Mô tả đặc điểm hình ảnh adenomyosis trên cộng hưởng từ và đánh giá kết quả điều trị bằng phương pháp can thiệp nội mạch - Pdf 19


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Endometriosis (lạc nội mạc tử cung) là một trong những bệnh lý phụ
khoa gây vô sinh, người ta thấy trong số những phụ nữ khám đi khám vô sinh
thì 40% bệnh nhân có endometriosis . Bệnh được được đặc trưng bởi sự hiện
diện của nội mạc tử cung ngoài buồng tử cung , chiếm khoảng 2% dân số và
10% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ [2]. Endometriosis có thể gặp ở nhiều vị trí:
cơ tử cung, buồng trứng, dây chằng rộng, túi cùng Douglas
Adenomyosis hay còn gọi là lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung là
một bệnh lành tính, đứng thứ 2 (sau u xơ tử cung) trong số những tổn thương
lành tính hay gặp ở tử cung [17], chiếm tới 40% trong số những tử cung phải
phẫu thuật trên giải phẫu bệnh học [37].
Tại Việt Nam, đã có 1 số nghiên cứu về lạc nội mạc tử cung nhưng
chưa có các nghiên cứu cụ thể về Adenomyosis.
Chẩn đoán của Adenomyosis dựa vào các triệu chứng lõm sàng có giá
trị không cao vì độ đặc hiệu thấp, siêu õm (đường bụng hoặc đường õm đạo)
đóng vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán, tuy nhiên trong một số trường
hợp vẫn cũn khó khăn, đặc biệt là phõn biệt giữa Adenomyosis và u xơ tử
cung. Hiện nay với sự ra đời của cộng hưởng từ (MRI), phương pháp chẩn
đoán hình ảnh không xõm lấn có độ phõn giải cao thì vấn đề chẩn đoán
Adenomyosis đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt là trong việc phõn biệt
Adenomyosis với u xơ tử cung.
Có nhiều phương pháp điều trị Adenomyosis, trong đó phương pháp
phẫu thuật cắt tử cung toàn bộ vẫn được xem là phương pháp điều trị triệt để
nhất [36]. Điều trị bảo tồn có nhiều phương pháp: dùng thuốc chống viêm
non-steroid, liệu pháp hormon hoặc nạo niêm mạc tử cung [2], [19].

2
Phương pháp can thiệp nội mạch bằng cách gây tắc động mạch tử cung
là một phương pháp mới được áp dụng trong những năm gần đây trên thế giới

phụ nữ trưởng thành [34].
- Năm 1860, Carl von Rokitansky, người đầu tiên dùng thuật ngữ
"adenomyoma-u cơ tuyến" để mô tả lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung.
- Cuối thế kỷ 19, Thomas Stephen Cullen đã xác định có sự xâm nhập
của nội mạc vào trong cơ và xác định cơ chế mà nội mạc xâm nhập vào trong
cơ.
- Năm 1923, Frankl đã mô tả hình ảnh giải phẫu và đặt tên cho xâm
nhập nội mạc trong cơ tử cung là "adenomyosis uteri".
- Năm 1925, Sampson đã đặt tên cho lạc nội mạc tử cung là
endometriosis.
- Năm 1972, Bird là người đã đưa ra định nghĩa adenomyosis như hiện
nay vẫn sử dụng [9].
- Từ những năm 72 đến nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ
thuật thì việc chẩn đoán và điều trị adenomyosis ngày càng được nghiên cứu
thêm: chẩn đoán dựa vào cộng hưởng từ, điều trị bằng gây tắc động mạch tử
cung
- Tại Việt Nam hiện chưa có nhiều nghiên cứu về Adenomyosis.
1.2. Định nghĩa, phân loại và nguyên nhân của Adenomyosis
1.2.1. Định nghĩa:
Adenomyosis hay còn gọi là lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung là
bệnh lành tính của vùng chuyển tiếp cơ-nội mạc tử cung, được xác định về
mặt tế bào học bởi sự hiện diện của nội mạc và tổ chức đệm trong cơ tử cung
cùng với sự tăng sản của cơ tử cung lân cận [17].

4
1.2.2. Phân loại:
1.2.2.1 Dựa vào triệu chứng lâm sàng, chia ra:
- Adenomyosis không có triệu chứng.
- Adenomyosis có triệu chứng: đau bụng kinh, rong kinh.
1.2.2.2 Dựa vào đặc điểm phân bố trên cộng hưởng từ và giải phẫu bệnh học

1.2.4. Giải phẫu bệnh học và cơ chế bệnh sinh:
- Siegler [32] đã đưa ra 4 thông số để mô tả Adenomyosis trên giải
phẫu bệnh học:
+ Sự hiện diện của Adenomyosis hơn 2.5 mm trong vùng chuyển tiếp.
+ Xâm nhập sâu.
+ Mức độ xâm lấn được xác định bởi số lượng ổ trong trường phân
tích.
+ Gồm dạng tổn thương lan tỏa và/hoặc khu trú với nốt u cơ tuyến.
- Cơ chế sinh bệnh học hiện vẫn chưa được làm sáng tỏ một cách đầy
đủ. Đã có rất nhiều giả thiết được đưa ra, nhưng chưa có một giả thiết nào đủ
làm sáng tỏ bệnh lý bí ẩn ấy. Từ nghiên cứu đầu tiên của Von Rokitanski năm
1860 nhiều giả thuyết được đưa ra[2], tuy nhiên hiện nay có 3 giả thuyết lớn
đề giải thích khả năng của adenomyosis:
+ Giả thuyết thứ nhất: Adenomyosis xuất hiện do sự xâm nhập vào cơ
của nội mạc khi có sự phá vỡ của màng đáy (chúng bị phá hủy bởi các
enzyme đặc hiệu, cụ thể là sự tăng của estrone sulfatase và aromatase
[13],[35]. Ota và cộng sự [26] đã chỉ ra sự tồn tại của đáp ứng miễn dịch quá
mức với kháng thể bề mặt type HLA II. Sự tụ tập của đại thực bào gõy ra
phản ứng của tế bào lympho B qua trung gian hóa học tế bào lympho T help,
dẫn đến tổng hợp globulin miễn dịch chống lại màng phospholipid.
+ Giả thuyết thứ hai: sự xõm nhập qua màng đáy gõy ra sự tắc nghẽn

6
của hệ thống bạch huyết trong cơ [30].
+ Giả thuyết thứ ba: dị sản tế bào do các tế bào phôi cũn tồn tại biệt hoá
thành tổ chức của ống Muller.
1.2.5. Adenomyosis và vô sinh:
- Adenomyosis được xem như là một nguyên nhân có khả năng của vô
sinh qua việc tác động lờn cỏc cơ chế của làm tổ của phôi.
- Môi trường cường estrogen khu trú của adenomyosis được phối hợp với

1.3.1.2 Đáy tử cung: góc bên có dây chằng tròn và dây chằng riêng buồng
trứng.
1.3.1.3 Cổ tử cung:
- Phần trên âm đạo.
- Phần âm đạo: trong như mõm cá mè tạo thành vòm âm đạo, ở đỉnh
của mõm có lỗ tử cung, chưa đẻ lỗ tử cung tròn nhỏ, đẻ rồi lỗ tử cung rộng.
- Vòm âm đạo có 4 túi cùng:
+ Túi cùng trước.
+ Hai túi cùng bên.
+ Túi cùng sau: sâu hơn cả và liên quan đến túi cùng trực tràng-tử
cung. Tại đây niệu quản nằm ngay trên túi cùng bên của vòm âm đạo. Nếu
niệu quản có sỏi ta có thể sờ được khi thăm khám âm đạo. Ở dưới cú cỏc
mạch máu tử cung khi các mạch này chạy ngang qua dây chằng rộng. Khi tiến
hành phõu thuật cắt bỏ tử cung, có thể vô tình cắt phải niệu quản trong lúc
kẹp các mạch tử cung.
1.3.1.4 Dây chằng:
- Dây chằng rộng.
- Dây chằng trũn: bỏm từ gúc bờn đỏy rồi chui vào ống bẹn sâu, chui ra
lỗ bẹn nông rồi tỏa thành nhiều sợi bám và mụ liờn kết của gò mu và môi lớn

8
âm đạo.
- Dây chằng tử cung cùng.
- Dây chằng ngang cổ tử cung: bám từ bờ bên cổ tử cung đến ngay sau
thành bên chậu hông, đến phía trên hoành chậu hông.
1.3.1.5 Cấu tạo tử cung: gồm 3 lớp
- Lớp thanh mạc: ở ngoài cùng.
- Lớp cơ ở giữa:
+ Vựng thõn: cú 3 tầng cơ:
Tầng ngoài: cơ dọc.

- ĐMTC cho cỏc nhỏnh bờn:
+ Nhánh cho niệu quản: tách ra ở nền dây chằng rộng.
+ Nhánh cho bàng quang, âm đạo.
+ Nhánh cho cổ TC: có 4-5 nhánh chạy xuống dưới, mỗi nhánh chia
đôi chạy vòng mặt trước và sau TC.
+ Nhỏnh thân TC: cú rất nhiều nhánh chạy xuyên qua lớp cơ TC.
- Nhánh tận:
+ Nhánh cho đáy TC, nhánh này to cấp máu cho TC.
+ Nhánh vòi trứng trong: chạy giữa hai lá mạc treo vòi trứng, nối với
nhánh vòi trứng ngoài của ĐM buồng trứng, cấp máu cho vòi trứng, mạc treo
vòi trứng.
+ Nhánh buồng trứng trong: chạy theo dây chằng TC - buồng trứng,
tiếp nối với nhánh buồng trứng ngoài của ĐM buồng trứng, cấp máu cho
buồng trứng 3.
1.3.2.2 Động mạch buồng trứng:
- ĐM buồng trứng là một nhánh của ĐM chủ được tách ra ngay dưới
chỗ xuất phát của ĐM thận. ĐM buồng trứng chạy xuống dưới, hơi ra ngoài,
nằm sau phúc mạc, bắt chéo trước ĐM chậu ngoài rồi theo dây chằng thắt
lưng buồng trứng tới đầu trên của buồng trứng chia làm 3 nhánh:
+ Nhánh vòi trứng ngoài cấp máu cho vòi trứng.
+ Nhánh nối ngoài, nhánh này nối với nhánh nối trong của ĐMTC.
+ Nhánh buồng trứng ngoài cấp máu cho buồng trứng .
1.3.2.3 Tĩnh mạch:
- Tĩnh mạch tử cung đi song song động mạch và cuối cùng đổ vào tĩnh
mạch chậu trong, các tĩnh mạch nối thông qua đám rối chậu hông và âm đạo.

11

Hình 1.2. ĐMTC và ĐM buồng trứng


- Tuy nhiên, giá trị chẩn đoán adenomyosis dựa vào lâm sàng khá thấp
(10-38%).
1.4.1.3 Toàn thân:
- Trường hợp mất mỏu ít: không thấy thay đổi gì.
- Trường hợp mất máu nhiều có thể có hội chứng thiếu máu mạn tính:
da xanh, niêm mạc nhợt, hoa mắt, chóng mặt

13
1.4.2. Cận lâm sàng:
Tuy là các thăm khám bổ sung nhưng có giá trị vì xác định được chẩn đoán.
1.4.2.1 Chụp tử cung-vũi trứng(Hysterosalpingography-HSG):
- Chỉ định: vô sinh, sảy thai vô căn liên tiếp, đánh giá sau mổ thắt ống
dẫn trứng hoặc phục hồi lưu thông ống dẫn trứng sau thắt[36].
- Một số dấu hiệu chính được mô tả lần đầu bởi Musset năm 1977:
+ Những dấu hiệu cứng của đáy tử cung hoặc bờ của tử cung, những
hình ảnh giãn của sừng, tổn thương của ống dẫn trứng ở bóng
- Trong adenomyosis, có thể biểu hiện như túi thừa nhỏ đi vào cơ tử
cung (thể lan toả) hoặc khuyết thuốc dạng khối đi kèm với túi thừa nhỏ (thể
khu trú). Tuy nhiên, độ nhạy của phuơng pháp này trong chẩn đoán
adenomyosis là thấp, khoảng 20% [33][36].

Hình 1.3: Hình ảnh adenomyosis thể lan toả trên chụp tử cung vòi trứng:
niêm mạc tử cung không đều và cỏc tỳi chứa thuốc cản quang. 14 Hình 1.4: Hình ảnh adenomyosis thể khu trú trên chụp tử cung-vũi trứng:
khuyết thuốc dạng khối không đều ở đáy và túi chứa thuốc cản quang.

- Adenomyosis được biểu hiện bởi sự dày khu trú hoặc lan toả của vùng
chuyển tiếp tạo thành một vùng ranh giới không rừ, có cường độ tín hiệu thấp,
đôi khi trung tõm có một ổ tín hiệu cao trên chuỗi xung T2W. Về mặt tế vào

16
học, vùng tín hiệu thấp tương ứng với phì đại cơ trơn và ổ tăng tín hiệu trên
T2W tương ứng với đảo nội mạc lạc chỗ và gión dạng nang của tuyến. Khi có
chảy máu trong kỳ kinh nguyệt ở đảo nội mạc lạc chỗ này có thể thấy tín hiệu
cao trên T1W. Những ổ tăng tín hiệu này có thể được phát hiện với một tần
suất cao ( >50%)[8],[12],[29].
- Có tỷ lệ dương tính giả trong trường hợp phối hợp giữa u xơ tử cung
và adenomyosis.
- Hình ảnh của Adenomyosi khu trú và lan toả trên cộng hưởng tử
+ Lan tỏa: dày lan toả vùng chuyển tiếp biểu hiện là vùng lan toả đồng
nhất với cường độ tín hiệu thấp trên T2W, thường dày >10mm là có giá trị
chẩn đoán trên MRI. Chuỗi xung T2W có khả năng phát hiện tổn thương tốt
hơn chuỗi xung T1W trước và/ hoặc sau tiêm thuốc đối quang từ. Ngoài ra
hình ảnh ổ có cường độ tín hiệu cao (đường kớnh khoảng vài mm) cũng được
thấy trên T2W hoặc trên cả T1W và T2W .
+ Khu trú: hình ảnh khối hình trũn/bầu dục ranh giới không rừ, khu trú
trong cơ (đường kớnh thay đổi 2-7cm), thường ở thành sau, có cường độ tín
hiệu thấp trên T2W và T1W sau tiêm đối quang từ, thường đồng tín hiệu với
cơ trên T1W. Khối có thể chốn ép hoặc làm méo mó lớp nội mạc [10].
1.4.2.4 Nội soi tử cung:
- Chẩn đoán dựa vào nội soi tử cung là khú vỡ trong phần lớn các
trường hợp adenomyosis đều có buồng tử cung bình thường. Tuy nhiên, tăng
tưới máu khu trú hoặc những tổn thương dạng nang có thể được nhìn thấy,
mặc dù hiếm, lỗ của túi.
Điều trị adenomyosis phụ thuộc triệu chứng của bệnh nhân, tuổi, mong
muốn bảo tồn tử cung đặc biệt phụ nữ còn trẻ hoặc còn muốn sinh con[19].
1.5.1. Nội khoa [2]:
- Dùng giảm đau, chống viêm non-steroid nếu triệu chứng bệnh nhân hết
hoặc bệnh nhân ở quanhthời kỳ mãn kinh, chức năng buồng trứng sắp kết thúc.
- Dùng hormon kháng estrogen để làm teo ổ lạc nội mạc tử cung tạo
nờn các sẹo xơ: progestin liều cao, Danazol (đường uống hoặc dụng cụ tử
cung) và Gonadotropin releasing hormon agonist-GnRH.
- Tác dụng điều trị nội rất tốt với triệu chứng đau do ngừng được kinh
nguyệt nên ổ lạc nội mạc tử cung không phát triển. Trong điều trị vô sinh có

19
thể gõy phúng noón. Có tác dụng giảm rõ rệt phản ứng viêm tại chỗ tạo sẹo
xơ. Không có tác dụng mất màng dớnh nờn có thể điều trị bổ trợ trước và sau
phẫu thụõt.
1.5.1.1 Danazol:
- Danazol là 17 alpha ethinyltestosteron, cấu trúc có nhiều điểm tương
đồng với cấu trúc của testosteron, được gọi là ethisteron.
- Danazol gắn với phức hợp "globulin-hormon sinh dục" và làm tăng
nồng độ testosteron tự do và thành phần "testosteron-albumin" là hai thành
phần của hormon sinh dục nam có tác dụng trên lâm sàng.
- Giảm nồng độ estradiol trong máu: chỉ bằng 50% so với nhóm chứng.
- Tỏc dụng trên progesteron: pregnenolon tăng, 17 hydroxypregnenolon
giảm có lẽ do ức chế men 17 hydroxylase.
- Danazol tác dụng trên buồng trứng hơn là trên tuyến yên.
- Đối với tuyến yên: tăng nồng độ LH cơ bản,không làm thay đổi nồng
độ FSH, giảm nồng độ prolactin huyết thanh, các hormon TSH, GH, ACTH
không thay đổi. Danazol ngăn cản sự phát triển của các nang noãn, ngăn cản
sự rụng trứng, gõy vụ kinh, làm teo ổ nội mạc tử cung.
- Không có ảnh hưởng hormon vỏ thượng thận khi dùng danazol trong

- Tác dụng phụ: cơn nóng mặt, vã mồ hôi, khô teo âm đạo, giảm ham
muốn tình dục. Mật độ xương có thể giảm sau 6 tháng. Có thể kết hợp với
hormon sinh dục nữ để giảm bớt ảnh hưởng này: Premarin 0,625 mg và
medroxyprogesteron acetat (MPA) 5 mg mỗi ngày. Tăng chuyển hoá calci
dùng thuốc, thức ăn nhiều calci.
- Nồng độ FSH và LH có thể tăng trong vòng 10 ngày đầu sau khi điều
trị, cú nờn cỏc triệu chứng đau có khi không giảm mà còn tăng trong vòng 10

21
ngày đầu. Vì vậy khuyờn dựng tamoxyfen 10 mg, 2 viờn/ngày trong tháng
đầu tiên để khống chế triệu chứng đau.
- Cú thể gây rong huyết ít trong vòng 10 ngày đầu.
1.5.1.3 Progestin, viên thuốc tránh thai kết hợp:
- Uống liên tục gây mất kinh, nếu đang uống bệnh nhân có kinh tăng
liều lên, nếu hết kinh trở lại liều bình thường.
1.5.2. Phẫu thuật:
1.4.2.1 Cắt tử cung toàn bộ[11]:
- Được xem là phương pháp điều trị triệt để nhất.
- Có thể cắt buồng trứng kèm theo hoặc không.
1.4.2.1 Phẫu thuật bảo tồn[19]:
- Thường được chỉ định cho adenomyosis thể khu trú.
- Làm giảm triệu chứng và tăng tỷ lệ có thai lên rõ rệt.
- Đặc biệt hữu ích với những phụ nữ trẻ mà còn muốn giữ lại khả năng
sinh sản.
- Tỷ lệ thành công trong adenomyosis thể lan toả thấp nhưng vẫn là
điều trị có giá trị.
1.6. Can thiệp nội mạch
1.6.1. Lịch sử phát triển:
- Năm 1979, báo cáo đầu tiên về nút động mạch tử cung là trường hợp nút
được sử dụng để điều trị cho chảy máu sau đẻ. Kể từ đây, gây tắc trong những

- Các hạt nhựa PVA (Poly Vinyl Alcohol): là dẫn chất của polyvinyl,
có kích thước từ 150 đến 1000 micro một (tựy từng loại). Thể tích của các hạt
này tăng lên khi gặp nước, thường được sử dụng qua micro catheter. Gây tắc
mạch vĩnh viễn bằng cách gây giảm lưu lượng dòng chảy và gây viêm thành
mạch vô khuẩn tại các mạch máu mà nó tắc lại, dẫn đến các cục máu đông có

23
chứa hạt nhựa gây tắc hoàn toàn dòng chảy của động mạch, các cục máu đông
này sẽ tự phân huỷ trong vòng bốn tuần còn các hạt nhựa thì tồn tại vĩnh viễn
trong khối u. Hạt nhựa được sử dụng lần đầu tiên trong Y học là vào năm
1974 để gây tắc mạch khối u đang chảy máu. Hạt nhựa sử dụng trong nút
mạch tử cung có kích thước từ 250 đến 500 micro mét.
- Cyanoarcylat (Histoacryl): là một chất keo sinh học, được đưa vào sử
dụng năm 1981, có khả năng tự trùng hợp, tự đông đặc. Về cấu tạo hóa học,
vật liệu này có chứa nhiều điện tử nên khi tiếp xúc với các chất ion hóa (máu,
tế bào nội mô mạch máu) sẽ xảy ra hiện tượng trùng hợp, đông đặc Histoacryl
gây tắc mạch. Thời gian đông đặc rất nhanh, tính bằng giây, do đó khi sử
dụng loại vật liệu này đòi hỏi phải có hệ thống đồng trục (coaxial). Histoacryl
thường được pha loãng với Lipiodol với các tỷ lệ khác nhau.
- Vòng xoắn kim loại (Coil): là vật liệu gây tắc mạch vĩnh viễn ở các
mạch gần, được dùng trong các tổn thương như phình hay giả phình mạch, dị
dạng thông động tĩnh mạch nhưng giá thành đắt.
- Onyx: hiện nay, onyx được coi là vật liệu gây tắc mạch mới không chỉ
sử dụng cho mạch não mà còn được dùng cho các tổn thương mạch máu trong
ổ bụng. Cấu tạo của Onyx gồm 6% ethylene vinyl alcohol hòa với Dimethyl
sulfoxide (DMSO) và bột Tantalum, được cho vào chất trùng hợp trong quá
trình sản xuất làm cho vật liệu co tính chất cản quang. Khi vật liệu này tiếp
xúc với nước hoặc máu sẽ kết tủa do khả năng khuyếch tán nhanh của DMSO.
Onyx là vật liệu có thể thay thế coil và là vật liệu lý tưởng dành cho các loại
phình hình túi cổ rộng.

điều trị nút mạch tại khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1
năm 2008 đến tháng 9 năm 2011. Bệnh nhân có độ tuổi từ 20 đến dưới 50 tuổi.
2.2. Đối tượng nghiên cứu:
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ BN nghi ngờ là Adenomyosis trên lâm sàng và siêu âm, được tiến
hành chụp và chẩn đoỏn trên cộng hưởng từ, có thể kết hợp với u xơ tử cung
hoặc không.
+ Hồ sơ bệnh án đầy đủ các thông tin cần thiết cho nghiên cứu.
+ BN được theo dõi đầy đủ theo mẫu bệnh án có sẵn và thời gian theo
dõi sau nút mạch ít nhất là 3-6 tháng.
+ BN đồng ý ký vào bản cam kết tham gia nghiên cứu.
+ Số lượng dự kiến: 30 bệnh nhân.
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Hồ sơ không đầy đủ các thông tin cần thiết cho nghiên cứu.
+ BN được chẩn đoán Adenomyosis mà không có chỉ định nút mạch.
2.3. Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1. Nghiên cứu mô tả hồi và tiến cứu.
2.3.2. Cách thức tiến hành:
- Phương tiện nghiên cứu:
+ Máy siêu âm Triplex Aloka 5000 và Phillipe HD 11.
+ Máy cộng hưởng từ 1.5 Tesla Magnetom Avanto của hãng Siemens.

Trích đoạn Đạo đức nghiên cứu:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status