Nguyễn Du - Nỗi lòng trong
thơ ca chữ Hán
Nguyễn Du (3-1-1765 - 16-9-1820) tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê
gốc làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh ra và
trải qua thời niên thiếu ở Thăng Long. Cha là Nguyễn Nghiễm đã làm
tới chức tể tuớng triều Lê. Mẹ, bà Trần Thị Tần, bà thứ ba của Nguyễn
Nghiễm, người xứ Kinh Bắc (Nguyễn Nghiễm 8 vợ, 21 người con).
Mười tuổi, Nguyễn Du mồ côi cha, mười ba tuổi mồ côi mẹ.
Truyện Kiều và Văn chiêu hồn, hai kiệt tác chữ Nôm của Nguyễn Du,
xin được giới thiệu riêng vào dịp khác. Bài này muốn nói riêng phần sâu
kín trong tâm trạng ông qua thơ chữ Hán. Thơ chữ Hán Nguyễn Du như
một thứ nhật ký, giãi bày mọi nỗi niềm, mọi ý nghĩ trong cảnh sống
thường nhật của chính ông. Cả ba cuốn Thanh Hiên thi tập (viết trong
khoảng 1785-1802, khi Nguyễn Du lánh ẩn ở quê vợ, Thái Bình, rồi trở
về Hồng Lĩnh và ra lại Bắc Hà làm quan triều Gia Long) Nam trung tạp
ngâm (1805-1812 khi Nguyễn Du làm quan ở Huế rồi cai bạ Quảng
Bình) và Bắc hành tạp lục (1813-1814, thơ viết trên đường đi sứ Trung
Hoa) đều có một giọng u trầm thấm thía, đầy cảm xúc nội tâm.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du như một tiếng thở dài luận bàn nhân tâm thế
sự và xót thương thân phận. Một hình ảnh trở đi trở lại là mái tóc bạc,
Nguyễn Du có mái tóc bạc sớm, mái tóc như biểu tượng của lo nghĩ, của
những nghiền ngẫm buồn thương và bế tắc. Tráng sỹ bạch đầu bi hướng
Hiện thực cuộc sống bi thương trong xã hội phong kiến cả ở nước ta lẫn
ở Trung Hoa thuở ấy, từ cảnh ngộ dâu bể của cô Cầm đánh đàn ở Thăng
Long đến nỗi cơ cực của ông già hát rong ở đất Thái Bình (Trung Quốc)
đã cho Nguyễn Du thấy thân phận bèo bọt và những bất công của kiếp
người. Từ chính cảnh ngộ của mình, ông thông cảm sâu sắc, tạo nên tình
cảm thấm thía cho những bài thơ thương đời. Thương đời và thương
mình đều da diết như nhau. Nguyễn Du hay nói tới thân phận tha hương,
lưu lạc, nỗi nhớ quê nhà luôn luôn bàng bạc trong các bài thơ. Đêm xuân
một năm nào đó ngồi ở Thái Bình mà nghe trong tâm tưởng một tiếng
sóng lạnh của sông Lam đang làm trôi đi cả kim lẫn cổ (Nhất phiến hàn
thanh tống cổ kim). Gia đình ly tán trông đợi từng mảnh tin nhà nhưng
chỉ thấy mây và hơi lạnh (Mạn hứng ở núi). Ông thấy tài năng văn
chương như con chim phượng nhốt trong lồng nát và công danh thì cùng
đường như con rắn đã chui trong hang (Bình sinh văn thái tàn lung
phượng / Phù thế công danh tẩu hắc xà). Ông viết bài thơ chống lại bài
Chiêu hồn Khuất Nguyên của Tống Ngọc, ông xui Khuất Nguyên đừng
về vì thành quách vẫn còn nguyên mà người đã đổi khác, bụi bậm cuồn
cuộn làm nhơ nhớp cả quần áo. Ông khái quát: Đời bây giờ người người
đều là Thượng Quan (Thượng Quan là kẻ gièm pha làm hại Khuất
Nguyên) và mặt đất thì chỗ nào cũng là sông Mịch La (con sông Khuất
Nguyên trẫm mình).
Về Thăng Long, Nguyễn Du có bài Long thành cầm giả ca khá đặc sắc,
ghi lại những dâu bể của triều chính và thân phận con người. Cả cái vĩ
mô lẫn cái vi mô của xã hội đều thay đổi bi thương. Bài thơ kép Thăng
Long cũng nằm trong từ trường cảm xúc ngậm ngùi ấy Nghìn năm dinh
thự thành quan lộ/ Một giải tân thành lấp cố cung. Những thay đổi ấy có
thể là dấu hiệu một phát triển đô thị nhưng nỗi lòng buồn thương của
Nguyễn Du phủ lên làm tất cả hóa thê lương.