tóm tắt luận án dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật việt nam - Pdf 19



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH NGÔ HỮU PHƯỚC

DẪN ĐỘ TRONG LUẬT QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 62.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Vào hồi……….giờ………ngày……….tháng……… năm 2009 Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia
Thư viện Viện Nhà nước và pháp luật
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

tư, kinh doanh, du lịch Trong số đó có nhiều phần tử lợi dụng cơ hội đến Việt Nam để thực hiện tội phạm. Do
vậy, tình hình người nước ngoài và người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài rồi trốn vào Việt Nam và phạm tội ở
Việt Nam rồi trốn ra nước ngoài trong thời gian qua có xu hướng gia tăng.
Trước diễn biến tình hình tội phạm trong nước và thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, đòi hỏi các
quốc gia phải tăng cường liên kết, hợp tác đồng bộ và toàn diện bằng tất cả các biện pháp chính trị, pháp luật,
kinh tế, an ninh từ bình diện khu vực, liên khu vực và toàn cầu nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, 4chống tội phạm. Trong đó, dẫn độ là biện pháp tất yếu khách quan và hiệu quả nhất để các quốc gia truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người phạm tội ở quốc gia này nhưng đang lẩn trốn tại quốc
gia khác.
Tuy nhiên, về phương diện khoa học pháp lý, dẫn độ là vấn đề còn rất mới ở Việt Nam nên chưa có
nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện. Mặt khác, hoạt động đàm phán, ký kết ĐƯQT về dẫn độ
và thực tiễn dẫn độ ở Việt Nam từ trước đến nay cũng chưa được nghiên cứu và tổng kết. Do đó, việc áp dụng
ĐƯQT có quy định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập và pháp luật Việt Nam gặp nhiều khó khăn,
vướng mắc, hiệu quả dẫn độ ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, để thực hiện có hiệu quả dẫn độ ở
Việt Nam thì tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn về dẫn độ là yêu cầu cấp thiết và có
tính thời sự rất lớn trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ nhận thức và thực trạng nói trên, tác giả chọn đề tài: “DẪN ĐỘ TRONG LUẬT QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM” làm Luận án Tiến sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dẫn độ là một hình thức hợp tác quốc tế được điều chỉnh đồng thời bởi pháp luật quốc tế (các ĐƯQT có
quy định về dẫn độ và các ĐƯQT về quyền con người) và pháp luật quốc gia (Luật Dẫn độ, Luật Tố tụng hình
sự, Luật Tương trợ tư pháp ). Do vậy, từ trước đến nay trong lĩnh vực khoa học pháp lý ở Việt Nam và nước
ngoài, vấn đề dẫn độ có thể được nghiên cứu dưới góc độ là một chế định của Luật Quốc tế, Luật Hình sự quốc
tế, Luật Quốc tế về quyền con người và dẫn độ cũng có thể được nghiên cứu dưới góc độ là một chế định của
pháp luật quốc gia, thuộc chuyên ngành khoa học pháp lý về hình sự, tố tụng hình sự và tương trợ tư pháp.

(CDPC) và Ủy ban chuyên gia về thực thi các Công ước của Châu Âu trong lĩnh vực hình sự (2003),“Công ước
Châu Âu về dẫn độ - Hướng dẫn và thủ tục”; Gilbert. G (1991),“Luật dẫn độ và vấn đề quyền con người”, Nhà
xuất bản Martimes Nijhoff; Claudin DIB (2008),“Dẫn độ và trừng phạt độc ác, vô nhân đạo và các giải pháp
khả dĩ tại Canada”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Québec, Montréal, Canada
Ở Việt Nam, từ cuối thế kỷ XX đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu độc lập về dẫn độ,
về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, về hợp tác tương trợ tư pháp quốc tế nói chung và
hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự nói riêng đã được công bố trong các cuốn sách chuyên khảo, tham khảo
hoặc đã được đăng tải trên các Tạp chí chuyên ngành khoa học pháp lý tiêu biểu là công trình của các tác giả:
Nguyễn Ngọc Anh (2000),“Hoạt động dẫn độ tội phạm theo Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các
nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5; Dương Tuyết Miên (2006),“Vấn đề dẫn độ tội phạm ”, Tạp chí
TAND số 10 (5); Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Việt Hồng, Phạm Văn Công (2006), “Dẫn độ những vấn đề lý
luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; Đào Thị Hà (2006),“Vấn đề dẫn độ trong pháp luật
Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Thủy (2007),“Một số
vấn đề về dẫn độ tội phạm”, Tạp chí Kiểm sát số 16 (8); Nguyễn Xuân Yêm (2000), “Dẫn độ tội phạm, tương
trợ pháp lý về hình sự và chuyển giao phạm nhân quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm”, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Yêm (2000),“Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp hình sự trong
đấu tranh phòng, chống tội phạm ở Việt Nam”, Tạp chí TAND số 1 (1); Nguyễn Thị Mai Nga (2007),“Dẫn độ
tội phạm và hoạt động tương trợ tư pháp của Viện Kiểm sát trong giải quyết các vụ án ma túy có yếu tố nước
ngoài”, Tạp chí Kiểm sát số 16 (8); Nguyễn Ngọc Anh, Bùi Anh Dũng (2007), Hợp tác quốc tế đấu tranh
phòng, chống tội phạm của lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn
Ngọc Anh, Nguyễn Quốc Cường (2008),“Hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế”, Tạp chí TAND số 2 (1); Chử Văn Dũng (2008),“Hoạt động INTERPOL trong thực hiện tương trợ tư
pháp hình sự và dẫn độ tội phạm ở Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân; Đại học
Cảnh sát nhân dân (2009),“Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự trong điều tra tội phạm có yếu tố nước ngoài
của lực lượng cảnh sát nhân dân - Lý luận và thực tiễn”, đề tài nghiên cứu khoa cấp bộ, mã số: BX-2008-T48-
23; Nguyễn Giang Nam (2011),“Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ tội phạm trong điều tra tội
phạm có yếu tố nước ngoài”, luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và quốc tế về dẫn độ như đã đề cập ở trên chúng tôi
thấy rằng, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài đã rất thành công trong việc
nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật quốc gia cũng

Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, tác giả xác định đối tượng nghiên
cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về dẫn độ trong luật quốc tế với trọng tâm là các ĐƯQT
song phương và đa phương có quy định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập và pháp luật Việt Nam về
dẫn độ với trọng tâm là các quy định về dẫn độ trong BLTTHS và Luật TTTP hiện hành.
5. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Về pháp luật quốc tế, phạm vi nghiên cứu trọng tâm của luận án là các ĐƯQT song phương và đa
phương có quy định về dẫn độ, đặc biệt là các HĐTTP, Hiệp định dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập từ
thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay. Về pháp luật Việt Nam, phạm vi nghiên cứu của luận án là các quy định về
dẫn độ trong BLTTHS và Luật TTTP.
Về thực tiễn, do không có các số thống kê cụ thể về dẫn độ nên tác giả sử dụng các số liệu thống kê
chung về công tác bắt truy nã quốc tế qua kênh hợp tác INTERPOL và ASEANPOL do văn phòng INTERPOL
thống kê từ năm 2000 đến nay để đánh giá kết quả thực hiện ĐƯQT và pháp luật Việt Nam liên quan đến dẫn
độ.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin về Nhà nước và pháp luật,
quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về Chiến lược cải cách tư pháp, Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam phục vụ tiến trình hội nhập quốc tế trong đó có hội nhập pháp luật quốc tế trong 7lĩnh vực tương trợ tư pháp nói chung và dẫn độ nói riêng được thể hiện trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng
và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là BLTTHS và Luật TTTP.
Luận án được thực hiện trên cơ sở kết hợp các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử và các phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh. Trong đó, phương pháp so sánh là phương pháp chủ
đạo được tác giả thực hiện xuyên suốt và có hệ thống trong toàn bộ luận án.
6. Tính mới của Luận án
Thứ nhất, luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện các vấn đề lý luận về dẫn độ trong
luật quốc tế và pháp luật Việt Nam;

được ký kết giữa các quốc gia hoặc trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế, luận án đã khái quát quá trình hình 8thành và phát triển của dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia. Đồng thời, bằng việc tiếp cận và
nghiên cứu cả trên phương diện ngôn ngữ học, khoa học pháp lý và pháp luật thực định luận án cho rằng, dẫn độ
là một hình thức hợp tác tương trợ tư pháp giữa các quốc gia trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm,
trên cơ sở pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, quốc gia được yêu cầu sẽ chuyển giao người đã thực hiện
hành vi phạm tội thuộc thẩm quyền xét xử của quốc gia yêu cầu hoặc người đã bị Tòa án của nước yêu cầu kết
án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật cho quốc gia yêu cầu, để quốc gia này truy cứu trách nhiệm hình sự
hoặc buộc người bị yêu cầu dẫn độ phải chấp hành hình phạt.
1.1.2 Đặc điểm của dẫn độ
Luận án đã nêu và phân tích bốn đặc điểm cơ bản của dẫn độ gồm:
- Chủ thể và nội dung của quan hệ dẫn độ: Chủ thể của quan hệ dẫn độ là các quốc gia, nội dung của
dẫn độ là hành vi yêu cầu dẫn độ do nước yêu cầu thực hiện và hành vi xem xét, chuyển giao người bị yêu cầu
do nước được yêu cầu thực hiện.
- Đối tượng bị dẫn độ: Là người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình
sự hoặc là người đã thực hiện hành vi phạm tội và đã bị Tòa án có thẩm quyền của nước yêu cầu xét xử bằng bản
án đã có hiệu lực pháp luật nhưng đang lẩn trốn tại nước được yêu cầu.
- Mục đích của dẫn độ: Là nhằm để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người
bị yêu cầu dẫn độ đang lẩn trốn trên lãnh thổ của quốc gia được yêu cầu dẫn độ.
- Cơ sở pháp lý để dẫn độ: Dẫn độ dựa trên hai cơ sở pháp lý quốc tế (các ĐƯQT về dẫn độ) và pháp
luật quốc gia về dẫn độ. Trong thực tiễn dẫn độ, áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”, các quốc gia cũng có thể dẫn
độ cho nhau ngay cả khi giữa các quốc gia không có cơ sở pháp lý quốc tế để dẫn độ.
1.1.3 Nguyên tắc của dẫn độ
Về phương diện khoa học pháp lý, nguyên tắc của dẫn độ là những quy định cơ bản mang tính khuôn
mẫu, thống nhất được ghi nhận phổ biến trong ĐƯQT, pháp luật quốc gia về dẫn độ và được thừa nhận, áp dụng
rộng rãi trong thực tiễn gồm năm nguyên tắc: Nguyên tắc tội phạm kép (double criminality), nguyên tắc có đi có

công dân cho nước ngoài.
1.3.2 Thủ tục dẫn độ
Thủ tục dẫn độ là một quy trình bao gồm các bước từ chuyển giao, tiếp nhận, xử lý văn bản, hồ sơ yêu
cầu dẫn độ đến chuyển giao, tiếp nhận người bị yêu cầu dẫn độ. Thủ tục dẫn độ sẽ được thực hiện từ khi có yêu
cầu dẫn độ của nước yêu cầu và kết thúc khi người bị yêu cầu dẫn độ được chuyển giao cho nước yêu cầu.
ĐƯQT và pháp luật quốc gia về dẫn độ thường quy định thủ tục dẫn độ gồm hai bước cơ bản sau đây:
- Chuyển giao, tiếp nhận và xử lý văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ
Theo pháp luật và thông lệ quốc tế, việc chuyển giao, tiếp nhận văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ sẽ được
thực hiện trực tiếp giữa các cơ quan trung ương của hai nước. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm
quyền của nước được yêu cầu có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu cung cấp thông tin bổ
sung. Nếu quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ thì cơ quan có thẩm quyển của nước được yêu cầu sẽ thông báo
ngay cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu.
- Quyết định dẫn độ, chuyển giao và tiếp nhận người bị yêu cầu dẫn độ
Pháp luật dẫn độ của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền
quyết định việc dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ (thường là Tòa án cấp tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương).
Nếu quyết định dẫn độ thì các cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu sẽ thực hiện các thủ tục pháp lý
cần thiết theo quy định của ĐƯQT và pháp luật quốc gia về dẫn độ để chuyển giao người bị yêu cầu dẫn độ cho
nước yêu cầu. Thời gian, địa điểm, cách thức chuyển giao và tiếp nhận người bị yêu cầu dẫn độ sẽ do các cơ
quan có thẩm quyền của nước yêu cầu và nước được yêu cầu thỏa thuận.
Chương 2
THỰC TRẠNG DẪN ĐỘ TRONG ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1 Dẫn độ trong các ĐƯQT mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập
2.1.1 Tổng quan về tình hình đàm phán, ký kết và gia nhập ĐƯQT có quy định về dẫn độ của Việt Nam từ trước
đến nay
Từ năm 1980 đến năm 2002, Việt Nam đã ký kết 13 HĐTTTP có quy định về dẫn độ (hiện nay 11 Hiệp
định có hiệu lực thi hành). Từ năm 2003 đến tháng 4/2012 Việt Nam đã ký kết 4 Hiệp định dẫn độ. Bên cạnh đó,
cho đến nay Việt Nam cũng đã gia nhập 16 ĐƯQT của Liên Hợp Quốc và Công ước của ASEAN về chống
khủng bố năm 2007. Các ĐƯQT trên, đặc biệt là các HĐTTTP và Hiệp định dẫn độ là những cơ sở pháp lý quốc


Ba là: Thủ tục dẫn độ
Tất cả các HĐTTTP đều xây dựng thủ tục dẫn độ hành hai bước cơ bản sau đây:
Bước 1: Chuyển giao, tiếp nhận và xử lý văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ
Các HĐTTTP đều quy định, việc chuyển giao và tiếp nhận yêu cầu dẫn độ sẽ được thực hiện thông qua
các cơ quan tư pháp trung ương của các Bên ký kết. Trường hợp nhiều nước cùng yêu cầu dẫn độ một người, tất
cả các HĐTTTP đều quy định, việc xem xét để chấp nhận yêu cầu dẫn độ của nước nào là do Bên được yêu cầu
quyết định dựa vào các yếu tố: Quốc tịch của người bị yêu cầu dẫn độ; Nơi thực hiện hành vi phạm tội; tính chất,
mức độ nghiêm trọng và hậu quả của tội phạm gây ra; ngày, tháng, năm yêu cầu; theo quy định của các
HĐTTTP, khi nhận được văn bản yêu cầu dẫn độ.
Bước 2: Quyết định, chuyển giao và tiếp nhận người bị yêu cầu dẫn độ
Sau khi có quyết định dẫn độ, Bên được yêu cầu sẽ thông báo cho Bên yêu cầu biết thời gian,
địa điểm chuyển giao và tiếp nhận người bị dẫn độ. Việc chuyển giao, tiếp nhận người bị dẫn độ sẽ được thực
hiện trong một thời gian nhất định do hai Bên thỏa thuận. Nếu Bên yêu cầu không tiếp nhận người đúng thời 11gian và địa điểm mà Bên được yêu cầu đã ấn định mà không có lý do chính đáng hoặc không giải thích rõ ràng
thì người bị dẫn độ có thể sẽ được trả tự do. Phần lớn các HĐTTTP đều quy định thời hạn là mười lăm ngày và
các Bên có thể thỏa thuận để gia hạn thêm nhưng tối đa không quá mười lăm ngày.
Ngoài các nội dung cơ bản nói trên, các HĐTTTP còn quy định các vấn đề về hoãn dẫn độ, dẫn độ tạm
thời, dẫn độ lại, quá cảnh và chi phí dẫn độ.
Tuy nhiên, do không có Luật khung để đàm phán, ký kết nên tên gọi, bố cục, nội dung, phạm vi của các
vấn đề, cũng như nội dung của từng điều khoản trong phần dẫn độ của các HĐTTTP không có sự thống nhất với
nhau. Mặt khác, do được ký kết trước khi nước ta ban hành BLTTHS và Luật TTTP nên một số quy định liên
quan đến ngôn ngữ sử dụng, cơ quan đầu mối trung ương trong việc tiếp nhận, chuyển giao, xem xét, giải quyết
các yêu cầu dẫn độ của nước ngoài, thẩm quyền quyết định dẫn độ, chi phí và cơ chế phối hợp thực hiện giữa các
cơ quan trong việc dẫn độ đã không còn phù hợp Luật TTTP.
2.1.2.2 Các quy định về dẫn độ trong các Hiệp định dẫn độ


Các Hiệp định dẫn độ đều quy định, hồ sơ yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự và để thi hành
hình phạt phải kèm theo các tài liệu mô tả đặc điểm nhận dạng, quốc tịch, nơi cư trú của người bị yêu cầu dẫn
độ; văn bản nêu sự việc của vụ án; văn bản nêu tội danh, các yếu tố cấu thành tội phạm, khung hình phạt và thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt. Trường hợp yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm
hình sự thì hồ sơ phải kèm theo: Bản sao lệnh bắt hoặc tạm giữ của Thẩm phán hay người có thẩm quyền khác
của Bên ký kết yêu cầu dẫn độ; thông tin xác nhận người bị dẫn độ là người được nêu trong lệnh bắt hay giam
giữ; văn bản về hành vi cấu thành tội phạm đó và đưa ra căn cứ hợp lý để cho rằng người bị dẫn độ đã thực hiện
tội phạm bị yêu cầu dẫn độ và bản sao bản cáo trạng. Trường hợp yêu cầu dẫn độ người đã bị kết án thì hồ sơ
phải kèm theo: Bản sao bản án do Tòa án của Bên yêu cầu dẫn độ đã tuyên xử đối với người bị dẫn độ; thông tin
xác nhận người bị yêu cầu dẫn độ là người đã bị kết án; văn bản trình bày về hành vi cấu thành tội phạm mà
người đó bị kết án.
Cả bốn Hiệp định đều quy định, trong trường hợp khẩn cấp, Bên yêu cầu có thể yêu cầu bắt khẩn cấp
người để dẫn độ trước khi gửi yêu cầu dẫn độ cho Bên được yêu cầu. Yêu cầu bắt khẩn cấp có thể được gửi qua
kênh INTERPOL, kênh ngoại giao hoặc trực tiếp giữa các cơ quan trung ương của các Bên. Yêu cầu bắt khẩn
cấp phải được lập bằng văn bản ( Hiệp định dẫn độ Việt Nam - Ô-xtrây-lia còn quy định có thể chuyển bằng các
phương tiện điện tử) và phải bao gồm các nội dung: Mô tả về người bị bắt để dẫn độ, kể cả các thông tin về quốc
tịch của người đó; nơi người bị bắt để dẫn độ đang có mặt (nếu biết được); Tóm tắt sự việc của vụ án, và nếu có
thể, cả thời gian và địa điểm thực hiện tội phạm; Mô tả các luật bị vi phạm; Thông báo về lệnh bắt hay lệnh tạm
giữ, hoặc bản án đối với người đó.
Đồng thời, Bên yêu cầu phải khẳng định rõ, sẽ gửi văn bản yêu cầu dẫn độ chính thức cho Bên yêu cầu.
Người bị bắt giữ sẽ được trả tự do nếu Bên yêu cầu không đưa ra yêu cầu dẫn độ chính thức kèm theo các tài liệu
trong thời hạn nhất định.
Ba là: Thủ tục dẫn độ
Qua nghiên cứu nội dung các Hiệp định dẫn độ, tác giả đã tóm lược thủ tục dẫn độ thành hai bước:
Bước 1: Chuyển giao, tiếp nhận và xử lý yêu cầu dẫn độ
Theo quy định của các Hiệp định, yêu cầu dẫn độ phải được lập thành văn bản và được gửi qua đường
ngoại giao. Trường hợp có nhiều yêu cầu dẫn độ đối với một người thì Bên được yêu cầu sẽ quyết định dẫn độ
cho một trong các quốc gia yêu cầu dự trên các yếu tố liên quan đến quốc tịch và nơi thường trú của người bị
yêu cầu dẫn độ; các yêu cầu có được lập theo đúng quy định của Hiệp định hay không; thời gian và địa điểm

phạm có thể bị dẫn độ đồng thời đưa các tội phạm này vào danh mục các tội phạm bị dẫn độ trong các ĐƯQT về
dẫn độ sẽ được ký kết giữa các quốc gia thành viên trong tương lai.
(2) Yêu cầu các quốc gia thành viên cam kết, nếu không dẫn độ người phạm tội thì quốc gia được yêu
cầu sẽ thiết lập quyền tài phán hình sự đối với hành vi tội phạm thuộc phạm vi điều chỉnh của điều ước theo
nguyên tắc“Aut dedere aut judicare - Không dẫn độ thì truy tố”.
(3) Yêu cầu các quốc gia thành viên có thể coi các điều ước này là cơ sở pháp lý quốc tế trực tiếp để dẫn
độ cho nhau trong trường hợp giữa hai quốc gia chưa có ĐƯQT song phương về dẫn độ.
Tuy nhiên, do được đàm phán, ký kết bởi nhiều quốc gia có chế độ chính trị, kinh tế, luật pháp và đặc
biệt là quan điểm về hợp tác đấu tranh phòng chống, tội phạm khác nhau nên các quy định về dẫn độ trong các
ĐƯQT này chỉ là những quy định mang tính nguyên tắc, thiếu cụ thể, chi tiết nên rất khó và hầu như không thể
áp dụng vào thực tiễn hợp tác dẫn độ giữa các quốc gia thành viên.
2.1.3.2 Các quy định về dẫn độ trong Công ước của ASEAN về chống khủng bố năm 2007
Công ước của ASEAN về chống khủng bố năm 2007 đã dành 2 điều (Điều XIII và Điều XIV) quy định
bốn nội dung có tính nguyên tắc về dẫn độ sau đây:
(1) Bên ký kết mà trên lãnh thổ của mình mà người bị tình nghi đang có mặt, nếu không dẫn độ thì phải
bắt giữ và không được chậm trễ, phải chuyển vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền của mình để truy cứu trách
nhiệm hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự của Bên đó. Các cơ quan có thẩm quyền này phải đưa ra những
quyết định giống như bất kỳ hành vi phạm tội nghiêm trọng nào khác theo luật pháp trong nước của Bên đó quy
định;
(2) Những hành vi đã được quy định tại Điều 2 của Công ước sẽ được coi là các tội phạm bị dẫn độ
trong bất kỳ Hiệp định dẫn độ nào đã được ký kết giữa các nước thành viên trước khi Công ước này có hiệu lực
và yêu cầu các Bên đưa các tội khủng bố vào danh mục các tội phạm bị dẫn độ trong các Hiệp định dẫn độ sẽ
được ký kết trong tương lai giữa họ với nhau; 14(3) Nếu quốc gia thành viên được yêu cầu dẫn độ đòi hỏi dẫn độ phải được thực hiện trên cơ sở Hiệp
định dẫn độ nhận được yêu cầu dẫn độ từ quốc gia thành viên khác chưa có Hiệp định dẫn độ với mình, thì quốc

quan có thẩm quyền của nước ngoài dẫn độ cho Việt Nam người có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà
bản án đã có hiệu lực pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án”. Đồng thời, CQTHTT có
thẩm quyền của Việt Nam có thể “Thực hiện việc dẫn độ người nước ngoài đang ở trên lãnh thổ Việt Nam có
hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật cho nước yêu cầu để truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc thi hành án”(Điểm b).
Theo các quy định trên, đối tượng mà CQTHTT có thẩm quyền của Việt Nam yêu cầu nước ngoài dẫn
độ có thể là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài, người không quốc tịch. Ngược lại, đối tượng mà 15CQTHTT có thẩm quyền của Việt Nam có thể dẫn độ cho nước ngoài là người nước ngoài hoặc người không
quốc tịch đang có mặt trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, người bị dẫn độ phải là“người có hành vi phạm tội mà
Bộ luật Hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự của nước yêu cầu quy định hình phạt tù có thời hạn từ một năm
trở lên, tù chung thân hoặc tử hình hoặc đã bị Tòa án của nước yêu cầu xử phạt tù mà thời hạn chấp hành hình
phạt tù còn lại ít nhất sáu tháng” (Điều 33 khoản 1). Đồng thời, “hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ
không nhất thiết phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh, các yếu tố cấu thành tội phạm không
nhất thiết phải giống nhau theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước yêu cầu” (Điều 33
khoản 2 ).
Theo Điều 35 khoản 1, CQTHTT có thẩm quyền của Việt Nam sẽ từ chối dẫn độ trong năm trường hợp
sau đây:
(1) Người bị yêu cầu dẫn độ là công dân Việt Nam;
(2) Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì người bị yêu cầu dẫn độ không thể bị truy cứu trách nhiệm
hình sự hoặc chấp hành hình phạt do đã hết thời hiệu hoặc vì những lý do hợp pháp khác;
(3) Người bị yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự đã bị Tòa án của Việt Nam kết tội bằng bản
án đã có hiệu lực pháp luật về hành vi phạm tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ hoặc vụ án đã bị đình chỉ theo
quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam;
(4) Người bị yêu cầu dẫn độ là người đang cư trú ở Việt Nam có khả năng bị truy bức ở nước yêu cầu
dẫn độ do có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch, dân tộc, thành phần xã hội hoặc quan điểm

người bị yêu cầu dẫn độ là người được nêu trong lệnh bắt hoặc giam giữ (Điều 37 khoản 3).
Trường hợp yêu cầu dẫn độ để thi hành án, ngoài các tài liệu nói trên phải kèm theo bản sao bản án,
quyết định hình sự của Tòa án nước yêu cầu dẫn độ và văn bản xác nhận người bị yêu cầu dẫn độ là người đã bị
kết án (Điều 37 khoản 4).
Hồ sơ yêu cầu dẫn độ phải được lập thành ba bộ, phù hợp với pháp luật của nước được yêu cầu. Nếu
Việt Nam và nước ngoài đã có ĐƯQT về tương trợ tư pháp thì ngôn ngữ trong tương trợ tư pháp là ngôn ngữ
được quy định trong ĐƯQT đó. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài chưa có ĐƯQT về tương trợ tư pháp thì
hồ sơ phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu cầu tương trợ tư pháp hoặc dịch ra một ngôn ngữ
khác mà nước được yêu cầu chấp nhận (Điều 5).
Văn bản yêu cầu dẫn độ và văn bản trả lời được gửi thông qua Bộ Công an.
Ba là: Thủ tục dẫn độ
Luật TTTP quy định rất đầy đủ và chi tiết thủ tục dẫn độ bị động, áp dụng trong trường hợp Việt Nam là
nước được yêu cầu dẫn độ. Thủ tục dẫn độ độ bị động được tổng hợp thành ba bước cơ bản sau đây:
Bước 1: Tiếp nhận và xử lý yêu cầu dẫn độ
Theo quy định của Luật TTTP, Bộ Công an là cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, kiểm tra và xử lý hồ sơ,
văn bản yêu cầu dẫn độ. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu dẫn độ và tài liệu kèm
theo, Bộ Công an vào sổ hồ sơ dẫn độ và kiểm tra hồ sơ yêu cầu dẫn độ. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ thì Bộ Công an
có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ cung cấp thông tin bổ sung. Nếu sau sáu mươi
ngày, kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ sung thông tin mà không nhận được thông tin bổ sung thì Bộ Công an
gửi trả hồ sơ cho nước yêu cầu dẫn độ và nêu rõ lý do. Trường hợp hồ sơ hợp lệ thì Bộ Công an chuyển ngay
cho TAND cấp tỉnh có thẩm quyền hai bộ hồ sơ để xem xét, quyết định” (Điều 38 Luật TTTP).
Trong trường hợp nhiều nước cùng yêu cầu dẫn độ một người thì Bộ Công an sẽ chủ trì và phối
hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, VKSND tối cao, TAND tối cao để xem xét, quyết định đáp ứng
yêu cầu dẫn độ cho một trong các nước yêu cầu và chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ cho TAND cấp tỉnh có
thẩm quyền xem xét, quyết định. Việc xem xét, quyết định sẽ đáp ứng yêu cầu dẫn độ của nước nào
trong số các nước yêu cầu phải căn cứ vào quy định của pháp luật và các yếu tố về: Quốc tịch hữu hiệu
và nơi thường trú cuối cùng của người bị yêu cầu dẫn độ; tính hợp pháp và mức độ phù hợp của yêu
cầu dẫn độ; thời gian và địa điểm thực hiện tội phạm; lợi ích riêng của các nước yêu cầu; mức độ
nghiêm trọng của tội phạm; quốc tịch của người bị hại; khả năng dẫn độ tiếp theo giữa các nước yêu
cầu dẫn độ; ngày đưa ra yêu cầu dẫn độ và các yếu tố có liên quan khác (Điều 39 Luật TTTP ).

án hình sự, thủ tục xem xét yêu cầu dẫn độ có một số điểm khác biệt cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về cơ sở pháp lý, nếu thủ tục giải quyết vụ án hình sự được thực hiện theo quy định của
BLTTHS thì thủ tục xem xét, giải quyết yêu cầu dẫn độ lại được tiến hành theo quy định của Luật TTTP.
Thứ hai, về thành phần tham gia, nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự gồm một Thẩm phán và
hai Hội thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự gồm ba Thẩm phán, trong trường hợp cần thiết có thể có
thêm hai Hội thẩm thì Hội đồng xem xét, giải quyết yêu cầu dẫn độ của nước ngoài chỉ có ba Thẩm phán, không
sự tham gia của Hội thẩm nhân dân.
Thứ ba, về nhiệm vụ, nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có nhiệm vụ xác định sự thật khách
quan của vụ án, quyết định tội danh và hình phạt đối với bị cáo; Hội đồng xét xử phúc thẩm có nhiệm vụ xem
xét nội dung kháng cáo, kháng nghị thì Hội đồng xem xét, giải quyết yêu cầu dẫn độ lại có nhiệm vụ ra quyết
định dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ cho nước yêu cầu.
Chậm nhất là mười ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ, TAND cấp tỉnh
gửi quyết định cho người bị yêu cầu dẫn độ, VKSND cùng cấp và Bộ Công an để các cơ quan này thực hiện các
quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Nếu có kháng cáo của người bị yêu cầu dẫn độ hoặc kháng nghị của VKSND cùng cấp hoặc VKSND tối
cao, TAND cấp tỉnh phải gửi hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho TAND tối cao trong thời hạn bảy ngày, kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ dẫn độ và
kháng cáo, kháng nghị, TAND tối cao mở phiên họp để xem xét quyết định dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ của
TAND cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị. Hội đồng xem xét phúc thẩm quyết định dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ 18gồm ba Thẩm phán, trong đó một Thẩm phán làm Chủ tọa, đại diện của VKSND tối cao và được tiến hành như
trình tự xem xét dẫn độ tại TAND cấp tỉnh có thẩm quyền.
Quyết định dẫn độ có hiệu lực pháp luật bao gồm quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng
cáo, kháng nghị và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm.
Bước 3: Thi hành quyết định dẫn độ
Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày quyết định của TAND cấp tỉnh có thẩm quyền về dẫn độ

kết 13 HĐTTTP có nội dung dẫn độ, Hiệp định dẫn độ với Đại Hàn Dân Quốc và gia nhập hầu hết các ĐƯQT
của Liên Hợp Quốc về đấu tranh phòng, chống tội phạm có quy định về dẫn độ nhưng pháp luật Việt Nam về
dẫn độ vừa thiếu lại không đồng bộ. 19Hai là, từ trước đến nay Việt Nam vẫn thiếu cơ sở pháp lý quốc tế song phương và đa phương để hợp
tác dẫn độ với các nước.
Ba là, trên thực tế, một số yêu cầu dẫn độ của Việt Nam không được nước ngoài đáp ứng vì sự khác biệt
giữa pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình sự của nước được yêu cầu cũng như một số chính sách về cư
trú của nước ngoài như chính sách cho định cư lâu dài, tị nạn chính trị, không áp dụng án tử hình
Bốn là, công tác tuyên truyền, phổ biến và triển khai thực hiện các HĐTTTP, Hiệp định dẫn độ và Luật
TTTP đến các cơ quan, tổ chức và cán bộ thực hiện công tác tương trợ tư pháp nói chung và dẫn độ nói riêng
chưa hiệu quả. Chính vì vậy, mặc dù Luật TTTP đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008 nhưng thời gian qua
“dẫn độ tắt”, “dẫn độ trá hình” vẫn được thực hiện dưới các hình thức như đẩy trả, trục xuất, chuyển giao người
phạm tội.
Năm là, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác tương trợ tư pháp nói chung và
dẫn độ nói riêng ở các ngành Công An, Tòa án, Kiểm sát vẫn còn hạn chế, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ và pháp
luật quốc tế.
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO
HIỆU QUẢ DẪN ĐỘ Ở VIỆT NAM
3.1 Dự báo các yếu tố liên quan đến dẫn độ ở Việt Nam trong thời gian tới
Với nhận thức cho rằng, dẫn độ luôn chịu sự ảnh hưởng, tác động trực tiếp của diễn biến của tình hình
tội phạm và quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Bởi vì, diễn biến của tình
hình tội phạm sẽ thúc đẩy các quốc gia phải liên kết, hợp tác với nhau, trong đó dẫn độ là hình thức hợp tác hiệu
quả nhất để các quốc gia truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người phạm tội ở quốc gia
này nhưng đang lẩn trốn tại quốc gia khác. Do vậy, để xây dựng các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả dẫn

Theo đó, rà soát tổng thể nội dung về dẫn độ trong các HĐTTTP để phát hiện những tồn tại, bất cập,
những quy định không phù hợp với các quy định về dẫn độ trong BLTTHS, Luật TTTP cũng như thực tiễn dẫn
độ để làm cơ sở cho việc đàm phán sửa đổi, bổ sung và hiện đại hóa các Hiệp định này là rất cấp thiết trong giai
đoạn hiện nay. Nếu có điều kiện thuận lợi, Việt Nam nên chủ động đề xuất tách phần dẫn độ trong các HĐTTTP
để đàm phán, ký kết Hiệp định riêng về dẫn độ với các nước liên quan. Điều này là hoàn toàn phù hợp với xu
hướng mà Việt Nam đang thực hiện từ năm 2003 đến nay là tăng cường ký kết các HĐTTTP riêng về từng lĩnh
vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù.
Hai là: Tăng cường đàm phán, ký kết Hiệp định dẫn độ với các nước trên thế giới, trong đó ưu tiên đàm
phán, ký kết Hiệp định dẫn độ với các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc.
Ba là: Nghiên cứu rút một số bảo lưu liên quan đến dẫn độ trong các ĐƯQT về đấu tranh phòng, chống
tội phạm mà khi gia nhập Việt Nam đã bảo lưu gồm:
(1) Ba Công ước của Liên Hợp Quốc về kiểm soát ma túy;
(2) Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ
em, bổ sung Công ước quyền trẻ em năm 2000;
(3) Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng năm 2003; (4) Công ước của Liên Hợp Quốc về
chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2003 vì các lý do sau đây:
- Với việc ban hành Luật TTTP và Luật này đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2008, pháp luật về dẫn độ của
nước ta đã khá đầy đủ, đồng bộ đảm bảo cho việc hợp tác dẫn độ có hiệu quả giữa Việt Nam với các nước thành
viên. Mặt khác, các quy định về dẫn độ được quy định trong các điều ước nói trên về cơ bản là phù hợp với pháp
luật Việt Nam về dẫn độ, đặc biệt là Luật TTTP.
- Các quy định về dẫn độ trong các ĐƯQT nói trên không phải là quy phạm bắt buộc các quốc gia thành
viên phải áp dụng trong mọi trường hợp. Do đó, ngay cả khi rút lại các bảo lưu thì Việt Nam vẫn có thể xem xét
để áp dụng hoặc không áp dụng trong từng trường hợp cụ thể.
- Rút lại các bảo lưu nói trên là cần thiết để nước ta thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy
định của các điều ước đó. Đồng thời, mở rộng cơ sở pháp lý và phạm vi hợp tác dẫn độ với các quốc gia trên thế
giới là thành viên của các ĐƯQT nói trên.
- Rút lại các bảo lưu về dẫn độ trong các ĐƯQT nói trên cũng không bắt buộc Việt Nam phải sửa đổi,
bổ sung hoặc ban hành văn bản pháp luật hoặc thực hiện nghĩa vụ tài chính nào và cũng không ảnh hưởng đến
chủ quyền, an ninh quốc gia của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.
Bốn là: Nghiên cứu gia nhập các ĐƯQT còn lại về chống khủng bố của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam

Về nội dung hợp tác, cần chú trọng đến các lĩnh vực như: Trao đổi thông tin, cơ sở dữ liệu liên quan đến
tình hình tội phạm; truy nã tội phạm; chuyển giao các yêu cầu bắt khẩn cấp, yêu cầu dẫn độ; tư vấn, hoạch định
chính sách, pháp luật; trao đổi kinh nghiệm, chuyên môn nghiệp vụ; đào tạo cán bộ giữa Cảnh sát Việt Nam với
ASEANPOL, INTERPOL, UNODC cũng như giữa các cơ quan tư pháp của Việt Nam với các cơ quan tư pháp
của các nước trong khu vực và thế giới.
Về hình thức hợp tác, thông qua các kỳ họp, các diễn đàn, hội nghị, hội thảo quốc tế về tổng kết hoặc
triển khai chương trình hành động đấu tranh phòng, chống tội phạm, tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ do
Đại hội đồng ASEANPOL, INTERPOL, UNODC hoặc do các cơ quan tư pháp của các nước phối hợp tổ chức.
Các cơ quan, tổ chức này sẽ đưa ra những tổng kết, đánh giá về tình hình tội phạm, về kết quả hợp tác tương trợ
tư pháp hình sự, dẫn độ cũng như ban hành các Nghị quyết để rút kinh nghiệm hoặc hướng dẫn, khuyến cáo các
cơ quan đấu tranh phòng, chống tội phạm của các nước thành viên áp dụng.
3.2.2 Các giải pháp quốc gia
3.2.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về dẫn độ
Trên cơ sở đánh giá, phân tích và so sánh thực trạng dẫn độ trong các ĐƯQT mà Việt Nam đã ký kết,
gia nhập và pháp luật Việt Nam, luận án cho rằng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về dẫn độ là giải pháp quan 22trọng nhất nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế về dẫn độ và là
điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả hợp tác dẫn độ giữa Việt Nam với các nước trong thời gian tới. Trong
đó, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về dẫn độ phải được thực hiện với trọng tâm là hoàn thiện Luật TTTP và
BLTTHS.
a. Hoàn thiện Luật TTTP
Luận án kiến nghị hoàn thiện Luật TTTP với các nội dung chủ yếu sau đây:
* Thứ nhất: Hoàn thiện các thuật ngữ pháp lý
- Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số thuật ngữ được quy định tại Điều 35 khoản 2 điểm a thành “a. Hành
vi mà người bị yêu cầu dẫn độ đã thực hiện không phải là tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt
Nam”.

23b) Tham gia phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền hoặc phiên
họp của Hội đồng xem xét phúc thẩm quyết định dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ của Tòa án nhân dân tối cao;
c) Được Hội đồng xem xét yêu cầu dẫn độ giải thích về quyền và nghĩa vụ;
d) Được nói tiếng mẹ đẻ và có người phiên dịch tại phiên họp xem xét quyết định dẫn độ của Toà án
nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền hoặc Tòa án nhân dân tối cao;
đ) Tự bào chữa hoặc có luật sự bào chữa và được trình bày ý kiến tại phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền hoặc phiên họp của Hội đồng xem xét phúc thẩm quyết định dẫn
độ hoặc từ chối dẫn độ của Tòa án nhân dân tối cao;
e) Kháng cáo quyết định dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền.
2. Người bị yêu cầu dẫn độ phải có mặt tại phiên họp xem xét quyết định dẫn độ của Tòa án nhân dân
cấp tỉnh có thẩm quyền và phiên họp của Hội đồng xem xét phúc thẩm quyết định về việc dẫn độ hoặc từ chối
dẫn độ của Tòa án nhân dân tối cao trong trường hợp có kháng cáo hoặc kháng nghị.
3. Người bị dẫn độ về Việt Nam để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt thì cơ quan
tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam sẽ căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự để
thực hiện.
* Thứ năm: Bổ sung quy định về bắt khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ chính thức.
Kiến nghị bổ sung một điều về “Bắt khẩn cấp” vào Luật TTTP với các nội dung sau đây:
Điều Bắt khẩn cấp
1. Trong trường hợp khẩn cấp, khi nhận được yêu cầu của nước yêu cầu về bắt giữ người để dẫn độ
trước khi có văn bản yêu cầu dẫn độ chính thức, Bộ Công an sẽ bắt khẩn cấp người đó.
2. Yêu cầu bắt khẩn cấp phải được lập thành văn bản và phải có các nội dung sau đây:
a) Mô tả về người bị bắt để dẫn độ, kể cả thông tin về quốc tịch và nơi cư trú của người đó;
b) Địa chỉ nơi người bị bắt để dẫn độ đang có mặt, nếu biết được;
c) Bản tóm tắt hành vi phạm tội của người bị bắt để dẫn độ;
d) Trích dẫn điều luật bị vi phạm;
đ) Thông báo về lệnh bắt hoặc lệnh tạm giữ, hoặc bản án đối với người đó;
e) Khẳng định rõ sẽ gửi văn bản yêu cầu dẫn độ đối với người bị bắt để dẫn độ.

cấp tỉnh” cho TAND tối cao vào Điều 20 và thẩm quyền“quyết định dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ” cho TAND
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vào Điều 28 Luật Tổ chức TAND năm 2002. Đồng thời, bổ sung
thẩm quyền“kiểm sát việc giải quyết vụ việc dẫn độ” cho VKSND vào Điều 20 của Luật Tổ chức VKSND 2002.
d. Nghiên cứu xây dựng Hiệp định khung về dẫn độ của Việt Nam
Luận án kiến nghị xây dựng một Hiệp định khung về dẫn độ của Việt Nam làm cơ sở cho việc đàm
phán, ký kết với các nước ( xem toàn văn Hiệp định khung về dẫn độ mà luận án đã đề xuất tại phụ lục số 4 của
luận án).
3.2.2.2 Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thực hiện công tác dẫn độ
Luận án kiến nghị thực hiện các biện pháp cụ thể sau đây:
(1) Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện công tác tương trợ tư pháp nói chung và dẫn độ nói
riêng;
(2) Kết hợp các loại hình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở trong nước và ở nước ngoài;
(3) TAND và VKSND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần khẩn trương thành lập các bộ phận
chuyên trách để thực hiện công tác tương trợ tư pháp nói chung và dẫn độ nói riêng.
3.2.2.3 Giải pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tương trợ tư pháp và dẫn độ
Luận án kiến nghị thực hiện các biện pháp cụ thể sau đây:
(1) Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng pháp luật về tương trợ tư pháp nói chung và dẫn độ nói riêng cho
đội ngũ cán bộ làm công tác thực tiễn về lĩnh vực này;
(2). Các cơ sở đào tạo Luật trong cả nước cần xây dựng nội dung, chương trình để giảng dạy môn học về
“Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tương trợ tư pháp” nhằm trang bị cho sinh viên, học viên những kiến thức lý
luận và thực tiễn cơ bản về lĩnh vực hợp tác quốc tế quan trọng này.

KẾT LUẬN
Từ kết quả nghiên cứu đề tài “dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam”, luận án rút ra một số
kết luận cơ bản sau đây: 25
bổ sung các HĐTTTP, Hiệp định dẫn độ hiện hành hoặc ký kết các Hiệp định riêng về dẫn độ;
- Tăng cường và mở rộng đàm phán, ký kết Hiệp định dẫn độ với các nước trong khối ASEAN, Trung
Quốc và các nước có nhiều người Việt Nam định cư, đầu tư, kinh doanh, học tập nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý
quốc tế song phương để hợp tác dẫn độ giữa Việt Nam với các nước nói trên khi có nhu cầu;
- Nghiên cứu rút lại các bảo lưu liên quan đến dẫn độ trong các ĐƯQT của Liên Hợp Quốc về đấu tranh
phòng, chống tội phạm mà khi gia nhập Việt Nam đã tuyên bố bảo lưu.
- Nghiên cứu gia nhập các ĐƯQT về đấu tranh phòng, chống khủng bố của Liên Hợp Quốc mà Việt
Nam chưa gai nhập;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status