Tóm tắt Luận án tiến sĩ Lịch sử: Hoạt động ngoại thương của Việt Nam Cộng hòa từ 1955 đến 1975 - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

KIỀU LÊ CÔNG SƠN

HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG CỦA 
VIỆT NAM CỘNG HÒA TỪ 1955 ĐẾN 1975

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 62.22.03.13

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

NGHỆ AN ­ 2018



Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Vinh

Người hướng dẫn khoa học: 

1. PGS.TS Trần Vũ Tài
2. PGS.TS Ngô Minh Oanh 

Phản biện 1:
 
Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại Trường Đại 

lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá, hợp tác kinh tế, phát triển  
ngoại thương của Việt Nam với các nước trên thế  giới, thực hiện mục tiêu của thời đại hòa  
bình, ổn định, hợp tác và phát triển.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề  tài:  “Hoạt động ngoại thương của Việt Nam  
Cộng hòa từ 1955 đến 1975” làm đề tài Luận án tiến sĩ chuyên ngành lịch sử Việt Nam.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng 
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là hoạt động ngoại thương Việt Nam Cộng hòa và 
tác động ảnh hưởng của hoạt động ngoại thương đến kinh tế, xã hội Việt Nam Cộng hòa.
2.2. Phạm vi
Về  không gian: Luận án tập trung nghiên cứu về  hoạt động ngoại thương  ở  miền Nam 
Việt Nam dưới sự quản lý chính quyền Việt Nam Cộng hòa, không bao gồm vùng giải phóng do 
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam làm chủ.
Về thời gian: Từ năm 1955 đến năm 1975, sở dĩ chúng tôi lấy mốc thời gian năm 1955 (cụ 
thể  là  ngày 26/10/1955) làm mốc mở  đầu nghiên cứu hoạt động ngoại thương của Việt Nam  
Cộng hòa, vì đây, là thời  điểm Ngô Đình Diệm thiết lập chế  độ  Việt Nam Cộng hòa  ở  miền 
Nam Việt Nam. Năm 1975 (cụ thể là ngày 30/4/1975) được chọn làm mốc kết thúc, vì đây là thời  
gian mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng miền  
Nam Việt Nam, chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam đã hoàn toàn sụp đổ.
Về nội dung : Luận án chủ yếu tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản như sau:
­ Những yếu tố tác động đến hoạt động ngoại thương của Việt Nam Cộng hòa từ  năm  
1955 đến năm 1975.
­ Hoạt động xuất khẩu (hàng xuất khẩu và thị trường xuất khẩu), hoạt động nhập khẩu  
(hàng nhập khẩu và thị trường nhập khẩu).
­Tác động của hoạt động ngoại thương đối với kinh tế  và xã hội của Việt Nam Cộng  
hòa ở miền Nam Việt Nam.

4



hòa như: Tạp chí Chấn hưng kinh tế, Tuần san Phòng Thương mại Sài Gòn và các tạp chí nghiên  
cứu chuyên ngành (tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tạp chí Đông Nam Á, Tạp chí Khoa học của một 
số  Trường Đại học…), các luận án, luận văn, báo chí chính thống, định kỳ  và một số  trang  
website uy tín trong và ngoài nước có nội dung liên quan đến hoạt động ngoại thương của Việt  
Nam Cộng hòa.
Trên cơ sở tham khảo các công trình đi trước, đặc biệt là tài liệu lưu trữ, tác giả đã vận  
dụng vào quá trình nghiên cứu của mình, định hướng nguồn tư liệu, hướng nghiên cứu để  tiếp 
tục làm sáng tỏ những vấn đề mà đề tài đặt ra.
4.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Để  giải quyết những vấn đề  do đề  tài đặt ra, chúng tôi 
dựa vào chủ  nghĩa duy vật biện chứng, chủ  nghĩa duy vật lịch sử  và học thuyết 
của chủ  nghĩa Mác ­ Lênin về  kinh tế  ­ chính trị.  Ở  đây, chúng tôi sử  dụng quan  
điểm sử  học Mác xít nhằm đánh giá một cách khách quan về  hoạt động ngoại  
thương của Việt Nam Cộng hòa từ  năm 1955 đến năm 1975. Quan điểm sử  học 
Mác xít cũng là kim chỉ  nam để  chúng tôi xử  lý nguồn tài liệu trên tinh thần khoa 
học và đảm bảo tính lịch sử.
Phương pháp chuyên ngành để  thực hiện Luận án là phương pháp lịch sử, 
nhằm tìm hiểu quá trình hoạt động ngoại thương của Việt Nam Cộng hòa, kết 
5


hợp với phương pháp logic, nhằm giúp ta thấy được mối quan hệ tác động nhau có 
tính   hệ   thống   của   hoạt   động   ngoại   thương   Việt   Nam   Cộng   hòa,   trong   từng  
chương mục nhất định hoặc có sự  kết hợp cả  hai phương pháp trong từng nội 
dung nghiên cứu.
Ngoài ra, Luận án còn sử  dụng các phương pháp liên ngành trong nghiên 
cứu: phương pháp nghiên cứu kinh tế, phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp, khái  
quát, nghiên cứu quan hệ quốc tế… 
5. Đóng góp của Luận án

nhận, đánh giá từ phía góc nhìn ảnh hưởng từ sự viện trợ của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam.
Thứ ba, nhiều công trình, bài viết chỉ đề cập đến một hoặc nhiều lĩnh vực, với khía cạnh 
hoạt động kinh tế  miền Nam Việt Nam, trong đó, có ngoại thương, mà chưa có cái nhìn toàn 
diện, hệ thống về hoạt động ngoại thương và thường chỉ đề cập trong một thời kỳ ngắn, không  
trùng với khung thời gian nghiên cứu của Luận án là từ năm 1955 đến năm 1975.
Mặc dù vậy, chúng tôi nhận thấy rằng, nhiều vấn đề về  hoạt động ngoại thương của 
Việt Nam Cộng hòa chưa được làm rõ. Cụ thể như:
Thứ  nhất, những yếu tố  tác động đến hoạt động ngoại thương như: bối cảnh lịch sử,  
điều kiện kinh tế, chính trị…

6


Thứ hai, tổ chức hoạt động, vai trò của bộ máy ngoại thương Việt Nam Cộng hòa trong  
việc quản lý kinh doanh ngoại thương. Đó là Bộ Kinh tế, Bộ Tài chính và Ngân hàng Quốc gia 
Việt Nam, các cơ  quan này có nhiệm vụ  điều tiết và kiểm soát ngoại thương Việt Nam Cộng  
hòa.
Thứ  ba, nội dung cụ  thể  của các biện pháp mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực  
hiện trong ngoại thương và vai trò của nó góp phần làm chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam 
Cộng hòa nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng. 
Thứ  tư, quá trình hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu mà chủ  yếu trên phương diện hàng  
xuất khẩu, hàng nhập khẩu, thị trường xuất khẩu, thị trường nhập khẩu. 
Thứ năm, do góc nhìn khác nhau nên vẫn tồn tại những quan điểm đánh giá không giống 
nhau, thậm chí trái ngược nhau giữa các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đòi hỏi phải có một  
cách nhìn nhận vấn đề khoa học và có sức thuyết phục hơn. Với hệ thống tư liệu liên quan đến  
hướng nghiên cứu của Luận án là tương đối phong phú, để từ  đó tác giả có cái nhìn tổng quan,  
trên cơ  sở  đó tiến hành so sánh, đối chiếu, tìm ra những đặc điểm riêng của hoạt động ngoại  
thương Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955­1975 và tác động của nó đối với kinh tế, xã hội của  
Việt Nam Cộng hòa. 
Từ thực tế trên, chúng tôi khẳng định rằng, việc chọn đề tài “Hoạt động ngoại thương 

Thông qua con đường viện trợ, chủ yếu là viện trợ thương mại hóa, tư  bản Mỹ đã từng 
bước hất cẳng thực dân Pháp, nắm độc quyền chi phối các ngành kinh tế quan trọng và cơ  cấu 
7


tổ  chức kinh tế  của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chi phối toàn bộ  hệ  thống xuất nhập  
khẩu. 
Vì về mặt kinh tế, trong giai đoạn đầu, chính quyền Việt Nam Cộng hòa chưa xây dựng  
được gì đáng kể, hàng viện trợ phần lớn là hàng tiêu dùng trực tiếp. Nhưng số hàng viện trợ này 
khi đem bán ra thị  trường để  lấy tiền cho ngân sách, cũng phục vụ  một phần cho người dân,  
nhất là dân đô thị. Việc đó cũng tạo ra cho xã hội một mặt phồn vinh. Nếu không có viện trợ 
của Mỹ thì cũng không có chính quyền miền Nam. 
Ngoại thương và nội thương đều do Mỹ  nắm độc quyền thông qua viện trợ, cung cấp 
ngoại tệ  cho Việt Nam Cộng hòa, dưới chính sách viện trợ, Mỹ siết chặt nông dân miền Nam 
vào sự kiểm soát chặt chẽ, điều này dẫn đến nguy cơ phá sản, thất nghiệp, nghèo đói diễn ra ở 
nông thôn nghiêm trọng, làm cho nông nghiệp miền Nam Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc 
hậu, suy sụp. Miền Nam trở thành một nguồn làm giàu cho Mỹ, nơi dự trữ nhân lực và vật lực  
để phục vụ chính sách xâm lược của Mỹ. Mặc dù, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng đã có 
những chính sách để đẩy mạnh xuất khẩu như mở mang các hải cảng, thương cảng, trợ cấp và  
kiểm soát nhập khẩu, bảo vệ  mậu dịch, đồng thời thoát khỏi sự  lệ  thuộc vào hàng hóa nhập 
khẩu từ Mỹ.
2.1.3. Bộ máy quản lý hoạt động ngoại thương
Cũng như nhiều nước tư bản khác trên thế giới, ngoại thương của Việt Nam Cộng hòa, 
được thực hiện trên cơ sở chế độ sở hữu tư bản tư nhân về  tư  liệu sản xuất và phát triển theo 
quy luật cạnh tranh, nhà nước chỉ giữ vai trò hướng dẫn, điều tiết các hoạt động ngoại thương,  
theo các đường lối chính sách chính trị  và kinh tế  chung, không đi sâu vào việc quản lý kinh 
doanh ngoại thương. Để điều tiết và kiểm soát hoạt động ngoại thương, chính quyền Việt Nam  
Cộng hòa đã thành lập các cơ quan cấp chính phủ là Bộ Kinh tế, Bộ Tài chính và và Ngân hàng  
Quốc gia Việt Nam.
Bên cạnh đó, còn có các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu, các cơ quan giám định hàng 

2.2. Hoạt động xuất khẩu (1955 – 1964)
2.2.1. Hàng xuất khẩu 
Để tạo cho nền kinh tế ngoại thương có những thay đổi, chính quyền miền Nam đã ban  
hành “nghị  định số  246 – KT ngày 15/8/1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa” thực hiện 
nhiều cố gắng để đẩy mạnh xuất khẩu, ban hành nhiều biện pháp khuyến khích giúp đỡ các nhà  
sản xuất, xuất khẩu như trợ cấp, miễn thuế, cấp tín dụng, hạn chế nhập khẩu, duy trì cân bằng 
cán cân thương mại, điều hòa thị trường hàng hóa ở miền Nam Việt Nam…Để sản phẩm hàng  
hóa của Việt Nam Cộng hòa có thể  cạnh tranh hữu hiệu trên thị  trường quốc tế  và gia tăng số 
ngoại tệ sau khi được thu hồi, hạn chế tình trạng trở  thành thị  trường tiêu thụ  hàng hóa của tư 
bản nước ngoài.
Từ  năm 1955 đến năm 1964, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam Cộng hòa chủ  yếu nhất là 
mặt hàng cao su và gạo, hai mặt hàng này luôn dẫn đầu trong kim ngạch xuất khẩu, đồng thời  là 
những mặt hàng xuất khẩu chính của nền ngoại thương miền Nam, giữ vị trí quan trọng trong  
cơ cấu hàng hóa xuất khẩu. 

Ngoài ra, trong gian đoạn này, miền Nam Việt Nam còn xuất khẩu được các 
loại chế  phẩm, đồ  tiểu công nghệ, sản phẩm về động vật (cá tươi, hột vịt, mực  
khô, gân bò, gân heo, chất nhờn của súc vật, lông vịt, da rắn, da cá sấu, xương bò, 
xương trâu, sừng trâu, sừng bò, vỏ  ốc, xa cừ, ngà voi…), sản phẩm về  thảo mộc  
(ngũ cốc, cao su, tre, gỗ, than cây Cà Mau, trái cây, thuốc nam, trà, quế, mũ thông,  
bánh dầu, dầu dừa Trung Việt…) đồ uống (rượu bia, rượu rôm, rượu mía), khoáng 
sản (muối biển, cát trắng) sản phẩm công nghệ  và kỹ  nghệ  (thuốc điếu, thuốc xì 
gà, diêm, xà bông, chiếu cói, chén, dĩa…), linh tinh (tác phẩm mỹ thuật (tranh ảnh  
sơn dầu, sơn mài, sắt vụn…).
Đặc biệt, trong những năm 1960 đến năm 1963 tình hình xuất khẩu hàng hóa  
tương đối phong phú hơn, bên cạnh những mặt hàng nông phẩm chủ yếu, thì trong  
giai đoạn này xuất hiện những mặt hàng thuộc về sản phẩm chăn nuôi, lâm sản và 
sản phẩm ngư sản khác. 
2.2.2. Thị trường xuất khẩu
Ngày 15/8/1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ban hành nghị  định số  246­ KT về   ấn  

Cơ  cấu thị  trường nhập khẩu của Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn này, nhìn chung 
cũng giống như  trên lĩnh vực xuất khẩu. Xem xét các mặt hàng theo từng nước, thì Mỹ  vẫn 
chiếm quan trọng nhất trong nhập khẩu. Đứng vị  trí thứ  hai là Pháp. Sau đó, là các nước thuộc 
phe Mỹ và một số nước như Đài Loan, Nam Triều Tiên, Tây Đức, Úc, Philippin…cũng tìm cách 
nhảy vào thị trường Việt Nam Cộng hòa để tìm lợi nhuận trong xuất nhập khẩu cũng như trong  
các hoạt động đầu tư khác. 
Ngoài ra, Việt Nam Cộng hòa còn tiến hành nhập khẩu hàng hóa của các nước Áo, Bỉ, 
Canađa, Đan Mạch, Tân Tây Lan, Ý, Mônacô, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Hồng  
Kông, Nam Phi… Qua đó, Việt Nam Cộng hòa đã nhập được nhiều thiết bị quan trọng, thay thế 
cho các xí nghiệp đã được thành lập từ trước, hoặc mới lập sau này do các nước này đầu tư tại 
miền Nam Việt Nam, theo luật cho nước ngoài đầu tư của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Có thể nói, từ năm 1955 đến năm 1964,  đây là giai đoạn phát triển tốt đẹp nhất của ngành  
xuất khẩu Việt Nam Cộng hòa, chủ yếu xuất khẩu là mặt hàng gạo và cao su, phát triển tương 
đối nhanh (giai đoạn 1955­1960) và phát triển vừa phải (1960­1964), song vẫn giữ được mức độ 
gia tăng vừa phải, nhưng nếu xét giá trị  xuất khẩu theo hàng năm, thì có sự  lên xuống bất  
thường, không ổn định. Nhập khẩu trong giai đoạn này luôn cao hơn so với xuất khẩu, làm cho  
chính quyền Việt Nam Cộng hòa sử dụng phương thức hàng đổi hàng, đây là biện pháp mà các 
nước chậm phát triển sử  dụng một cách phổ  biến, để  đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang các  
nước tư bản phát triển. 
Ngoài ra, từ giữa năm 1961, Mỹ đã tiến hành cuộc “chiến tranh đặc biệt”, toàn miền Nam  
Việt Nam bước vào thời kỳ càn quét, chế độ cai trị thời chiến lược đã được áp dụng, dân bị dồn  
về  đô thị, ven đường quốc lộ  và nhất là các  ấp chiến lược. Do tác động của chiến tranh, tình 
hình ngoại thương của Việt Nam Cộng hòa từ  năm 1962 bắt đầu sa sút, ngân sách của chính 
quyền Việt Nam Cộng hòa ngày càng thiếu hụt, tình trạng lạm phát ngày càng gia tăng, hoạt 
động xuất khẩu giảm sút đặc biệt là hai mặt hàng gạo và cao su, sản phẩm tiêu biểu chủ  yếu  
đặc trưng nền kinh tế  Việt Nam Cộng hòa là gạo thì đến năm 1964 là năm cuối cùng mà mặt  
hàng này xuất khẩu. 
Nông nghiệp miền Nam Việt Nam bị tàn phá trầm trọng, nhất là từ năm 1963, ảnh hưởng  
nhiều nhất là trong lĩnh vực trồng lúa, mức sản xuất giảm, diện tích canh tác bị  thu hẹp, cao su  
cũng trong tình trạng như vậy, diện tích canh tác cũng như sản xuất đều bị thiệt hại nặng nề.

3.1.2. Chính sách viện trợ của Mỹ
Đến năm 1965, do tình hình chiến tranh phức tạp, Mỹ đã đề ra và giúp chính quyền Việt 
Nam Cộng hòa thực hiện hàng loạt dự án, xây dựng các công trình phục vụ cho chiến tranh, đặc  
biệt là phục vụ quân đội, như  mở  mang các nhà máy điện, hệ  thống cung cấp nước, xây dựng  
đường xá, bến cảng, sân bay, nhà máy dệt, giầy vải, đồ hộp… 
Với việc Mỹ tăng viện trợ thương mại, đã tạo một điều kiện rất lớn để  cung cấp hàng 
hóa nhập khẩu vào miền Nam Việt Nam. 
Đến năm 1969, viện trợ của Mỹ ở Việt Nam Cộng hòa không thể kéo dài, do tốn kém quá 
nhiều tiền của, thương vong nhiều binh lính, thiệt hại nhiều vũ khí, phương tiện, phong trào  
phản đối chiến tranh trên thế  giới, giới cầm quyền Mỹ nghĩ đến việc rút khỏi miền Nam Việt 
Nam, xét về mọi phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội. 
Đặc biệt, với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ  đã rút dần quân và trao gánh  
nặng chiến tranh cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tăng viện trợ để Việt Nam Cộng hòa tận 
lực tăng quân số, chống đỡ khó khăn về kinh tế. 
3.1.3. Bộ máy quản lý hoạt động ngoại thương
Trong giai đoạn 1965 – 1975, bộ máy chính quyền quản lý hoạt động ngoại thương của  
Việt Nam Cộng hòa, đã có những thay đổi nhất định, để phù hợp với tình hình mới, nhưng nhìn  
chung, chức năng quản lý ngoại thương không có sự thay đổi đáng kể, mà chủ yếu là cơ cấu lại  
tổ chức của bộ máy ngoại thương.
Mặc dù, Bộ Kinh tế đã qua nhiều lần cải tổ nhưng về cơ bản chức năng, nhiệm vụ của  
Nha Ngoại thương hầu như  không bị  xáo trộn. Bộ  Tài chính thay đổi trong cơ  cấu tổ  chức để 
thích hợp với nhu cầu công việc và tình hình mới. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cũng thay đổi 
để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và cũng nhằm củng cố tổ chức ngày càng hoàn thiện hơn.  
Ngoài ra, còn có sự thay đổi chức năng trong một số tổ chức vận động thương nhân.
3.1.4. Chính sách ngoại thương của chính quyền Việt Nam Cộng hòa
Việc Mỹ  trực tiếp can thiệp vào nội tình  ở  miền Nam Việt Nam và đặc biệt là từ  sau  
năm 1965, với sự hiện diện trên nửa triệu quân đội Mỹ và đồng minh ở miền Nam Việt Nam, đã  
đem lại hậu quả nghiêm trọng, là hoạt động kinh tế của Việt Nam Cộng hòa bị đảo lộn, tiền tệ 
bị ảnh hưởng lạm phát, nhu cầu chi tiêu của quân đội Mỹ và đồng minh, đã làm gia tăng số thu  
về  ngoại tệ  cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Do đó, chính sách ngoại thương của chính 

động ngoại thương, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Cộng hòa liên tục giảm sút, trong khi  
đó, nhập khẩu lại tăng lên nhanh chóng, điều này làm cho cán cân ngoại thương chênh lệch ngày 
càng to lớn. 
Nếu giai đoạn 1955 – 1964, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Cộng hòa có sự  phát  
triển nhất định với khối lượng và cơ cấu hàng hóa bán ra trên thị trường thế giới tương đối khả 
quan, thì giai đoạn 1965 – 1975, tình hình xuất khẩu giảm sút nghiêm trọng, mặc dù, các chính 
phủ của Việt Nam Cộng hòa nối tiếp nhau cũng đã có những cố gắng đề ra nhiều biện pháp để 
đẩy mạnh xuất khẩu. Tuy nhiên, do tình hình chiến tranh ngày càng diễn ra ác liệt, đồng thời,  
dưới áp lực của viện trợ Mỹ để giải quyết nhu cầu cho Qũy đối giá, đã đặt ra cho chính quyền 
Việt Nam Cộng hòa vào tình thế bất khả kháng buộc phải cho xuất khẩu ngày càng thu hẹp, đẩy 
mạnh nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam Cộng hòa.
Trong đó, nhiều mặt hàng có sự giảm sút nghiêm trọng và thậm chí không còn xuất khẩu  
được nữa như gạo, cát trắng, trứng vịt, dầu thực vật, bia, cà phê, đậu phộng, đồng vụn, quế, Oil 
cake, sản phẩm cao su, trà, lông vịt đã giảm sút so với giai đoạn trước, các sản phẩm khác chủ 
yếu là vật liệu phế thải trong chiến tranh gia tăng nhanh chóng.
Cũng trong những năm này, Việt Nam Cộng hòa còn xuất khẩu được các loại nông 
phẩm, chế phẩm, đồ tiểu công nghệ, phế liệu, sắt vụn. 
Tình trạng xuất khẩu được xem là khá bi đát, nhất là từ năm 1965, riêng ngành xuất khẩu  
vô hình lại gia tăng, bù đắp một phần lớn cán cân thương mại thiếu hụt, ngành này gia tăng nhờ 
đổi đô la chi tiêu của quân đội Mỹ các dịch vụ bán cho ngoại quốc như chuyên chở, nghiệp vụ 
bảo hiểm, du lịch, học bổng…
3.2.2. Thị trường xuất khẩu
Trong giai đoạn này, thị trường xuất khẩu của Việt Nam Cộng hòa ngày càng theo chiều  
hướng thu hẹp dần theo thời gian, bên cạnh đó, là kim ngạch xuất khẩu cũng giảm mạnh trên  
tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Cộng hòa.
Thị trường xuất khẩu của Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn này, chủ yếu vẫn là Pháp,  
Tây Đức, Nhật, Anh, Mỹ, các nước tư  bản Tây Âu, tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu của Việt  
Nam sang các thị trường này giảm sút liên tục, đặc biệt, từ năm 1969 một số thị trường đã không 
còn trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Cộng hòa. 
3.3. Hoạt động nhập khẩu (1965 – 1975)

Giống như  như  giai đoạn 1955 – 1964, thị  trường nhập khẩu của Việt Nam Cộng hòa 
trong giai đoạn này chủ  yếu là các nước thuộc hai khu vực châu Á và Tây Âu, trong giai đoạn  
này Việt Nam Cộng hòa còn nhập khẩu hàng của Úc, chủ yếu là hàng nông phẩm. 
Ngoài ra, còn có sự  xuất hiện một số  thị  trường nhập khẩu khác như: Canada viện trợ 
xây dựng trung tâm chữa bệnh cho binh lính Việt Nam Cộng hòa ở Quy Nhơn và một số phương  
tiện khác, để  trang bị  bệnh viện cấp cứu; Hà Lan xây dựng phòng khám bệnh lao và viện trợ 
hợp tác khoa học, kĩ thuật; thị trường châu Á xuất hiện thêm Đài Loan, Nam Triều Tiên, chủ yếu  
nhập khẩu vào Việt Nam Cộng hòa hàng tiêu dùng gia đình, đồ  điện, dụng cụ  gia đình; Ấn Độ 
nhập khẩu mặt hàng nông sản và hàng tiêu dùng thông thường: bông sợi đay…
Tóm lại, từ  năm 1965 đến năm 1975, hoạt động ngoại thương của Việt Nam Cộng hòa  
chủ  yếu là hoạt động nhập khẩu, hoạt động xuất khẩu ngày càng giảm sút nghiêm trọng, chủ 
yếu do tình hình chiến sự, nhu cầu hàng hóa phục vụ cho quân đội Mỹ và người dân miền Nam  
Việt Nam gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã có sự thay đổi 
rất nhiều trong chính sách ngoại thương, nổi bật trên hết là biện pháp nhập khẩu tự  do không 
hạn chế, góp phần đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu.
Hoạt động ngoại thương của Việt Nam Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1975, chủ yếu là 
nhập khẩu, tỷ lệ xuất khẩu so với nhập khẩu là 1/24.
Như  vậy, có thể nói rằng, đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa là nhập khẩu  
tiêu thụ, người dân miền Nam Việt Nam đã sống trên sức sản xuất của mình quá xa, sống trong 
thịnh vượng nhưng dưới sự  viện trợ  của Mỹ. Ngành nhập khẩu là một trong những lĩnh vực  
hoạt động ngoại thương chủ  yếu của Việt Nam Cộng hòa. Nguồn trang trải nhập khẩu phần  
lớn phải dựa vào các chương trình viện trợ. Ngoài ra, miền Nam cũng có sử  dụng ngoại tệ  sở 
hữu, mà phần lớn cũng dựa vào việc đổi tiền miền Nam lấy đôla. Trong nhập khẩu cũng có một 
số khoản viện trợ khác của Nhật, Pháp nhưng không đáng kể. 
* Tác động của chiến tranh đối với hoạt động ngoại thương
Đầu năm 1965, trước nguy cơ  chiến lược "chiến tranh đặc biệt" bị  phá sản hoàn toàn, 
Mỹ  đã  ồ   ạt đưa quân và quân đồng minh cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền  
Nam Việt Nam nhằm đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục 
bộ"  ở  miền Nam Việt Nam và mở  rộng "chiến tranh phá hoại" miền Bắc. Mặt khác, Mỹ  cũng 


Bên cạnh sự phát triển tuần tự từ thủ công lên nửa cơ khí, cơ khí, ở miền Nam Việt Nam  
trong thời kỳ 1958­1973, dưới  ảnh hưởng của viện trợ Mỹ và ảnh hưởng của cuộc cách mạng 
khoa học kỹ  thuật trên thế  giới, quá trình tiến bộ  kỹ  thuật trong công nghiệp có những bước  
phát triển nhảy vọt, từ thủ công lên cơ khí hóa và tự động hóa.
Máy móc thường nhập cảng từ các quốc gia tư bản phát triển như Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, 
Đài Loan… Những máy móc này thuộc vào loại máy móc thế hệ những năm 1960. Trong nhiều  
ngành công nghiệp đã bắt đầu xuất hiện các dây chuyền chuyên môn hóa sản xuất với công suất  
lớn, những quy trình công nghệ hiện đại như quy trình ép dầu, làm bột ngọt, sản xuất đồ  hộp,  
dệt vải, lắp ráp và chế tạo nông ngư cơ… Mà điển hình nhất là nhà máy lắp ráp chế  tạo nông 
ngư  cơ  Vinappro, Vikyno, cơ  cấu sản xuất của Vinappro  được tổ  chức theo lối dây chuyền 
chuyên môn hóa cao và hai công ty này còn nhận sự  giúp đỡ  kỹ  thuật của hai công ty lớn của  
Nhật (Yanmar và Nichimen).
Trong cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam Cộng hòa, tỷ trọng nhập khẩu thiết bị, máy móc  
và dụng cụ phụ tùng do đó được nâng cao. Việc nhập khẩu thiết bị toàn bộ  cho các công trình  
lớn có ý nghĩa chiến lược, như việc thành lập nhà máy thủy điện, vì hầu hết nguồn năng lượng 
là dựa vào dầu nhập khẩu, mỗi năm Việt Nam Cộng hòa phải nhập khoảng gần 2 triệu tấn dầu 
các loại, vừa để chạy xe và các máy thủy, còn khoảng một nửa để chạy các nhà máy điện.
* Về thương mại
Nổi bật trên hết là ở các thành thị đặc biệt là ở những thành phố lớn như Sài Gòn ­ Chợ 
Lớn, Cần Thơ, Đà Nẵng đã hình thành thêm các cơ sở thương mại như chợ, hiệu buôn… các cơ 
sở cũ đều được sửa sang
Ở  Sài Gòn đa số  các con đường của thành phố  đều có hoạt động thương mại dịch vụ 
nhộn nhịp, số hiệu buôn, tiệm quán trong các khu thương mại chuyên nghiệp đã tăng lên nhiều  
lần từ năm 1962 đến 1972, nhiều cơ sở thương nghiệp có 18 đến 20 lao động phụ việc, ngoài ra 
ở các thành phố còn xuất hiện nhiều hình thức cơ sở thương nghiệp hiện đại giống như Âu, Mỹ 
đó là những thương xá, siêu thị các gian hàng trưng bày sản phẩm, ở những cơ sở này việc buôn 
bán được tổ chức rất chu đáo và chia thành nhiều gian hàng khác nhau, đồng thời có một số trung  
tâm thương mại tiêu biểu với giá trị  thương vụ  rất cao như  Charner, Passage Eden, SaiGon 
Departo, Crystal Palace… 
Nếu trước năm 1954, Sài Gòn chỉ  là một trung tâm thương mại tài chính, tính chất trung  

phối các vật tư kỹ thuật cần thiết cho việc canh tác. Nhiều nơi, các tổ  chức này còn làm trung  
gian trong việc cho vay tiền của các ngân hàng ở Sài Gòn, các tổ chức này đều được chính quyền 
Sài Gòn nâng đỡ khuyến khích và kiểm soát. 
* Về giao thông vận tải
Dưới sự phát triển của hệ thống giao thông vận tải, hoạt động lưu thông hàng hóa ở Việt 
Nam Cộng hòa tương đối thuận lợi. Đó là cơ sở hạ tầng quan trọng để đẩy mạnh, phục vụ cho 
hoạt động ngoại thương của Việt Nam Cộng hòa, giải quyết đại bộ  phận nhu cầu vận chuyển  
hàng hóa xuất nhập khẩu.
Có thể nói hệ thống đường bộ ở Việt Nam Cộng hòa đã được xây dựng với chất lượng 
tốt, nổi bật là hệ thống đường trải nhựa đã nối liền nhiều thành phố, trung tâm chính trị, kinh tế.  
Một mạng lưới sông rạch chằng chịt khắp đồng bằng sông Cửu Long đã giúp cho việc vận tải, 
chuyên chở  hàng hóa bằng đường thủy tới thành phố  Sài Gòn – Chợ  Lớn cũng như  giữa các  
trung tâm kinh tế trong vùng trở nên thuận lợi. 
Do ảnh hưởng của chiến tranh, không đảm bảo an toàn, nên đường sắt Việt Nam Cộng  
hòa không phát triển được. Mặc dù vậy, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng đã có những 
chính sách cải tiến và phục hồi các quãng đường, đặc biệt là các nhánh đường sắt, đồng thời xây 
dựng một số  đường nhánh mới cải tiến lại các đường hầm và cầu, đã thúc đẩy vận chuyển  
hàng hóa, phục vụ  chủ  yếu các khu công nghiệp và hải cảng miền duyên hải miền Trung. Về 
vận chuyển bằng đường hàng không, từ năm 1958 đến năm 1969 số hành khách và hàng hóa vận 
chuyển bằng đường này có gia tăng. 
Số lượng hàng hóa vận chuyển qua cảng hàng không quốc tế  cao gấp nhiều lần so với 
hàng không quốc nội, ngược lại, vận chuyển hành khách qua hàng không quốc nội lại tăng cao  
so với hàng không quốc tế. Trong hàng không nội địa, hàng hóa được di chuyển nhiều nơi như:  
Ban Mê Thuột, Đà Lạt, Đà Nẵng, Huế, Kontum, Nha Trang, Pleiku, Qui Nhơn, Sài Gòn…Về 
hàng không quốc tế, hàng hóa được đưa đi trao đổi buôn bán với nhiều nước Cam Bốt, Ai Lao,  
Hà Nội, Mỹ, Hương Cảng, Pháp, Tân Gia Ba, Thái Lan, Tokyo…Tuy nhiên, từ  năm 1971 trở  đi,  
vận chuyển hàng không đã bắt đầu có khuynh hướng giảm dần do tình hình chiến sự, cơ sở hạ 
tầng ngày càng xuống cấp, hư hại nhanh chóng.
* Góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, các chính phủ kế tiếp nhau luôn khuyến khích đầu tư vào  

Từ khi quân đội Mỹ tham chiến ồ ạt, người Hoa tranh thủ cơ hội mới, họ mở rộng kinh  
doanh trên nhiều lĩnh vực: thầu những hàng quân nhu, đồ phế thải chiến tranh…tiêu biểu một số 
doanh nhân như: Lý Long Thân đứng đầu ngành kinh doanh luyện kim ở miền Nam, Mã Hỷ kinh 
doanh lúa gạo, bột mì, Trần Kiên Trí và Thái Tính Hà nắm hầu hết ngành chế  biến thực phẩm,  
sản xuất vận chuyển, lưu thông các sản phẩm thịt heo, vịt khô…trên thị  trường miền Nam và 
xuất khẩu. 
Người Hoa giữ vai trò chi phối lớn trong ngoại thương. Nếu như ở miền Bắc, người Hoa  
không giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thì ở miền Nam Việt Nam, họ kiểm soát hầu hết 
các vị trí quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là trong sản xuất hàng hóa, phân phối hàng hóa  
và tín dụng.
Dù sao, trong thực tế, cũng không thể phủ nhận sự đóng góp của người Hoa ở miền Nam  
Việt Nam, họ là cầu nối quan trọng cho các mối quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư  giữa các  
quốc gia gần với Việt Nam Cộng hòa, những nước có người Hoa sinh sống như: Trung Quốc,  
Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan, nơi mà người gốc Hoa chiếm tỷ lệ không nhỏ trong  
tổng dân số của từng quốc gia này.
4.1.2. Tác động tiêu cực
Các nhà nhập khẩu tiến hành kinh doanh với nhiều độc quyền lớn nên chắc chắn thu lời 
rất cao, độc quyền nhập khẩu, độc quyền vay tiền ngân hàng và độc quyền về  giá cả  nhập  
khẩu, nhất là những khi thị trường khan hiếm hàng hóa. Đó là chưa kể đến việc hối suất thực tế 
trên thị trường, nên nhà nhập khẩu có thể thu thêm những khoản lời khác từ sự chênh lệch đó. 
Việc nhập khẩu hàng hóa ồ ạt đã giết chết nhiều mặt hàng đang xuất khẩu và nhiều mặt 
hàng có tiềm lực xuất khẩu, kìm hãm sản xuất  ở  miền Nam Việt Nam, tác động tiêu cực đến  
hoạt động xuất khẩu.
Nhập khẩu đã trở thành biện pháp chủ yếu để  thực hiện được các khoản thu ngân sách, 
đồng thời, ngăn chặn nạn lạm phát. Nhập khẩu đã giết chết nhiều ngành sản xuất tiểu công  
nghệ đã có thời kỳ đem lại cho miền Nam những khoản thu nhập đáng kể trong kim ngạch xuất  
18


khẩu. Nhập khẩu cũng đã làm cho ngành cá, ngành chăn nuôi và sản xuất các loại hoa quả  có 

Việc nhập khẩu ồ ạt và những biện pháp, chính sách ngoại thương của chính quyền Việt  
Nam Cộng hòa trong thời kỳ 1965 – 1975, đặc biệt là khi chiến tranh lan rộng, đã tác động đến 
làm cho hoạt động sản xuất nội địa bị đình trệ, nhiều ngành nghề phải dẹp bỏ và lâm vào cảnh 
phải phá sản.
Hàng hóa tồn kho thì ứ đọng nhiều, một số nhà nhập khẩu phải bỏ cả hàng hóa tại kho  
hàng năm và chịu bị tịch thu để  trừ  tiền lưu kho, lưu bãi. Nạn trộm cắp tại các kho hàng hóa ở 
các cảng đối với hàng hóa nhập khẩu hoành hoành ác liệt, chính quyền Việt Nam Cộng hòa thừa 
cơ hội này đưa ra biện pháp tịch thu, tịch biên… hàng hóa của những nhà nhập khẩu với những  
lý do không thỏa đáng, mà còn dung túng chứa chấp lực lượng cảnh sát, thuế  quan, chiếm lấy 
công khai hàng hóa ứ đọng tại các kho, các cảng, làm cho nhiều nhà trung sản, tiểu sản, thậm chí 
có một số  đại sản cũng bị  lỗ  lã phá sản và tạo nên sự  mâu thuẫn giữa những nhà xuất nhập 
khẩu với chính quyền quản lý ngoại thương của Việt Nam Cộng hòa ngày càng thêm sâu sắc.
Bên cạnh đó, một bộ phận thanh thiếu niên ăn chơi, trụy lạc, hưởng thụ, uống rượu, tập  
trung tại các nhà hàng, khách sạn, động mại dâm, tiệm hút chích, sàn nhảy  ở  khu vực Sài Gòn  
ngày càng nhiều.
* Độc quyền ngoại thương
Dưới thời Ngô Đình Diệm, khi mà hoạt động xuất khẩu đang có đà phát triển, những 
người lãnh đạo miền Nam Việt Nam và gia đình Ngô Đình Diệm đã khống chế chặt chẽ ngành 
này
19


Sau thời Ngô Đình Diệm, việc nắm giữ hoạt động xuất khẩu của chính quyền Việt Nam 
Cộng hòa ngày càng được khống chế và siết chặt hơn, họ đã dùng những thủ  đoạn phi kinh tế 
để vơ vét hàng xuất khẩu như: Nguyễn Văn Toàn tư lệnh quân đoàn 2 là “vua Quế” của Quảng  
Nam, Quảng Ngãi, Nguyễn Văn Thiệu là trùm quân dụng phế  thải, hải quân thì khống chế các 
ngành ngư sản…
Một bộ  phận thương nhân ngành xuất nhập khẩu đã thao túng thị  trường, mua bán đầu  
cơ hàng hóa và ngoại tệ chạy theo lợi nhuận trước mắt, làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động 
sản xuất ở miền Nam Việt Nam, về cung cấp nguyên vật liệu và giá cả, đồng thời, họ còn thao  

Mặc dù, mức sống của người dân miền Nam Việt Nam có tăng lên, đời sống vật chất có 
khấm khá hơn, tuy nhiên, chất lượng cuộc sống của họ, nói chung vẫn rất kém. Cuộc sống của  
người dân miền Nam Việt Nam không có sự an toàn. Nhờ vào viện trợ từ Mỹ, xã hội miền Nam  
Việt Nam mới có thể  chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh và không 
quá để nói rằng, nếu không có được sự viện trợ này, chắc chắn xã hội miền Nam Việt Nam đã 
sụp đổ ngay từ đầu thập kỷ 60. 
Mặt khác, người dân miền Nam Việt Nam quen việc tiêu dùng và hưởng thụ là chủ yếu, 
nên có thể nói, một trong những nét điển hình của xã hội miền Nam Việt Nam là “tính chất xã  
hội tiêu dùng”, xã hội này lại tồn tại song song với một “xã hội thời chiến”, đặc biệt, khi mà  
tình hình chiến tranh ngày càng lên cao, với sự hiện diện đông đảo của quân đội nước ngoài vào 
miền Nam Việt Nam, và bên cạnh đó là nhiều tệ  nạn xã hội diễn ra và ngày càng gia tăng như 

20


trộm cắp, mại dâm, ăn chơi trụy lạc… làm cho cuộc sống của người dân miền Nam Việt Nam 
trong tình trạng bất an, lo lắng.
Một vấn đề  khác dễ  dàng nhận thấy, là bên cạnh sự  phồn vinh mang tính chất giả  tạo 
của xã hội miền Nam Việt Nam, thì tình trạng tương phản giữa người giàu và người nghèo, giữa 
thành thị và nông thôn, hiện lên rất rõ ràng. Ngay cả những người giàu có với mức sống vật chất  
khá cao nhưng chất lượng cuộc sống của họ chưa hẳn đã cao, sự  giàu sang này không ổn định,  
có nhiều hiểm họa không an toàn, vững chắc, mà đỉnh điểm nhất là sự sụp đổ  của chế độ Việt  
Nam Cộng hòa đó là hiểm họa lớn nhất.
Bên cạnh đó, mức thuế gia tăng, giá tiêu thụ gia tăng thì tiền lương không thay đổi hoặc  
có thay đổi thì cũng không tương xứng với việc giá cả tăng cao.
Đời sống của các giai cấp và từng tầng lớp (công nhân, nông dân, tiểu thương, trí thức, 
tư sản) ở miền Nam Việt Nam chịu nhiều khó khăn, khốn khổ…
4.3. Một số  nhận xét về  hoạt động ngoại thương của Việt Nam Cộng hòa từ  năm 1955  
đến năm 1975


hàng gạo đã chấm dứt. Hàng xuất khẩu của Việt Nam Cộng hòa phần lớn là nông phẩm ở dạng 
nguyên liệu, những hàng này thường là đối tượng của chính sách phân biệt đối xử về nhập khẩu  
của các nước tư  bản phát triển. Nhập khẩu của Việt Nam Cộng hòa luôn trong tình trạng tăng 
gấp nhiều lần so với xuất khẩu, trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Cộng lại  
chiếm tỷ  trọng quá nhỏ  bé trong tổng kim ngạch nhập khẩu, nên cũng không có tác động đáng  
21


kể đến nhập khẩu của các nước và do đó khó ổn định thị xuất khẩu. Sự chênh lệch giữa nhập  
khẩu và xuất khẩu với một số nước rất lớn, mà trong ngoại thương việc thăng bằng xuất nhập  
là điều kiện rất quan trọng trong quan hệ buôn bán giữa các nước. 

KẾT LUẬN
1. Chính sách ngoại thương của chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhìn chung nhằm vào  
mục tiêu  ổn định ngắn hạn mà không chú trọng đến các mục tiêu phát triển dài hạn, cần phải  
chuyển từ một nền kinh tế tiêu thụ sang  một nền kinh tế sản xuất, các chính sách kinh tế ngắn 
hạn phải được thay thế  bằng các chính sách nhằm vào mục tiêu phát triển trường kỳ. Thực  
trạng nền kinh tế của Việt Nam Cộng hòa có một nền nông nghiệp quá sơ  khai, mà lại bị  tàn  
phá do chiến sự diễn ra, kỹ nghệ quá lệ thuộc viện trợ của Mỹ và rất khó có triển vọng tự  túc, 
tự lực. 
2. Ngoại thương Việt Nam Cộng hòa chủ  yếu nhập khẩu hàng viện trợ  Mỹ, kim ngạch  
nhập khẩu luôn tăng lên qua các năm với cấp số  nhân so với xuất khẩu, tình trạng nhập siêu  
ngày càng trở nên trầm trọng và chỉ  có tăng chứ không hề giảm sút, dù rằng, chính quyền Việt  
Nam Cộng hòa đã có những cố gắng nhất định để  đẩy mạnh xuất khẩu trong một vài năm với  
nhiều mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao, nhưng cũng không sao bù được nổi chênh lệch 
ngày càng lớn lao đó. 
Nhập khẩu hàng hóa tiêu thụ  là một đặc điểm của nền kinh tế  Việt Nam Cộng hòa. 
Ngành nhập khẩu là một trong những lĩnh vực hoạt động ngoại thương chủ yếu của Việt Nam 
Cộng hòa. Ta thấy rằng, nhập khẩu gia tăng do viện trợ  thương mại tăng, đặc biệt khi chiến  
tranh leo thang và do nhu cầu hàng nhập khẩu tăng vọt cùng với sự hiện diện của quân đội Mỹ 

1975. Luận án rút ra được một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào ngoại thương Việt 
Nam hiện nay: 
Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những nhà xuất nhập khẩu Việt Nam được tự do kinh  
doanh trên thị trường trong nước và quốc tế, theo định hướng chiến lược mà nhà nước đã vạch 
ra, đặc biệt, các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm xuất  
khẩu, cũng như tự xúc tiến và quảng bá cho những sản phẩm của riêng mình; Xây dựng đào tạo  
đội ngũ kinh doanh ngoại thương giỏi về nghiệp vụ, am hiểu nền kinh tế thị trường trong nước  
và ngoài nước, có trách nhiệm tìm hiểu và cung cấp thông tin, đầu mối để  kết nối với các thị 
trường thế giới, giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa hàng ra nước ngoài, trong khi đó, các doanh  
nghiệp lớn có thêm những nhà cung cấp mới.
Chính sách nhập khẩu cần được điều hướng để hỗ trợ sản xuất nội địa, đồng thời, thúc  
đẩy sản xuất hàng hóa trong nước, hướng nhập khẩu vào những mặt hàng cần thiết nhằm phát  
triển đất nước theo định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hạn chế  nhập khẩu hàng tiêu  
dùng xa xỉ; Đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, khai thác và tận dụng triệt để những tiềm năng sẵn có 
ở trong nước để biến thành những sản phẩm xuất khẩu; Đa dạng hóa xuất khẩu tránh tình trạng 
lệ  thuộc vào một vài sản phẩm chính; Chính sách xuất khẩu phải cố  gắng đạt đến mức tăng  
dần số xuất khẩu và hạ dần số nhập khẩu nhằm quân bình xuất nhập khẩu; Tiếp tục đẩy mạnh 
hợp tác với các nước trên thế  giới nhằm mở  rộng thị  trường xuất khẩu, thúc đẩy các quan hệ 
kinh tế  đối ngoại của Việt Nam, trong đó, đẩy mạnh xúc tiến thương mại vào thị  trường các 
nước lân cận, chính phủ cần có một số chương trình hỗ trợ  doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao 
năng lực, đẩy mạnh xuất khẩu và tất nhiên phải có sự  tự  thân vận động của chính các doanh  
nghiệp Việt Nam.
Những bài học kinh nghiệm trên có thể góp phần vào việc tiếp tục đẩy mạnh hoạt động 
ngoại thương của Việt Nam hiện nay, đạt được thêm những thành tựu về xuất khẩu, nhập khẩu 
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng cường hội nhập quốc tế 
hiện nay. Từ đó, đặt ra những yêu cầu cấp bách phải nghiên cứu, kế thừa những bài học kinh 
nghiệm nhất định về vấn đề  ngoại thương ở  miền Nam Việt Nam trong lịch sử Việt Nam giai  
đoạn 1955 – 1975 và tiếp tục vận dụng, phát triển linh hoạt, sáng tạo hơn nữa trong các chính 
sách ngoại thương của Việt Nam hiện nay, góp phần thúc  đẩy hoạt động ngoại thương nói 
riêng, hoạt động kinh tế  Việt Nam nói chung ngày càng được mở  rộng và phát triển, phục vụ 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status