Chấn thương cột sống cổ thấp Chấn thương cột sống cổ thấp thường do tai nạn giao thông gây ra, đặc biệt là tai
nạn xe gắn máy. Đôi khi việc đội mũ bảo hiểm cũng có ảnh hưởng nhất định đến
khả năng chấn thương cột sống cổ.
Ngoài tai nạn giao thông thì các tai nạn đặc biệt đôi khi cũng gặp phải như dừa
rụng trúng đầu, nhảy hồ bơi chúi đầu xuống đáy…
Chấn thương cột sống cổ thấp thường là một thảm họa đối với người bệnh và gia
đình người bệnh. Tỉ lệ tử vong trong chấn thương cột sống cổ rất và rất cao, tỉ lệ
tàn phế cũng cao, chỉ có tỉ lệ hồi phục là thấp. Chấn thương cột sống cổ thấp đặc
biệt nguy hiểm khi người bệnh có hẹp ống sống cổ (bẩm sinh hoặc mắc phải). Nếu
không có hẹp ống sống cổ, chấn thương phải rất mạnh, sự xê dịch nhiều thì mới có
khả năng gây ra thương tổn tủy. Trong trường hợp có hẹp ống sống, chỉ cần chấn
thương vừa phải, sự xê dịch ít là tủy đã có thể bị thương tổn và thương tổn rất
nặng.
So với chấn thương cột sống lưng – thắt lưng, chấn thương cột sống cổ thấp nguy
hiểm hơn rất nhiều do tủy ở vùng này có rất nhiều chức năng quan trọng ảnh
hưởng đến khả năng sống còn của người bệnh.
Người bệnh chấn thương cột sống cổ thấp mà không có thương tổn tủy thường chỉ
có đau vùng cổ. Đôi khi mức độ đau ít đến nỗi người bệnh (và cả các bác sĩ) bỏ
qua luôn, đến một ngày nào đó người bệnh đau nhiều hoặc bắt đầu yếu chân tay
hoặc khó thở… thì mới phát hiện ra. Các tài liệu về chấn thương luôn luôn lưu ý
các bác sĩ cũng như nhân viên y tế rằng sau một tai nạn mà bệnh nhân không có
liệt hay tê gì hết nhưng có đau cổ, hoặc hôn mê, hoặc có chấn thương vào đầu,
hoặc không rõ chấn thương xảy ra như thế nào thì phải coi là có chấn thương cột
sống cổ cho đến khi chứng minh được là không có. Nói vậy chứ tại các bệnh viện
lớn cũng như nhỏ của chúng ta, thường thì công việc chứng minh không có thương
tổn cột sống cổ không được lưu tâm đến nếu người bệnh không có dấu hiệu nào rõ
ràng. Nếu không may sau này phát hiện ra thương tổn thì có lẽ lỗi là tại người
bệnh không thông báo triệu chứng cho bác sĩ. Chụp Xquang lúc mới bị chấn
người bệnh và có hiệu quả đặc biệt nếu được dùng trước 8 giờ kể từ khi bị chấn
thương, nếu chậm trễ người ta vẫn có thể dùng trong khoảng trước 48 giờ sau
chấn thương, tuy nhiên hiệu quả kém hơn nhiều. Ở Việt nam, việc dùng thuốc này
chưa trở thành thói quen của các bác sĩ, đặc biệt là một số bác sĩ lo ngại về những
biến chứng của nó vì nó được dùng với liều rất cao, gấp hàng trăm lần so với liều
dùng thông thường. Tuy nhiên, các nghiên cứu tần cỡ quốc gia của Hoa kì đã cho
thấy nếu dùng đúng hướng dẫn thì tỉ lệ biến chứng sẽ rất thấp. Thực tế sử dụng
thuốc ở Việt nam cũng cho kết quả như vậy nhưng những nghi ngại vẫn cứ tiếp tục
tồn tại, nhất là ở những người có thừa quyền quyết định nhưng lại thiếu ham muốn
tìm hiểu xem các bác sĩ Hoa kì nói có đúng không. Có thể nói việc phát hiện ra
công dụng chống phù tủy của loại thuốc nói trên là một cuộc cách mạng trong
điều trị chấn thương tủy sống.
Việc giải ép cũng rất quan trọng. Nếu tủy sống được giải ép sớm, các mạch máu
lưu thông và hiện tượng phù tủy sẽ giảm đi. Trong các trường hợp không có hẹp
ống sống cổ, sự chèn ép thường do hiện tượng trật các khớp, từ đó làm các đốt
sống di lệch và chèn ép vào tủy. Nếu đúng như vậy thì người ta kéo cột sống cổ để
nắn trật lại. Nếu kéo thành công và giải ép được thì người ta có thể chờ từ từ rồi
mới mổ để cố định chỗ gãy hoặc trật. Trong trường hợp có các mảnh vỡ chèn vào
tủy hoặc ống sống cổ hẹp, việc giải ép có lẽ cần phải được tiến hành sớm bằng mổ
và lúc đó, cố định đoạn cột sống gãy cũng được làm luôn một lúc.
Một cuộc mổ chấn thương cột sống cổ thấp có nhiều mục đích. Nắn lại cột sống là
một mục đích. Việc nắn lại cột sống nếu không được thực hiện bằng kéo nắn thì
thực hiện ngay trong khi mổ sẽ góp phần vào việc giải ép tủy cũng như đưa cột
sống về lại vị trí bình thường để tránh gây di lệch thêm sau này. Giải ép là mục
đích rất quan trọng của cuộc mổ và thời điểm mổ là do mục đích này quyết định.
Nếu ống sống bị hẹp, người ta phải tìm cách mở rộng khoang ống sống để cho tủy
có chỗ phồng lên khi nó bị phù, từ đó áp lực trong tủy không tăng, không gây chèn
ép vào xung quanh, cắt được cái vòng luẩn quẩn phù tủy làm cho hiện tượng phù
tủy tăng lên nữa và tăng lên mãi. Ngoài ra, mổ còn có một mục đích khác nữa là
bất động đoạn cột sống bị chấn thương, không còn vững chắc. Các bác sĩ có thể