CHƯƠNG 4
CÁC LUẬT TỤC CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
4.1. Tri thức bản địa và quản lý tài nguyên rừng
4.1.1. Khái niệm về tri thức bản địa và bảo vệ tài nguyên rừng
Trong những thập kỷ gần đây, khái niệm của sự phát triển đã tiến triển qua nhiều giai đoạn, từ việc chú
trọng vào tăng trưởng kinh tế, đến tăng trưởng với sự công bằng, thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, sự tham
gia đến phát triển bền vững (Bates, 1998; Black, 1993; Hobart, 1993; Watts, 1993).
Một thời kỳ dài, khái niệm phát triển gần như chú trọng đến các tiêu chí về công nghiệp, khoa học công
nghệ, kinh tế .v.v. khoa học hiện đại, phát triển trên cơ sở khoa học hàn lâm được phân tích trên cơ sở hệ
sinh thái tự nhiên. Trong khi đó, như đã trình bày ở mục trên, hệ sinh thái nhân văn đóng một vai trò quan
trọng trong sự phát triển xã hội. Hệ xã hội trong hệ sinh thái nhân văn được coi như một phần quan trọng
trong phép phân tích hệ thống. Tri thức bản địa là hệ thống thông tin làm cơ sở của một hệ thống xã hội,
được làm thuận tiện trong sự truyền đạt thông tin và ra quyết định. Hệ thống thông tin bản địa là động lực
và sự tác động liên tục bởi sự sáng tạo từ nội lực, sự thực nghiệm, cũng như sự giao diện với hệ thống bên
ngoài (Flavier và ctv. 1995).
Tri thức bản địa, nói một cách rộng rãi là tri thứ
c được sử dụng bởi những người dân địa phương trong
cuộc sống của một môi trường nhất định (Langil và Landon, 1998). Như vậy, tri thức bản địa có thể bao
gồm môi trường truyền thống, tri thức sinh thái, tri thức nông thôn và tri thức địa phương .
Theo Johnson, 1992, tri thức bản địa là nhóm tri thức được tạo ra bởi một nhóm người qua nhiều thế hệ
sống và quan hệ chặt chẻ với thiên nhiên trong một vùng nhấ
t định. Nói một cách khái quát, tri thức bản
địa là những tri thức được rút ra từ môi trường địa phương, vì vậy nó gắn liền với nhu cầu của con người
và đIều kiện địa phương (Langil và Landon, 1998).
Theo Warren, 1991, tri thức bản địa là tri thức địa phương – dạng kiến thức duy nhất cho một nền văn
hóa hay một xã hội nhất định. Đây là kiến thức cơ bản cho việc ra quyết định ở mức địa phương về nông
nghiệp, chăm sóc sức khỏe, chế biến thức ăn, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên nhiên, và các hoạt động
chủ yếu của cộng đồng nông thôn. Khác với tri thức bản địa hệ thống tri thức hàn lâm thường được xây
dựng từ các Trường đại học, Viện nghiên cứu.
Ngày nay, tri thức bản địa được xem như là một trong những vấn đề then chốt trong việc sử dụng tài
thức bản địa thường có thể được cung cấp rẻ tiền, giải quyết được các vấn đề mang tính địa phương nhằm
nâng cao sức sản xuất và mức sống.
Tri thức bản địa có giá trị và ảnh hưởng l
ớn đến hệ thống quản lý tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài
nguyên rừng với các cộng đồng dân tộc miền núi vì vậy có thể coi như là cơ sở và là nguồn tiềm năng
chính của việc quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên địa phương (Boonto, 1992). Vì vậy, tri thức bản
địa phải được coi là một nguồn tài nguyên quý giá và quan trọng của từng địa phương và của đất nước
(Hoàng Xuân Tý, 1998).
4.1.3. Các loại hình tri thức bản địa
Theo IIRR, 1999, tri thức bản địa có thể phân ra các loại hình như sau:
- Thông tin: Hệ thống thông tin về cây cỏ, thực vật có thể được trồng trọt hay canh tác tốt cùng tồn tại
với nhau trên cùng một diện tích canh tác nhất định hay những chỉ số về thực vật. Các câu chuyện, thông
điệp được truyền lại bằng các vết đục, chạm khắc hay viết trên các thẻ trúc (Trung quốc, Việt nam, Thái
lan ), các dạng lưu truyền dân gian, hệ thống trao đổi thông tin truyền thống.
- Thực tiễn và kỹ thuật: Tri thức bản địa bao gồm kỹ thuật về trồng trọt và chăn nuôi, và phương pháp
lưu trữ giống, chế biến thức ăn, kỹ năng chữa bệnh cho người và gia súc, gia cầm.
- Tín ngưỡng: Tín ngưỡng có thể đóng vai trò cơ bản trong sinh kế, chăm sóc sức khỏe và quản lý môi
trường của con người. Những cánh rừng thiêng (rừng ma) được bảo vệ với những lý do tôn giáo. Những lý
do này có thể duy trì những lưu vực rộng lớn đầy sức sống. Những lễ hội tôn giáo có thể là cơ hội bổ sung
thực phẩm, dinh dưỡng cho những cư dân địa phương khi mà khẩu phần thường nhật của họ là rất ít ỏi.
- Công cụ: Tri thức bản địa được thể hiện ở những công cụ lao động trang bị cho canh tác và thu hoạch
mùa màng. Công cụ nấu nướng cũng như sự thực hiện các hoạt động đi kèm.
- Vật liệu: Tri thức bản địa được thể hiện với vật liệu xây dựng, vật liệu làm đồ gia dụng cũng như tiểu
thủ công nghiệp truyền thống.
- Kinh nghiệm: Người nông dân thường tích lũy kinh nghiệm trong quá trình canh tác, giới thiệu các
nguyên liệu giống mới cho hệ thống canh tác đặc hữu. Nhiều kết quả chữa bệnh đặc biệt được tích lũy qua
kinh nghiệm sử dụng nguồi thực vật địa phương.
- Tài nguyên sinh học: Tri thức bản địa được thể hiện thông qua quá trình chọn giống vật nuôi và các loại
cây trồng.
- Tài nguyên nhân lưc: Nhiều chuyên gia có chuyên môn cao như thầy lang, thợ rèn có thể coi như đại
iii. Nhà cải cách (Innovator)- người hiểu biết thuộc nhóm này có thể phát triển ý tưởng bởi chính họ,
hoặc giới thiệu ý tưởng đã được quan sát sâu sắc cho cộng đồng thử nghiệm, họ cúng có thể là người giới
thiệu ý tưởng ngoại lai vào cộng đồng.
iv. Người trung gian (Intermediary)- là nhóm người chuyển giao thông tin từ nơi này đến nơi khác và giới
thiệu ý tưởng thử nghiệm cho cộng đồng cư dân địa phương, nhóm thông tin này có thể trở thành tri thức
bản địa theo sự thử nghiệm và điều chỉnh theo điều kiện lập địa của địa phương.
v. Người dễ tiếp nhận (Recipient-disseminator)- là những người dễ tiếp nhận nhóm tri thức ngoại lai
hoặc tự nghiên cứu thử nghiệm nhằm tạo nhóm tri thức bản địa theo thời gian.
4.1.5. Đặc trưng của tri thức bản địa
Tri thức bản địa có những đặc trưng sau:
1. Đa Tri thức bản địa được hình thành và biến đổi liên tục qua các thế hệ trong một cộng đồng địa
phương nhất định
2. Tri thức bản địa có khả năng thích ứng cao với môi trường riêng của từng địa phương, nơi đã hình
thành và phát triển tri thức đó.
3. Tri thức bản địa rất đơn giản, chi phí thấp và bền vững đối với điều kiện tự nhiên địa phương
(Wongsamun, 1992; Hoàng Xuân Tý, 1998b)
4. Tri thức bản địa do toàn thể cộng đồng trực tiếp sáng tạo ra qua lao động trực tiếp
5. Tri thức bản địa không được ghi chép bằng văn bản cụ thể (Mundy và Compton, 1992) mà được lưu
giữ bằng trí nhớ và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, thơ ca, hò vè, tế lễ và
nhiều tập tục khác nhau (thông qua các hình thức văn hóa đặc trưng mang tính địa phương).
6. Tri thức bản địa luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn hóa, tập tục địa phương
7.
Tri thức bản địa có giá trị cao trong việc xây dựng các mô hình phát triển nông thôn bền vững.
8.
Tính dạng của tri thức bản địa rất cao
Theo Boonto (1992), tri thức bản địa của người dân tộc Karen vùng Tam giác vàng trong bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên có 3 đặc trưng là i. Ảnh hưởng của các tổ chức xã hội quản lý cộng đồng, ii. Luật tục
và các quy ước sử dụng đất, và iii. Kỹ thuật sử dụng và bảo vệ tài nguyên của địa phương.
4.1.6. Tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên
Dân số thế giới ngày càng tăng nhanh, nhu cầu của con người cũng tăng lên mạnh mẽ theo tốc độ tăng
ở Sơn La phân loại đất theo mục đích sử dụng và hệ thống phân loại đất canh tác theo địa hình chung,
theo màu, bằng dao, bằng vị giác và cây chỉ thị nhằm xác định cơ cấu cây trồng thích hợp cho từng loại
đất đai (Hoàng Hữu Bình, Hoàng Xuân Tý, 1998). Việc phân loại đất canh tác góp phần quan trọng trong
việc sử dụng đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Các dự án quản lý tài nguyê
n
thiên nhiên cần phát triển trên hệ thống tri thức bản địa có sẵn (Boonto, 1992), phân tích và phát triển trên
cơ sở thực thi dự án có sự tham gia của cộng đồng cư dân địa phương.
Thông thường, các dự án phát triển bắt đầu với việc phát hiện vấn đề sau đó thảo luận tìm hướng giải
quyết vấn đề. Ví dụ, nếu tình trạng xói mòn đất là vấn đề cần quan tâm. Vậy, bảo vệ đất đai chống xói
mòn là yêu cầu cần giải quyết. Nếu nông dân cần tiền để đầu tư cho trang trại, chương trình tín dụng cần
phải được trả lời. IIRR, (1999) đề nghị biểu đồ tổng kết những quyết định phải được thực thi. Có 4 bước
cơ bản như sau.
Tri thức bản địa dưới góc độ tri thức kỹ thuật bản địa đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển
nông thôn và bảo vệ tài nguyên môi trường. Tại Thái Lan, chỉ vài nghiên cứu về tri thức bản địa được tổ
chức vào năm 1987 tại miền Đông Bắc người ta đã tìm thấy 993 tri thức kỹ thuật bản địa được sử dụng
thường xuyên bởi người dân địa phương (Wongsamun, 1992).
K
ết quả điều tra được tổ chức tại thôn Phú mậu Tỉnh Thừa Thiên Huế, gần 200 tri thức bản địa, kiến thức
dân gian được thu thập về các lĩnh vực kỹ thuật canh tác, sử dụng bền vững tài nguyên rừng. Các nhóm tri
thức bản địa thường khá đơn giản, dễ dàng sử dụng đối với từng nhóm dân tộc, độ tuổi và ngành nghề nên
thường có hiệu quả cao.
4.1.7. Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu tri thức bản địa
Tiếp cận tri thức bản địa cần có nhiều hiểu biết về kỹ thuật lẫn xã hội, thông thường nên sử dụng các
phương pháp có người dân tham gia như PRA (Hoàng Xuân Tý, 1998), nhưng cần sử dụng rất linh hoạt,
kiểm tra nhanh kết quả và kết hợp đa ngành.
Có nhiều phương pháp tiếp cận tri thức bản địa vì vậy có thể lựa chọn phương pháp tiếp cận linh hoạt tùy
theo đIều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa điểm nghiên cứu.
1. Nhận ra chuyên gia tri thức bản địa: Là phương pháp xác định nhận diện cá nhân hiểu biết bằng
phương pháp đặt câu hỏi hoặc biểu đồ hóa.
năm.
18. Biểu đồ Venn: Là phương pháp sử dụng các vòng tròn nhỏ bằng giấy nhằm nhận định vấn đề, mối
liên hệ của nhóm ý tưởng và phát triển ý tưởng (IIRR, 1999).
19. Sắp xếp và xếp hạng: Là phương pháp dẫn dắt sắp xếp ý tưởng theo nhóm với tiêu chí cụ thể nhằm
phát hiện tiêu chuẩn nghiên cứu.
20. Phân loại: Là phương pháp phân loại, định danh nhóm chủ đề, ý tưởng và khái niệm.
21.
Đai và lưới: Là phương pháp minh họa mối quan hệ của vấn đề bằng biểu đồ, mạng lưới, đai hoặc dãi
thông tin nhằm liên kết ý tưởng và nhóm ý tưởng.
22.
Tư liệu hóa thu âm: Là phương pháp phỏng vấn trực tiếp, thảo luận nhóm, hội thảo có sử dụng
phương tiện thu âm.
23. Tư liệu hóa ghi hình với sự tham gia: Sử dụng phương tiện video nhằm tư liệu hóa và phân tích
hành động với sự tham gia và thảo luận của nhóm điều tra viên và cộng đồng cư dân địa phương.
24. Tư liệu hóa lưu ảnh: Nhằm lưu kiện, minh họa, phân tích dữ liệu bằng ảnh âm bản hoặc dương bản.
4.2. Thực trạng quản lý rừng ở Việt Nam
Việt Nam có 33.091.093 ha thì diện tích rừng, đất rừng và đất chưa sử dụng chiếm hơn 70%, trong đó đất
chưa sử dụng đã chiếm tới 37,1% (khoảng 12 triệu ha). Điều này có nghĩa rằng mọi nỗ lực của những
người hoạt động trong lĩnh vực Lâm nghiệp cho dù là của các nhà hoạch định chính sách/các nhà nghiên
cứu đào tạo/các cán bộ hiện trường … đều phải quan tâm và tìm cách góp sức mình vào việc tái tạo lại
rừng trên đất trống đồi núi trọc.
Theo tài liệu “Kết quả tổng điều tra Nông thôn và Nông nghiệp của Tổng cục Thống kê năm 1994, thì
tổng diện tích đất đai của Việt Nam là 33.091.093 ha, trong đó đất Lâm nghiệp là 12.055.239 ha chiếm tỷ
lệ 36,7%. Đất chưa sử dụng là 12.168.219 ha chiếm tỷ lệ 37,1%; trong đó đất có khả năng nông lâm
nghiệp là 7.795.909,9 ha. Trong đó:
- Đất lâm nghiệp là 12.055.239 ha chiếm tỷ lệ 36,7%.
- Đất chưa sử dụng là 12.168.219 ha chiếm tỷ lệ 37,1%, trong đó đất có khả năng Lâm nghiệp là
7.795.909,3 ha.
Tài liệu này đã phân tích quyền sử dụng đất Lâm nghiệp theo 2 lĩnh vực: Nhà nước (4.938.359 ha) và đất
giao cho hộ gia đình quản lý (840.970,5 ha). Tổng của 2 hình thức quản lý này là 5.779.329,5 ha. Vậy diện
Hiện nay, quan điểm về quản lý sử dụng đất đai và tài nguyên rừng đang dần dần quán triệt trên nguyên
tắc phát triển bền vững, đó là “Sự phát triển nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không
làm tổn hại đến những khả năng phát triển để thoả mãn những nhu cầu thế hệ tiếp theo” [2].
Phát triển bền vững phải đảm bảo sử dụng đúng mức và ổn định các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo
vệ được môi trường sống. Đó không chỉ phát triển nền kinh tế - văn hoá - xã hội một cách vững chắc nhờ
vào khoa học công nghệ tiên tiến, mà còn đảm bảo ổn định và cải thiện những điều kiện tự nhiên mà con
người đang sống trong đó và chính sự phát triển đang dựa vào đó để ổn định bền vững Do đó, trong mỗi
điều kiện hoàn cảnh cụ thể và môi trường tài nguyên, con người phải tìm ra hướng phát triển tối ưu của
mình, nhằm bảo đảm lợi ích tổng hợp trên tách cả các mặt: Kinh tế, xã hội, và môi trường sinh thái.
Đất lâm nghiệp có địa hình phức tạp, đồi núi dốc là đối tượng chủ yếu trong sản xuất kinh doanh lâm
nghiệp, do đó vấn đề quan trọng trước tiên đặt ra là phải xác định được các biện pháp quản lý và sử dụng
đất dốc thích hợp, hạn chế xói mòn chống thái hoá đất, bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển lâu bền.
Để đảm bảo sử dụng tài nguyên theo hướng bền vững, ở mỗi nước mỗi khu vực đều tìm tòi lựa chọn cho
mình một chiến lược và chính sách quản lý thích hợp. Nhìn tổng quát, có xu hướng chung là gắn liền đất
đai và tài nguyên rừng với cư dân địa phương, phát triển một nền lâm nghiệp vì con người.
Trong những thập kỷ qua, việc quản lý bảo vệ và xây dựng một chiến lược phát triển lâm nghiệp ở các
quốc gia trên thế giới có nhiều chuyển biến, có thể tóm tắt những xu hướng trên thế
g
iới trong những thời
gian gần đây như sau:
- Chuyển từ nền lâm nghiệp khai thác lợi dụng rừng là chính sang thực hiện mục tiêu lợi dụng rừng kết
hợp cả ba lợi ích: kinh tế - xã hội - môi trường sinh thái, chú trọng nhiều hơn mục tiêu phát huy tác dụng
sinh thái của rừng.
- Phi tập trung hoá phân cấp quản lý Nhà nước về rừng chuyển giao dần trách nhiệm quyền lực về quản lý
rừng từ cấp trung ương xuống cấp địa phương và cơ sở.
- Đẩy mạnh giao đất giao rừng cho các hộ nông dân và cộng đồng giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước tạo
điều kiện cho việc quản lý rừng năng động hơn.
- Thu hút sự tham gia của các nhóm cộng đồng dân cư được hưởng lợi từ rừng. Khuyến khích họ tham gia
vào công tác quản lý rừng, phát huy rừng, các chương trình lâm nghiệp cộng đồng, các khu rừng bảo tồn
thiên nhiên, làng, bản.
hơn 56 triệu hộ được giao, hơn 31,33 triệu ha được tự lưu sơn, hơn 50,66 triệu đất đồi núi đã được giao
đến hộ. Đến cuối 1996 đã hoàn thành cấp giấy chứng nhận lâm quyền được 192 triệu ha. Trên cơ sở đó đã
phát triển nhiều hình thức trao đổi quyền sử dụng đất rừng, để khắc phục tình trạng đất đai, rừng núi bị
phân tán Trung Quốc đã ban hành nhiều luật pháp, chính sách kinh tế để tạo điều kiện thực hiện tốt việc
lưu chuyển và trao đổi quyền sử dụng đất lâm nghiệp [3].
* Ở Philíppin từ những năm 1970 Chính phủ đã quan tâm đến phát triển LNXH. Năm 1982 Chính phủ xây
dựng dự án LNXH quốc gia chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho cộng đồng. Một dạng hợp đồng sử
dụng của cộng đồng là hợp đồng thuê quản lý rừng được ký với các hộ gia đình, cộng đồng hoặc các
nhóm. Trong thời hạn thực hiện hợp đồng các chủ nhân của hợp đồng thuê quản lý rừng được phép thu
hoạch, chế biến sản phẩm, bán hoặc các hình thức sử dụng khác. Một dạng thứ hai của hợp đồng cộng
đồng Phi líp pin là công nhận quyền quản lý của dân tộc thiểu số trên mảnh đất tổ tiên họ để lại, người dâ
n
được ký hợp đồng với Chính phủ trong 25 năm và cũng có thể kéo dài trong 25 năm tiếp theo [3].
Vấn đề giao đất giao rừng giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển có sự khác nhau rất nhiều.
Tại các nước phát triển dân số tăng chậm, trái lại năng suất công nghiệp, nông nghiệp lại tăng nhanh nên
không có nạn thiếu đất cho nông nghiệp mà trái lại, ở các nước Tây Âu đang có vấn đề rút bớt đất nông
nghiệp để trả lại cho lâm nghiệp. Chế độ tư hữu ở các nước đó đã sản sinh ra một tầng lớp tiểu chủ đông
đảo về rừng.
* Ở Pháp rừng tư nhân chiếm khoảng 10 triệu ha, trong khi đó rừng Nhà nước chỉ chiếm khoảng 4 triệu
ha. Trong đó 10 triệu ha rừng tư nhân thì có một nữa thuộc về 1,5 triệu tiểu chủ đồn điền đất đai.
* Ở Thụy Điển 25% rừng và đất rừng thuộc về Nhà nước, 25% thuộc về các Công ty lớn còn 50% thuộc về tư
nhân, cá thể. Ở đây vấn đề giao đất giao rừng cho nông dân không được nêu lên.
* Ở Phần Lan có khoảng 2/3 tổng diện tích đất lâm nghiệp thuộc về quyền sở hữu tư nhân, khoảng
430.000 chủ rừng và mỗi chủ rừng ước tính khoảng 33 ha. Ở Phần Lan sở hữu cá nhân về rừng và đất
rừng mang tính truyền thống [3].
4.3. Các giai đoạn quản lý Lâm nghiệp
Các chính sách lâm nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý đất lâm nghiệp, đặc biệt là trách nhiệm và
quyền lợi của các bên có liên quan trong quản lý tài nguyên rừng và đất rừng. Tuy nhiên các chính sách
luôn luôn thay đổi hoặc chỉnh sữa cho phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vì
vậy chúng ta có thể chia ra các giai đoạn lịch sử để phân tích tác động của các chính sách như sau:
hộ gia đình vay theo nguyên tắc không lấy lãi. Việc hoàn trả vốn vay bắt đầu từ lúc có sản phẩm. Ngày
22/7/1992 Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định số 264/CT về chính sách đầu tư phát triển rừng.
Quyết định này giải quyết khó khăn về vốn cho nhân dân gây trồng cây lâm nghiệp ở vùng định canh định
cư, Nhà nước hổ trợ cho vay vốn không lấy lãi và cũng từ đây ngành lâm nghiệp đã cùng với các địa
phương vận dụng và thực hiện giao đất giao rừng đến các hộ dân, công nhân trong lâm trường. Vì vậy,
công tác giao đất, giao rừng trong thời kỳ này đã có những tiếp bộ đáng kể mang lại
n
hững khởi sắc cho
nghề rừng nước ta. Ở những nơi thực hiện đúng chính sách giao đất giao rừng, thì rừng đã có người làm
chủ cụ thể không còn tình trạng chủ rừng chung chung mà thực chất là vô chủ. Vì vậy người nông dân đã
yên tâm đầu tư vào việc kinh doanh rừng và bồi bổ đất đai. Nhiều nơi đã có sản phẩm hàng hoá, diện tích
đất trống đồi núi trọc đã được đưa vào khai thác sử dụng ngày càng tăng, nhiều mô hình sản xuất theo
phương thức nông lâm kết hợp, làm vườn rừng trang trại khá phổ biến ở nhiều địa phương. Qua nhận đất
nhận rừng đời sống nông dân được nâng lên khá rõ rệt. Những hộ nông dân và công nhân lâm trường nhận
đất, nhận rừng thu hoạch từ rừng vài chục triệu đồng hàng năm không còn là hiện tượng hiếm thấy, đó là
những tiến bộ bước đầu đáng khích lệ của công tác giao đất khoán rừng trong gai đoạn này, làm tiền đề
cho chuyển hướng ngành lâm nghiệp, từ lâm nghiệp quốc doanh sang lâm nghiệp xã hội ở nước ta.
Thời kỳ 1993 - 2003
Từ đầu năm 1993 Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các nghị quyết, chủ trương và chính sách nhằm thực
hiện triệt để công tác giao đất giao rừng.
Nghị quyết trung ương lần thứ 5 (1993) về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, đã nhấn mạnh:
“Đổi mới cơ chế quản lý ngành lâm nghiệp, thực hiện phổ biến việc giao khoán rừng và đất rừng phù hợp
với quy hoạch và phương thức phát triển từng vùng, từng loại rừng”
- Luật đất đai đã được Quốc hội thông qua ngày 14/7/1993 và có hiệu lực từ ngày 15/10/1993. Đây là một
sắc luật quan trọng về đất đai, cụ thể hoá điều 17,18 hiến pháp năm 1992, nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Việc Quốc hội thông qua luật đất đai, vừa đảm bảo phát huy quan hệ sở hữu toàn dân về
đất đai, vừa phù hợp với cách vận hành mới của một nền kinh tế hàng hoá, bắt đầu tiếp cận với cơ chế thị
trường hiện đại.
Nghiên cứu tổng quát những sửa đổi bổ sung về chính sách đất đai thời kỳ này có thể thấy những vấn đề
nổi bật cần chú ý sau đây:
lâm trường quốc doanh, các thành phần kinh tế khác và các hộ gia đình để ổn định sản xuất lâu dài.
· Từng bước tiến hành giao đất và phát triển rừng cộng đồng trên cơ sở nghiên cứu cơ chế và ban hành
các quy định cụ thể trong việc bảo vệ, phát triển, sử dụng và kinh doanh các loại hình rừng này.
· Trong phần đất lâm nghiệp giao cho từng gia đình, thúc đẩy phát triển nông lâm kết hợp, góp phần xoá
đói giảm nghèo.
· Mở rộng và củng cố quyền của người được giao đất, thuê đất cũng như làm rõ và đơn giản hoá thủ tục
để có thể thực hiện các quyền của người sử dụng.
Định hướng của chính sách lâm nghiệp đã được đề cập trong giai đoạn này nhằm mục đích:
· Bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên rừng và đất rừng hiện tại và tương lai một cách bền vững trên cơ
sở đáp ứng các nhu cầu của quốc gia về sản phẩm và bảo vệ môi trường.
· Nâng cao sản lượng và cải tiến khai thác, vận xuất, vận chuyển, chế biến, hệ thống thị trường các sản
phẩm từ rừng để giảm lãng phí, nâng cao lợi ích kinh tế, xã hội và xuất khẩu.
· Nâng cao sự tham gia của người dân và có sự cam kết của tất cả các thành phần kinh tế (Nhà nước,
hợp tác xã, hộ gia đình, công ty tư nhân, và cá nhân) trong bảo vệ, sản xuất và sử dụng hợp lý các sản
phẩm rừng và các lợi ích về môi trường.
· Góp phần cải tiến điều kiện sống và thu nhập của người dân nông thôn và đặc biệt là người dân và các
cộng đồng dân tộc miền núi.
Mục đích cuối cùng là các chính sách lâm nghiệp được chấp nhận bởi người dân và các cơ quan Nhà
nước sẽ chia sẽ quyền và trách nhiệm đối với các khu rừng sản xuất và phòng hộ. Với mỗi vùng kinh tế
cần tạo ra cơ hội để có được sự tham gia một cách đầy đủ trong phân chia lợi ích của các sản phẩm và
môi trường từ tài sản rừng quốc gia.
Các mục tiêu và chiến lược của chính sách lâm nghiệp quốc gia là:
Xây dựng lâm phận quốc gia gồm có rừng và đất rừng, nuôi dưỡng và quản lý chúng phù hợp với mục
đích xã hội và môi trường của quốc gia, tuân theo các chính sách lâm nghiệp và Luật bảo vệ và phát triển
rừng
Xây dựng kế hoạch bảo vệ và quản lý rừng cho các nguồn tài nguyên rừng quốc gia, và đáp ứng được nhu
cầu lập kế hoạch và quản lý cho từng địa phương.
Có sự cam kết tuân theo các chính sách lâm nghiệp, luật và các quy chế của tất cả các thành phần xã hội
trong các hoạt động quản lý tài nguyên rừng
Cải tiến việc khai thác, vận chuyển, chế biến và thị trường các sản phẩm từ rừng để giảm sự lãng phí và
Mặt khác trong quá trình tiếp cận, nhiều hoạt động đã chú trọng đến sự tham gia của cộng đồng trong
quản lý nguồn tài nguyên hoặc quản lý nguồn tài nguyên dựa vào cộng đồng như QHSD đất và giao đất
Lâm nghiệp có sự tham gia, quản lý rừng dựa vào cộng đồng.
Những nghị quyết, quyết định và chỉ thị trên đây đã đánh dấu sự thay đổi cơ bản trong chủ trương đường
lối của Đảng và Nhà nước ta, công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế hộ gia đình,
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo bình đẳng quyền và nghĩa vụ trước pháp luật, bảo hộ
quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ gia đình, cá nhân trên diện tích đất lâm nghiệp
được giao. Đây chính là động lực trực tiếp kích thích người dân yên tâm nhận đất nhận rừng để sản xuất
kinh doanh, kinh tế hộ gia đình có điều kiện phát triển hơn. Mỗi người dân nói chung, đặc biệt là nông dân
miền núi, rất phấn khởi thực hiện chính sách này. Chủ trương giao đất lâm nghiệp của Đảng và Nhà nước
đến nay đã đi vào cuộc sống của người dân miền núi bao đời nay gắn bó v
ới rừng.
Giao đất lâm nghiệp ở nước ta được hình thành như là một cấu thành quá trình đổi mới kinh tế hiện nay.
Muốn quản lý bảo vệ và phát triển rừng thì mỗi khu rừng phải có chủ rừng, và chủ rừng phải có lợi ích
thực sự từ rừng và nghề rừng.
Thực tế cho thấy: Thông qua kết quả giao đất giao rừng cho ở nhiều địa phương trong cả nước đ
ã thực
hiện tốt công tác bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc tăng độ che phủ của rừng, tạo các vùng cây
công nghiệp, cây ăn quả, cây nguyên liệu tập trung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập, nâng cao
đời sống nhân dân trong vùng, điển hình làm tốt như các tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Thanh Hoá,
4.4. Phân tích về một số điểm trong các chính sách liên quan
Từ sau khi có Luật đất đai năm 1993, luật phát triển bảo vệ rừng và một số chính sách mang tính pháp lý
đã thực sự thu hút sự quan tâm của mọi thành phần kinh tế. Nó đã đề cập và đưa ra những qui định, quyết
định cần thiết, hợp ý dân trong thời kỳ đổi mới.
Tuy nhiên một số tồn tại đã bộc lộ trong quá trình thực hiện chính sách như:
Chính sách giao đất cho người dân đã có, nhưng tại sao thực hiện lại không có hiệu quả và Còn nhiều
vướng mắc. Giữa chính sách và thực hiện có gì là bất cập? Vì sao việc cấp giấy phép về quyền sử dụng đất
lại khó khăn đến vậy?
Việc Nhà nước “cho thuê đất” mà đối tượng được thuê là tổ chức/hộ gia đình/cá nhân trong nước và
ngoài nước đồng thời lại xác lập quyền cho thuê/chuyển đổi/chuyển nhượng quyền sử dụng đất Liệu
hoang hoá, thực trạng này chứng tỏ chủ trương giao đất giao rừng trong giai đoạn này chưa tạo điều kiện
tích cực trong việc quản lý bảo vệ rừng và phát triển tài nguyên rừng. Nguyên nhân của những hạn chế đó:
- Đời sống nhân dân còn quá nghèo lại thiếu sự hỗ trợ của Nhà nước, nên sản xuất kinh doanh lâm nghiệp
gặp nhiều khó khăn, mặt khác nghề rừng đối với miền núi chủ yếu là hái lượm và khai thác những sản
phẩm sẵn có để giải quyết đời sống hàng ngày, cho nên khi giao đất giao rừng họ lại tự do khai thác nhiều
hơn làm cho rừng bị nghèo kiệt.
- Thị trường ở miền núi chưa phát triển, nên chưa kích thích được quá trình s
ản xuất kinh doanh trên phần
đất được giao.
- Tập quán canh tác còn lạc hậu, chưa chuyển giao được phương thức canh tác tiên tiến trên đất dốc cho
người dân miền núi, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật để thực hiện điều đó vẫn còn hạn chế.
- Việc thực hiện giao đất giao rừng đến các hộ dân cư chưa được các ngành chức năng, chính quyền địa
phương thự
c hiện nghiêm túc, như còn giao để lấy thành tích, mà không tính đến khả năng của người nhận
đất, chưa có sự thống nhất về nội dung, kỹ thuật biện pháp giao rừng từ Trung Ương đến địa phương trong
phạm vi cả nước đã dẫn đến nhiều cách hiểu, cách vận dụng, cách làm khác nhau. Vì vậy chưa tạo được
yên tâm cho người dân đầu tư sản xuất trên rừng đất rừng được Nhà nước giao. Do vậy giao đất giao rừng
trong thời kỳ này chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, sau đó phải giao đi giao lại, hậu quả dẫn đến
mất rừng.
Từ 1993 - 2003: Đây là giai đoạn có những thay đổi cơ bản trong quản lý sử dụng rừng và đất rừng ở Việt
Nam, đó là sự ra đời của Luật đất đai, Nghị định 02/CP, nghị định 01/CP, Nghị định 163/CP công tác
giao đất lâm nghiệp đã được thực hiện theo những nguyên tắc và quy định mới.
Theo số liệu tổng hợp của Cục kiểm lâm, đến cuối năm 1999 cả nước giao được 8.786.572 ha đất lâm
nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đạt 59% tổng diện tích quy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp,
bao gồm:
Trong quy hoạch đất lâm nghiệp 3 loại rừng theo mục đích sử dụng:
+ Rừng đặc dụng 2.119.547 ha đã giao được 972.375 ha chiếm 46%.
+ Rừng phòng hộ với diện tích quy hoạch 6,8 triệu ha, đã giao được 3.196.343 ha chiếm 47%.
+ Rừng sản xuất 9,6 triệu ha, đã giao với diện tích 4.617.872 ha chiếm 48%.
Trong đó giao cho 27.312 tổ chức, với diện tích 6.179.913 ha, giao 452.168 hộ gia đình, cá nhân với diện
nước (điều 2).
· Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân làm các loại sau đây (điều 6):
- Rừng phòng hộ/ Rừng đặc dụng/ Rừng sản xuất
· Việc quyết định giao rừng, đất trồng rừng phải căn cứ vào điều 10
- Quy hoạch và kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng và sử dụng rừng, đất trồng rừng đã được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Quỹ rừng, quỹ đất trồng rừng.
- Yêu cầu khả năng của tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng rừng, đất trồng rừng.
· Chủ rừng có những quyền lợi sau đây: (điều 40):
- Được sử dụng rừng, đất trồng rừng ổn định, lâu dài theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước; được chủ
động trong sản xuất kinh doanh, trong quản lý, sử dụng rừng theo quy định của pháp luật.
- Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừng, đất trồng rừng được giao, được
thừa kế, chuyển nhượng, bán thành quả lao động, kết quả đầu tư cho người khác theo quy định của pháp
luật.
- Được hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà nước.
· Chủ rừng có những nghĩa vụ sau đây (điều 41):
-
Sử dụng rừng, đất trồng rừng đúng mục đích, đúng ranh giới đã quy định trong quyết định giao rừng,
đất trồng rừng và theo quy chế quản lý, sử dụng đối với từng loại rừng.
-
Chấp hành quy định của pháp luật về quản lý bảo vệ, phát triển rừng và sử dụng đất trồng rừng.
Điều quan trọng của luật bảo vệ phát triển rừng được sữa đổi năm 2005 là đã đề cập đến rừng cộng đồng
và giao rừng cho cộng đồng quản lý, đây là một chủ trương quan trọng về xã hội hoá ngành lâm nghiệp
nhằm tăng hiệu quả quản lý rừng và đất rừng.
4.5.2.Quyết định 178/2001/QĐ-TTg
Quyết định 178/2001/QĐ-TTg đã đề cập đến quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được
giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp. Đây là một quyết định mang đến lợi ích cho người
dân tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Phân chia sản phẩm chính
Ä Căn cứ
g
x T
tg
Trong đó: B: Khoản tiền hộ gia đình được hưởng
T
g
: Số tiền bán gỗ tại bãi giao. T
th
: Thuế tài nguyên. T
ns
: Tiền nộp ngân sách
K
ls
: Khối lượng LS khai thác tại bãi giao. G
c
: Giá cây đứng G
g
: Giá gỗ tại bãi giao
T
lx
: Tỷ lệ nộp NS xã T
tg
: Tỷ lệ nộp thuế tài nguyên
Đối với hộ gia đình nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
- Hình thức II: Bên giao khoán (hoặc hộ gia đình) nhận toàn bộ số lâm sản tại bãi giao, trả cho hộ gia đình
(hoặc bên giao khoán) bằng tiền tương ứng với số lâm sản mà họ được hưởng, và phải chịu trách nhiệm
nộp thuế
- Hình thức III: Mỗi bên nhận sản phẩm phân chia tại bãi giao theo tỷ l
ệ quy định và chịu trách nhiệm nộp
thuế tương ứng với phần lâm sản được hưởng.
nghiệp”.
Thông tư 56/1999/TT/BNN-KL ngày 30/03/1999 của BNN&PTNT hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ
và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, làng, buôn, bản, ấp.
- Thông tư liên tịch 62/2000/TTLT/BNN-TCĐC ngày 06/06/2000 của BNN&PTNT và TCĐC hướng dẫn
việc giao đất, cho thuê đất, và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Qui định 1171- QĐ về qui chế quản lý các loại rừng: Sản xuất, phòng hộ, đặc dụng ngày 30/12/1986.
Theo Qui định này rừng và đất rừng ở Việt Nam được thống nhất chia làm 3 loại: Sản xuất, phòng hộ và
đặc dụng. Trong quy định này ghi rõ cơ chế quản lý, quy hoạch 3 loại rừng, chức năng nhiệm vụ của từng
loại rừng trong phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trong cả nước.
Nghị định 02/CP về giao đất Lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng vào mục đích Lâm
nghiệp, ban hành ngày 15/1/1994. Đây là nghị định đầu tiên của chính phủ hướng dẫn giao đất lâm nghiệp
đến nhiều thành phần kinh tế khác nhau, trong đó hộ gia đình, cá nhân cũng được tham gia nhận đất để tổ
chức sản xuất lâm nghiệp. Đến năm 1999, Chính phủ đ
ã ban hành nghị định 163/CP, mở rộng việc giao
rừng và đất rừng, quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người nhận đất, nhận rừng.
Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 16/1/1999 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện trách nhiệm
quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp.
Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho t
ổ
chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Đây là nghị định tiếp theo
nghị định 02, với tên gọi đất lâm nghiệp: Rừng tự nhiên, rừng trồng, đất chưa có rừng quy họach cho lâm
nghiệp
Quyết định số 202/TTg ngày 2-5-1994 về quy định khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng
rừng. Các hộ gia đình nhận khoán rừng được hưởng công khoán, tận thu sản phẩm phụ, lựa chọn hình
thức nhận khoán, kết hợp sản xuất nông nghiệp khi rừng chưa khép tán, được mua gỗ làm nhà.
Quy chế 08 về quản lý 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất) đã có tác dụng quản lý tốt tài nguyên
rừng và đất rừng.
Nhìn chung các chính sách là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình sử dụng và quản lý
tốt đất lâm nghiệp. Có thể phân chính sách thành 2 nhóm chính: 1) Nhóm chính sách tác động trực tiếp
vào quản lý tài nguyên rừng và đất rừng và 2) Nhóm chích sách tác động vào phát triển nông thôn/các