Kết quả xét nghiệm chức năng gan và chẩn đoán hình ảnh có giá trị như thế nào trong bệnh lý gan? - Pdf 19

Kết quả xét nghiệm chức năng gan và chẩn đoán
hình ảnh có giá trị như thế nào trong bệnh lý gan?

Xét nghiệm chức năng gan ( LFTs) dùng để phản ánh tình trạng hoạt động của
gan Tuy nhiên ngoài ý nghĩa, lợi ích cũng có hạn chế của xét nghiệm chức năng
gan (LFTs). LFTs không thể xác định được những bệnh cụ thể của gan. Để xác
định cần có xét nghiệm chuyên sâu và đặc biệt hơn. Ngoài ra, để chẩn đoán bệnh
gan cần có kết quả chẩn đoán hình ảnh, như siêu âm gan, chụp cắt lớp và cộng
hưởng từ thường dùng để quan sát hình ảnh gan.
I.Tìm hiểu về xét nghiệm chức năng gan (LFTs)
Xét nghiệm chức năng gan để giúp bác sĩ đưa ra một vài nhận định rằng đang có
vấn đề gì đó với gan. Nhưng đừng hiểu sai về xét nghiệm này. Trong khi LFTs
thường được dùng để phản ánh tình trạng gan đang hoạt động tốt không, xét
nghiệm này có thể bị sai vì không phải bất kỳ xét nghiệm máu nào cũng đánh giá
chính xác tất cả các chức năng khác nhau của gan. Vì vậy, chỉ giống như đèn pha
và thiết bị đo trong ô tô, LFTs không phải là dấu hiệu hoàn hảo để xác định chính
xác bệnh. Tuy nhiên nó giúp cảnh báo cho bác sĩ rằng có điều gì đó bất ổn với gan.
Hơn nữa nó giúp cho bác sĩ xác định sự cần thiết tiến hành thêm các xét nghiệm
khác. Và khi kết hợp các kết quả xét nghiệm thêm này với LFTs, bác sĩ sẽ có cơ sở
tốt hơn để chẩn đoán liệu gan bị bệnh gì và có đang hoạt động tốt không. Bằng
việc lưu giữ một loạt kết quả LFTs từ những tháng và năm trước đó, trong một số
trường hợp cả bác sĩ và bệnh nhân có thể dự đoán liệu tình trạng gan có ổn định
không, có được cải thiện không, có hồi phục không hoặc xấu đi; biện pháp điều trị
có đáp ứng không hoặc có cần thử biện pháp khác không; và liệu đã đến lúc bệnh
nhân cần phải cấy phép gan chưa.
LFTs bao gồm nhiều xét nghiệm máu khác nhau để kiểm tra nồng độ men gan;
bilirubin; và protein gan. Sau đây là các xét nghiệm này.
1.Men gan
Có 4 men gan khác nhau được đưa vào trong các xét nghiệm thông thường. Đó là
aspartate aminotransferase (AST hoặc SGOT) và alanine aminotransferase (ALT
hoặc SGPT) được biết đến như transaminase; và phosphate kiềm (AP) và gamma-

thường. Transaminase cũng có thể thay đổi theo ngày.
Đôi điều về khoảng tham khảo bình thường
Khi kết quả xét nghiệm được đưa cho bác sĩ, họ thường so sánh với giá trị thu
được từ một nhóm người khỏe mạnh. Khoảng của giá trị này được gọi là “giá trị
bình thường” được gọi là giới hạn tham khảo hoặc khoảng tham khảo. Giá trị cao
nhất và thấp nhất của khoảng này thường được gọi là giới hạn bình thường trên và
giới hạn bình thường dưới. Khoảng tham khảo này có thể khác nhau chút ít tùy
theo từng thời điểm và tùy vào từng phòng xét nghiệm. Bác sĩ sẽ chú ý đến giới
hạn này khi đọc từng kết quả xét nghiệm cụ thể.
Tỷ lệ ALT và AST cũng có thể mang lại thông tin có giá trị liên quan đến mức độ
và nguyên nhân bệnh gan. Hầu hết các bệnh gan thì mức tăng ALT cao hơn mức
tăng AST nhưng có 2 trường hợp ngoại lệ. Xơ gan và nghiện rượu thì mức tăng
AST cao hơn mức tăng ALT, thường tỷ lệ này là 2:1.
Mức tăng transaminase xảy ra do quá nhiều nguyên nhân nên chỉ giúp bác sĩ đưa
ra một nhận định không rõ ràng. Cần phải làm thêm các xét nghiệm khác để xác
định chính xác hơn xem gan bị bệnh gì. Những nguyên nhân sau có thể làm tăng
mức transaminase:
 Viêm gan do virus.
 Gan nhiễm mỡ.
 Bệnh gan do rượu.
 Bệnh gan do thuốc.
 Viêm gan tự miễn.
 Nhiễm độc thảo mộc.
 Bênh gan di truyền.
 U gan.
 Suy gan.
 Luyện tập gắng sức.
b.GGT và AP (Men gan mật)
Mức GGT và AP tăng có thể là biểu hiện của tắc mật hoặc tổn thương, hoặc viêm
đường mật. Những bệnh này thường có đặc điểm là giảm hoặc không lưu thông

nước tiểu sẫm màu như trà đặc, phân có màu đất sét nhạt. Khi có tăng bilirubin,
trong khi không có sự bất thường trong các xét nghiệm liên quan đến gan, thấy rõ
khi thăm khám thực thể, thường đây là những bất thường liên quan tới gan với
phần lớn dân số.
Một cụm từ mà bác sĩ thường được nghe từ bệnh nhân là “tôi không thể bị bệnh
gan vì tôi không bị vàng da”. Mọi người thường ngạc nhiên khi biết rằng hầu hết
những người bị bệnh gan không bao giờ bị vàng da. Thực tế là mức tăng bilirubin
thậm chí không liên quan chút nào tới bệnh gan. Sự chuyển hóa của bilirubin phức
tạp và trải qua nhiều bước. Nếu trục trặc ở một trong số những bước này sẽ làm
tăng nồng độ bilirubin. Vì nó có liên quan tới gan, nên mức tăng bilirubin thường
đi kèm với tình trạng gan kém hoặc tắc mật. Một số nguyên nhân sau có thể gẫn
đến tăng bilirubin:
 Xơ gan mật tiên phát
 Viêm đường mật xơ hóa tiên phát
 Viêm gan do rượu
 Tan máu – Hồng cầu bị vỡ
 Bệnh gan do thuốc
 Sỏi mật
 Suy gan hoặc tình trạng gan kém nói chung
 Những khối u có ảnh hưởng đến gan, đường mật hoặc túi mật.
 Viêm gan do virus.
 Rối loạn chuyển hóa bilirubin lành tính mang tính gia đình, như hội chứng
Gibert.
Tăng bilirubin thường đi kèm với tăng AP và GGT. Khi tăng đồng thời bilirubin,
AP và GGT có thể bị ứ mật. Tuy nhiên nếu mức bilirubin vẫn bình thường nhưng
GGT và AP cao, thì có thể bị ứ mật không vàng da. Những bệnh có đặc điểm
bilirubin cao, GGT và AP cao thường là bệnh gan mật.
3.Protein gan
Albumin, prothrobin (yếu tố II) và globulin miễn dịch là những protein được sản
xuất chủ yếu bởi gan. Khi có bất thường về mức protein này có thể giúp xác định

thường. Khi tiêm vitamin K mà có cải thiện được PT cho thấy rằng gan vẫn còn
chức năng. Khi PT không bình thường hóa được khi tiêm vitamin K, tình trạng đó
gọi là bệnh chảy máu (có xu hướng xảy máu quá mức), tổn thương gan nặng và/
hoặc có suy gan. Để điều chỉnh sự khác nhau trong các phòng thí nghiệm cách đo
PT, thường dùng tỷ lệ quốc tế (INR).
6.Globulin miễn dịch
Globulin miễn dịch là những protein liên quan đến hệ miễn dịch, một vài trong số
này được được tạo ra ở gan và một số được tạo ra từ bạch cầu – tế bào máu trắng.
Một vài loại globulin miễn dịch tăng lên ở nhiều người bị bệnh gan mãn tính. Mức
tăng globulin miễn dịch A, G và M (IgA, IgG, IgM) có thể là biểu hiện của bệnh
gan nào đó (xem bảng 3.1)
7.Tiểu cầu
Tiểu cầu là tế bào máu giúp hình thành cục máu đông. Lá lách đóng vai trò như
một kho dự trữ tiểu cầu. Ở những người xơ gan, lá lách thường phải làm việc
nhiều để bù lại chức năng bị suy giảm do tổn thương gan. Điều này thường làm
cho lách to và số lượng tiểu cầu giảm, được gọi là giảm tiểu cầu. Bình thường tiểu
cầu có số lượng từ 150-400 x 103/ microlit. Nếu bệnh nhân thấp hơn 150 x 103/
microlit được coi là giảm tiểu cầu, và nên nghĩ đến khả năng bị xơ gan.
8.Amoniac (NH3)
Amoniac là một sản phẩm phân hủy của amino acid. Tăng mức ammoniac trong
máu có thể là một dấu hiệu của bệnh não. Một số bác sĩ dựa vào mức ammoniac
để theo dõi bệnh nhân bị bệnh não, nhưng có một vài nghiên cứu cho thấy ít có
mối tương quan giữa nồng độ ammoniac và mức độ của bệnh não, và việc sử dụng
nó vào mục đích này còn đang còn gây tranh cãi. Không khuyến cáo xác định
nồng độ ammoniac cho bệnh nhân bị bệnh gan, vì bất kỳ bệnh gan nào cũng có thể
làm tăng nhẹ thông số này và không phải là chẩn đoán của bệnh não. Cuối cùng,
có nhiều yếu tố làm tăng giả mức ammoniac mà có thể biết được sự sai số bao
gồm hút thuốc, dùng một vài thuốc nhất định (như acid valproic), tình cờ bị lẫn
mồ hôi vào mẫu máu trong quá trình lấy máu và phòng thí nghiệm chậm làm phân
tích máu.

ờng máu, sinh
d
ục, mẹ mang thai
lây con
Viêm gan
C
Kháng thể virus viêm gan C (HCVAb) Đư
ờng máu, sinh
d
ục, mẹ mang thai
Acid Ribonucleic virus viêm gan C (HCV RNA)
Tăng globulin miễn dịch (IgG)
lây con.
Viêm gan
tự miễn
Kháng thể kháng nhân (ANA)
Kháng thể cơ trơn (SMA)
Kháng thể vi thể thận/ kháng gan (LKMAb)
Tăng globulin miễn dịch G (IgG)
Không lây
Xơ gan m
ật
tiên phát
Kháng thể kháng (AMA)
Tăng globulin miễn dịch M (IgM)
Không lây
B
ệnh gan
do rượu
Tăng nồng độ cồn trong máu

cộng hưởng từ. Tất cả phương pháp này không cần phải can thiệp ngoại khoa, nó
không làm đau và có thể tiến hành khi bệnh nhân đang tỉnh và được nằm xuống.
Một hoặc hơn biện pháp này được thực hiện để định vị gan chính xác khi nó bị
nghi ngờ có liên quan tới cơ quan khác; để xác định xem có những khối bất
thường trong gan hay không; để đánh giá xem gan có bị to hoặc bị teo hay không;
và/hoặc xem có sỏi mật trong túi mật hay không.
1.Siêu âm
Siêu âm được cho là phương pháp chẩn đoán hình ảnh được dùng nhiều nhất để
xem hình ảnh thai nhi ở phụ nữ mang thai, thực tế nó là phương pháp chẩn đoán
hình ảnh được dùng nhiều nhất để xem hình ảnh gan. Đây là phương pháp nhanh
và ít tốn kém để quan sát hình ảnh của cơ quan này. Mặt dù được thực hiện tại
phòng X quang nhưng thực tế không sử dụng tia X – sóng âm để thu được hình
ảnh.
Siêu âm thường được tiến hành vào lúc đói. Khi đó túi mật chứa đầy mật và dễ
dàng nhìn thấy sỏi mật. Thực tế có tới 95% số sỏi mật được phát hiện ra nhờ siêu
âm. Siêu âm cũng dùng để phát hiện những khối u trong gan có thể lành tính
(không ung thư) hoặc ác tính (ung thư), nhưng nó không thể phân biệt được 2 loại
này. Hơn nữa siêu âm có thể ước lượng được kích thước khối u. Tuy nhiên ngay
cả khi siêu âm cho kết quả bình thường, điều này không có nghĩa là gan không có
vấn đề. Thực tế, có nhiều người bị bệnh gan nhưng kết quả siêu âm vẫn thấy bình
thường. Vì vậy đừng ngạc nhiên nếu bác sĩ yêu cầu làm thêm các xét nghiệm sau
khi siêu âm.
2.Chụp cắt lớp và cộng hưởng từ
Chụp cắt lớp và cộng hưởng từ đưa ra hình ảnh toàn diện hơn của gan liên quan
đến các cơ quan liền kề. Nó thường được sử dụng để đánh giá sâu hơn về khối u
phát hiện được bằng siêu âm. Chụp cắt lớp sử dụng bức xạ gamma bằng cách cho
tia X đi qua gan. Bất kỳ khối u nào đều cản tia X trên đường đi và lưu lại 1 hình
ảnh. Với cộng hưởng từ, bức xạ từ sẽ tạo ra hình ảnh của gan. Cộng hưởng từ hữu
ích trong việc phát hiện ra gan nhiễm mỡ, quá tải sắt, và u mạch máu – một khối u
máu lành tính.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status