mật độ trụ trên 1 ha có giảm lại so với trụ gỗ nếu xây trụ với kích thước
như trên (3x3m = 1100 trụ/ha).
32
* Trụ đúc: Trụ đúc bằng bê tông đã được dùng nhiều tại Thailand, Malaysia và
hiện nay tại nước ta đang được ưa chuộng tại miền Nam và Tây Nguyên.
Tại Tây Nguyên chi phí để đúc một trụ có thể đắt hơn giá mua một trụ gỗ chừng
15-20% (Phan Quốc Sũng, 2000).
Để dễ dàng cho việc đúc trụ hình dáng trụ thường là trụ vuông với các cạnh bằng
nhau (chiều dài mỗi cạnh 10-20cm), lỏi sắt 6mm gồm 2-3 thanh, đôi khi người ta thay
lỏi sắt bằng lỏi tre để tiết kiệm chi phí được tìm thấy tại Quảng Nam.
Những nghi ngờ về khả năng bám của tiêu cũng như sức nóng của trụ trong
thực hiện 2-3 lần trong khoảng thời gian trước trồng đến sau trồng 18 tháng. Khi điều
này không được thoả mãn, cấu trúc đất và dinh dưỡng trong đất thường giảm nhanh.
33
Kết quả là độ chua trong đất tăng thái quá, độc tố nhôm gia tăng (de Waard và Sutton,
1960). Tại những vùng trồng tiêu thâm canh trong nước vôi được dùng với lượng từ 1-
3 tấn/ha tùy theo độ chua của đất, nhiều loại thuốc trị nấm và sâu được sử dụng như
Furadan, Padan 4G, Diaphos 10H, Mexyl-MZ72WP. Thời điểm xử lý đất xảy ra trước
lúc trồng ít nhất là 20 ngày ở độ sâu 15cm (Bùi Cách Tuyến và Ngô Xuân Trung,
2000).
4.4.3. TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
- Kỹ thuật trồng:
Việc trồng cây trụ trước hay sau khi trồng tiêu phụ thuộc vào loại trụ gì, và có sử
dụng trụ tạm hay không. Nếu trồng cây trụ sống bằng hạt, trụ có thể được trồng trước
khi trồng mới cây tiêu con 2-4 năm, tuỳ theo sức sinh trưởng của từng loại cây trụ con.
Nếu trồng bằng trụ xây thì nhất thiết phải xây trước khi trồng cây tiêu con ít nhất là 1
tháng, nếu là trụ gỗ hay trụ sống bằng cành có kích thước lớn có thể trồng sau khi đã
trồng cây con từ 6 tháng đến 1 năm khi mà có trụ tạm trong suốt thời gian chưa có trụ
chính.
Khoảng cách giữa các trụ tiêu phụ thuộc nhiều vào loại trụ và kích thước trụ. Khi
sử dụng các loại trụ chết (gỗ và đúc) có kích thước nhỏ hơn 20cm đường kính hay trụ
sống của những cây có bộ tán hẹp và thưa thì khoảng cách thông thường là 2 x 2m.
Khoảng cách sẽ gia tăng lên 3 x 3m cho trụ xây có đường kính 0,8-1,2m và cuối cùng
là 2 x 2,5m cho những trụ sống có thân cành phát triển mạnh. Theo đó mật độ trụ sẽ
giao động trong khoảng từ 1100-2500 trụ/ha.
Qui cách đào hố trồng cũng phụ thuộc nhiều vào loại trụ và kích thước trụ, nếu là
trụ gỗ hay trụ sống và trụ đúc hai hố được đào có kích thước tối thiểu 40 x 40 x 40cm
đối diện hai bên trụ và cách xa trụ 30cm. Nếu là trụ xây thì đào hố hình vành khăn rộng
40cm và sâu 40cm cách thành trụ 15cm. Phân bón lót được thực hiện sau khi đào hố
xong (Xem liều lượng ở phần phân bón cho tiêu).
dụng khá phổ biến. Kết quả thí nghiệm tại Malaysia đã cho thấy rằng giá của phân hoá
học thường rẻ hơn giá của các loại phân hữu cơ được chế biến nếu so với cùng một
lượng dinh dưỡng nguyên chất được bón và thường đắt gấp đôi để thu được một lượng
tiêu hạt gia tăng giống nhau. Ngày nay do quan niệm về sử dụng đất nung là lảng phí
nên phân hữu cơ và vô cơ đã được sử dụng ngày càng nhiều.
* Phân hóa học: Phân đạm thường dùng cho đất ở nhiều mức độ pH khác nhau,
nhưng đạm sun phát chỉ nên dùng cho đất ít chua. Phân lân Văn Điển vẩn được ưa
chuộng hơn vì có hàm lượng Mg và Ca cao kết hợp trong loại phân lân này. Cả hai loại
phân KCl và K
2
SO
4
đều có thể dùng được cho tiêu.
Dạng phân hoá học hỗn hợp thường được sử dụng phổ biến tại Malaysia gồm hỗn
hợp của 1 Urea: 2 Supephosphat: 1 clo-rua ka-li (muriat potas) và khoáng chất
(kieserite) mà chủ yếu là ma-nhê (tỉ lệ nguyên chất 7:10:5 tương ứng với N:P
2
O
5
:K
2
O).
Những nguyên tố vi lượng được cung cấp là Fe, Cu, Cu, Bo, Mo, Mn.
+ Lượng phân và cách bón: Sim (1971) đã ước lượng tổng sản lượng chất khô
là 11.426 kg chất khô/ha cho trụ tiêu trưởng thành và lượng mất dinh dưỡng ước tính là
233 kg N, 39kg P
2
O
5
, 207kg K
năm đối với tiêu kinh doanh. Lần bón đầu tiên trong năm có thể xảy ra vào đầu mùa
mưa và khoảng cách giữa hai lần bón là 30-40 ngày. Phân bón nên được đặt trong băng
ở độ sâu 10-15cm, gần với vị trí đầu rễ và nên phủ phía trên nó một lớp đất. Phân bón
không nên đặt trên phần thân ngầm hoặc tiếp xúc trực tiếp với rễ, đặc biệt là các rễ
chính vì điều này có thể gây ra những tổn thương nghiêm trọng ở vùng rễ, thân ngầm
và có thể gây chết dây.
Những đề nghị bón của Phan Hữu Trinh và ctv (1987) như sau: Trong năm thứ
nhất gồm 4 đợt: đợt 1 (bón lót) toàn bộ phân chuồng và 2/3 phân lân, đợt 2 bón sau
trồng 20-30 ngày gồm 1/3 N và 1/3K; đợt 3 bón sau trồng 2-3 tháng gồm 1/3 N và 1/3
K, đợt 4 bón vào cuối mùa mưa số phân còn lại. Trong năm thứ hai gồm 3 đợt (đầu,
giữa và cuối mùa mưa) với tỷ lệ bón trong đợi 1 là 1/3N + 2/3P + 1/3K; đợt 2: 1/3N +
1/3K, và đợt 3: 1/3N + 1/3K + 1/3P. Từ năm thứ 3 trở đi bón đợt 1 sau khi hái gồm
toàn bộ phân hữu cơ + 1/3N + 1/4K + 1/4P; đợt 2 khi có mầm hoa bón 1/3N + 1/4P +
1/4K; đợt 3: lúc trái hình thành bón 1/3N + 1/4P + 1/4K số còn lại bón vào đợt nuôi trái
lớn và chín. Tuy nhiên, những khuyến cáo này tương đối hợp lý cho việc thâm canh
tiêu, thông thường người làm vườn trong vùng bón với cùng lượng phân trên hay ít hơn
chỉ 1 đến 2 lần trong năm vào cuối vụ thu hoạch và đầu mùa mưa.
Liều lượng phân bón phụ thuộc vào tính chất của đất đai, điều kiện khí hậu, kỷ
thuật canh tác và tình trạng sinh trưởng của cây. Tại các nước tiên tiến liều lượng này
phụ thuộc vào việc chẩn đoán dinh dưỡng lá hai lần trong năm ở thời kỳ tiêu kiến thiết
cơ bản và 5 lần trong năm ở tiêu kinh doanh (Phan Hữu Trinh et al., 1987).
Bảng 4.3. Lượng phân bón cho một gốc tiêu/năm
Loại
phân
Tuổi cây
Phân HC
(kg)
Urê(g)
Lân Văn
chống xói mòn bảo vệ đất như trồng cây theo đường đồng mức hay làm ruộng bậc
thang là hết sức cần thiết. Bất kỳ lúc nào vị trí trồng cũng nên được làm đầy và bổ sung
đất mặt từ nơi khác, hay đất nung.
- Xén tỉa- tạo hình - tỉa hoa và lá:
+ Mục đích của xén tỉa tạo hình: Tạo nên bộ khung thân chính có nhiều thân
ôm trọn đều cây trụ. Theo đó, bộ khung thân chính sẽ cho ra nhiều cành quả nhất, các
cành quả được phân bố đều và dày đặc để tạo cho cây tiêu có đường kính lớn, có khả
năng tiếp nhận ánh sáng tốt, tập Trung dinh dưỡng cho những cành quả phát triển đầy
đủ và cuối cùng là có năng suất cao. Ngoài ra việc xén tỉa tạo hình còn cung cấp một
lượng lớn hom giống cho việc trồng mới tiếp theo.
Thực chất thì việc xén tỉa tạo hình đã làm cho các cành quả có khả năng sinh
trưởng mạnh hơn, độ thành thục tăng dần sau mỗi lần bấm ngọn hoặc xén tỉa.
+ Cách xén tỉa tạo hình trên cây trồng bằng cành tược: Đối với cây con được
trồng bằng cành tược việc xén tỉa sẽ được thực hiện trong mùa mưa của năm sau. Tại
Malaysia, Indonexia, số lần xén tỉa thay đổi từ 3-7 lần trong suốt mùa mưa năm đó. Tại
Nam Bộ và Tây Nguyên có cách xén tỉa tương tự nhưng số lần ít hơn, chỉ từ 1-2 lần
trong năm thứ 2 sau trồng để tạo nên mỗi gốc tiêu có 4 thân. Với cách xén như thế trên
mỗi trụ xây người ta thường tạo nên 60-65 thân và 8-12 thân cho các loại trụ khác. Tại
khu vực Bắc Miền Trung để tạo nên nhiều thân trên trụ tiêu người ta thường trồng
nhiều hom hoặc cây con trong bầu trên một trụ thay vì cắt tạo hình trong năm sau.
Khi cây đã đạt được 1 năm tuổi, mọc khỏe, cao chừng 2m, cắt bỏ phần thân tược
trên cách gốc 25cm. Đoạn cành được cắt ra được dùng để làm cành hom cho việc phát
triển diện tích mới. Tại phần gốc đã cắt cành tược cấp 1 sẽ mọc ra, chừa lại nuôi 2-3
37
cành tược. Khi chúng đạt được 8-10 lóng lại tiến hành cắt đợt 2 cách chỗ phân cành
25cm (khoảng 3-4 lóng còn lại trên tược cấp 1), và cứ như thế tiến hành đợt 3 và
4 Cách tạo hình này sẽ tạo nên 1 gốc tiêu có 4 thân với các cành quả to khỏe và nhiều,
ngay ở những vị trí gần mặt đất.
+ Đôn dây tiê u trên cây tiêu trồ ng bằ ng cành lươn: Khoảng 1 năm.
kiệm được lượng nước tưới. Người ta thường tủ một lớp cỏ dày từ 12-15cm và cách
gốc tiêu từ 15-20cm vào cuối mùa mưa. Một thí nghiệm nhằm so sánh các biện pháp
canh tác được trồng từ năm 1960, kết quả về năng suất bình quân quả xanh từ năm
1963 cho đến nay cũng được cho như bảng dưới đây. Tất cả những trụ tiêu đều nhận
được 6 lb (2,7 kg) phân bón hỗn hợp. Vật liệu tủ gốc được dùng là cỏ tranh (lalang),
38
Imperata cylindrica, và cỏ làm thảm phủ Axonopus compressus.
Bảng 4.4: Kết quả năng suất tiêu tươi giữa các nghiệ m thức chuẩn bị đấ
khác nhau tại Malaysia (đơn vị: kg tiêu khô)
Có chuẩn bị hố 14.930 Không tủ gốc 13.840
Không chuẩn bị hố 15.190 Phân vi lượng
2oz/trụ
15.220
Có un bổ sung đất nung và đất
mặt
15.720 Phân vi lượng
1oz/trụ
14.900
Không bổ sung đất nung và đất
mặt
14.400 Có cỏ thảm phủ 14.810
Có tủ gốc 19.270 Không cỏ thảm phủ 15.310
Năng suất cao hơn một cách có ý nghĩa từ những nghiệm thức có un đất mặt và
đất nung và có tủ gốc. Việc un bổ sung đất (nói chung) đã cải tiến sinh trưởng và năng
suất của tiêu nhờ vào sự kích thích ra rễ mới tại vùng đất vừa được bổ sung. Việc tủ
gốc với thảm phủ là cỏ tranh khô quanh điểm trồng (trên ụ đã un) đã làm gia tăng
lượng chất hữu cơ và làm giảm lượng nước bị mất trong suốt mùa khô.
- Tưới nước:
Thời gian từ khi ra hoa đến khi thu hoạch khoảng 7 đến 10 tháng tuỳ theo giống,
loại sản phẩm hạt tiêu trắng, đen hay xanh và điều kiện khí hậu tại địa phương.
Tại những nơi có lượng mưa nhiều, phân bố khá đều trong năm thường có hai giai
đoạn ra hoa và hai giai đoạn thu hoạch, điều này xảy ra ở Ấn Độ thường có hai vụ thu
hoạch, một vào khoảng tháng 8-9 và vụ kia vào tháng 3-4 (Krishnamuthi, 1969).
Ở những nơi có mùa khô rõ rệt, chủ yếu chỉ có một mùa ra hoa và thu hoạch mà
thôi như tại Miền Nam và Tây Nguyên mùa thu hoạch vào giữa tháng 1-3, tại Bình Trị
Thiên vào tháng 5-6 hay tháng 5-8 tại Malaysia, tập Trung mạnh trong khoảng tháng 7-
8.
Việc thu hoạch cũng tiến hành khác nhau tùy theo ta muốn có tiêu đen hay tiêu
trắng sau này. Thu hoạch khi trái chín đầy đủ, tức là trái đã chín đỏ hoặc ít ra cũng ngã
màu vàng để chế biến thành tiêu trắng (tiêu sọ). Khi gié quả có 1-2 quả chuyển màu
vàng thì gié có thể được hái để chế biến tiêu đen hoặc ngay cả quả được hái khi gié quả
vẫn còn xanh như tại Malaysia hay Bắc Trung Bộ Việt Nam. Những chùm quả bị thiệt
hại và rụng cũng được thu thập để tạo ra tiêu đen. Vào cuối của thời kỳ thu hoạch tất cả
các chùm quả đều được thu hoạch, quả chín và chưa chín đều được dùng để sản xuất ra
tiêu đen. Điều này được thực hiện để bảo đảm rằng cây tiêu sẽ cho hoa và mang quả
đồng loạt trong năm sau đó. Ngoài ra, cây tiêu sau khi được thu hoạch hết nên được
loại bỏ tất cả các lá của nó ngoại trừ 2-3 lá cuối cùng của cành bên (Blacklock, 1954).
Tuy nhiên, điều này vẫn chưa được ứng dụng phổ biến hoặc chưa được tán thành bởi
những nhà khoa học khác.
Để chế biến tiêu đen, sau khi hái các gié được chất thành đống ủ trong 5 giờ, sau
đó đem ra phơi nắng. Ba bốn ngày sau tiêu héo đi và hạt tiêu trở nên đen, đem đập hay
chà bằng chân để lấy hạt, sàng sẩy lại và đem hạt phơi cho thật khô, giữ độ ẩm còn 11-
12%. Để cho hạt tiêu thật đen bóng, người ta thường nhúng các gié hạt vào nước sôi có
pha thêm một ít muối trong vài phút trước khi đem phơi (Phan Hữu Trinh et al., 1987).
Để chế biến tiêu sọ việc ngâm nước và chà xác nhằm loại bỏ lớp ngoại bì và phần
ngoài của lớp trung bì. Những bó mạch còn giữ lại sau khi chế biến, có thể quan sát
được ở mặt ngoài của hạt tiêu trắng. Việc chế biến này khó ở chỗ là làm sao đánh giá
được đúng lúc thích hợp, để không loại bỏ mất phần bó mạch và phần trong của lớp
tấn/ha). Những con số được cho bởi de Waard tại Sarawat, năng suất tiêu có thể đạt
được, trong điều kiện thâm canh cao tại vùng, từ 7.000-8.000lb tiêu tươi/acre (8-9
tấn/ha) trong vụ thu hoạch đầu tiên và 12.000-16.000 lb tiêu tươi/acre (13,5-18 tấn/ha)
trong năm thu hoạch thứ 6-7. Ông ta còn cho rằng năng suất có thể được duy trì cao
trong vòng 10 năm rồi sau đó mới giảm dần. Trong điều kiện sản xuất ít thâm canh tại
Ấn Độ, Krinamurthi (1969) cho rằng cây tiêu ở Ấn Độ sung mãn có thể cho năng suất
là 0,5 kg tiêu khô/cây và khả năng sản xuất có thể kéo dài Trung bình 25 năm hoặc có
thể lâu hơn. Năng suất bình quân tiêu đen trong cả nước tại Ấn Độ có thể thay đổi từ
110-335kg/ha. Ông ta còn cho rằng năng suất tiêu tươi bình quân tại Srilanka khoảng
2,5 tấn/ha, tại Indonexia (Sumatra) là 1,35 tấn/ha và Campuchia là 1,45 tấn/ha. Ở trình
độ thâm canh Trung bình năng suất tiêu đen tại Việt Nam là 0,4-0,5kg/trụ trong năm
thứ 3 và 1kg ở năm thứ 4 và tăng dần đến năm thứ 8 để đạt đến trên 2kg hoặc nhiều
hơn (Phan Hữu Trinh et al., 1987).
Nhìn chung có hai khuynh hướng về năng suất và tuổi thọ của cây tiêu. Khuynh
hướng thâm canh cao để thu được năng suất cao ngay trong giai đoạn đầu của thời kỳ
kinh doanh cây tiêu. Theo đó đời sống kinh tế của trụ tiêu sẽ bị rút ngắn như tại
Sarawat, hay Đông Nam Bộ ở Việt Nam. Khuynh hướng quảng canh mà năng suất
41
thường bấp bênh và thấp (ít nhất trong giai đoạn đầu của thời kỳ kinh doanh) tuổi thọ
của cây tiêu thường dài hơn và có thể dài gấp đôi khuynh hướng trên.
Bài 5
SÂU BỆNH HẠI TIÊU VÀ CÁCH PHÒNG TRỪ
5.1. SÂU:
Có nhiều loại sâu hại trên cây tiêu, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Dưới đây
là một số loại sâu hại chính có mặt tại nhiều vùng trong nước ta.
- Mối (Coptotermes sp):
Mối tiêu là loại mối nhỏ, có màu trắng đục hoặc màu vàng nhạt, cơ thể mềm, có
thể có cánh hoặc không. Mối thợ nhỏ nhất, cơ thể dài 4mm, đầu tròn màu vàng xám,
hàm nhỏ. Mối lính lớn hơn, dài khoảng 5mm, đầu màu nâu, hàm phát triển có màu nâu