Các nguồn nước khoáng & nước nóng Việt Nam
CHƯƠNG 2
ĐIỂM QUA LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
NƯỚC KHOÁNG VÀ NƯỚC NÓNG Ở VIỆT NAM
Nước khoáng - nước nóng như một loại "thuốc chữa bệnh" thiên nhiên
ở nước ta đã được biết đến và sử dụng một cách tự phát trong dân gian
từ lâu đời, nhưng những văn liệu chính thức, có lẽ là đầu tiên, về 2
nguồn nước nóng thuộc tỉnh Bình Định và Phú Yên ngày nay thì mới
được tìm thấy trong tập "Phủ biên tạp lục" do nhà bác học Lê Qúy Đôn
biên soạn vào năm 1776 [24]. Tiếp theo, trong bộ "Đại Nam nhất thống
chí" do Quốc sử quán Triều Nguyễn biên soạn (1865 -1882) cũng thấy
liệt kê 14 nguồn nước nóng được phát hiện từ Quảng Bình đến Khánh
Hòa mà phần lớn vẫn tồn tại đến ngày nay [10]. Tuy nhiên đó chỉ là
những điều ghi chép sơ sài, chưa thể xem là công trình nghiên cứu khoa
học. Do vậy phải đợi đến năm 1895, với công trình điều tra sớm nhất
về nguồn nước nóng Phước Bình (nay là nguồn Phúc Thọ) thuộc tỉnh
Quảng Nam do C.Madrolle thực hiện, có lấy mẫu phân tích lý - hoá của
nước khá tỉ mỉ [27] thì lịch sử nghiên cứu NKNN ở nước ta mới thực
sự bắt đầu. Sau đó hơn 3 thập kỷ đầu của thế kỷ này, người Pháp đã lần
lượt công bố nhiều công trình nghiên cứu về địa lý, địa chất Đông
Dương, trong đó có mô tả với mức độ khác nhau về các nguồn NKNN.
Cũng có một số bài chuyên khảo về NKNN, đáng kể nhất là các công
trình của G.Lambert, F.Blondel, C.Madrolle, A.Sallet, M.Autret.
Các nguồn nước khoáng & nước nóng Việt Nam
Năm 1910, G. Lambert đã tiến hành nghiên cứu nguồn NK Vĩnh Hảo,
đưa ra những đánh giá cao về tác dụng chữa bệnh của nguồn nước này
[21]. Vào những năm 1923-1926 C. Madrolle đã công bố 2 quyển sách
quan trọng "Miền Bắc Đông Dương" [26] và "Miền Nam Đông Dương"
[27], trong đó thống kê và mô tả 21 nguồn NKNN trên toàn cõi Đông
Dương (19 nguồn thuộc lãnh thổ Việt Nam). Đến năm 1931 ông lại cho
ra đời một tập chuyên khảo "Khí hậu học, các nguồn nước nóng ở
ĐCTV và tìm kiếm dầu khí, qua đó đã phát hiện thêm nhiều nguồn
NKNN mới, đặc biệt là tìm được loại NK brom-iođ có nhiệt độ rất cao
(100-170
oC
) trong những lỗ khoan sâu ở vùng Thái Bình - Nam Định.
Cũng có những công trình nghiên cứu chuyên môn về NKNN nhằm
phục vụ yêu cầu chữa bệnh và điều dưỡng, bắt đầu từ một số nguồn có
giá trị sử dụng lớn như Kênh Gà, Mớ Đá, Mỹ Lâm, Quang Hanh, Tam
Hợp, Bản Khạng, Ba Vì, Bình Ca, Mương Luân, Tiên Lãng Một số
công trình nghiên cứu khu vực cũng đồng thời được tiến hành, đáng kể
nhất là "Báo cáo kết quả phổ tra NK miền Bắc Việt Nam" của Đoŕn 54
Tổng cục Địa chất [9], chương "Nước khoáng vùng Bắc Bộ" trong luận
án Phó tiến sĩ của Nguyễn Thượng Hùng [37], và tập "Nước khoáng"
Các nguồn nước khoáng & nước nóng Việt Nam
của Cao Thế Dũng [5] trong bộ sách "Khoáng sản miền Bắc Việt
Nam".
ở miền Nam trong thời kỳ này việc nghiên cứu NKNN chủ yếu do nhà
địa chất Pháp H.Fontaine thực hiện. Kết quả được công bố trong "Việt
Nam địa chất khảo lục" số 4 - 1957, trong đó đã đăng ký 55 nguồn
nước, mô tả khá chi tiết đặc tính lý - hoá của từng điểm, sơ bộ phân loại
và nhận định về nguồn gốc của chúng [14]. Mấy năm sau ông còn tiếp
tục công bố kết quả nghiên cứu một số nguồn NKNN mới phát hiện
thêm [15, 16, 17].
Những điều trình bày trên cho thấy mặc dù đây là thời kỳ đất nước bị
chia cắt và trải qua chiến tranh ác liệt nhưng sự nghiệp nghiên cứu
NKNN vẫn tiến triển và đạt được những thành tựu đáng kể, đặt nền
tảng khoa học và tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật, chuẩn bị cho sự phát
triển sau chiến tranh.
Sau khi thống nhất đất nước, công tác điều tra NKNN mới có điều kiện
phát triển mạnh mẽ trong toàn quốc với những hoạt động phong phú, đa
Các nguồn nước khoáng & nước nóng Việt Nam
ta [h]. Việc nghiên cứu theo hướng này cũng được một số cơ quan
thuộc ngành địa chất và năng lượng tiếp tục tiến hành [c, d].
Đồng thời với việc nghiên cứu cơ bản, các đơn vị địa chất và các địa
phương, công ty cũng đã tiến hành công tác tìm kiếm - thăm dò trên 30
vùng mỏ có triển vọng nhất nhằm đưa vào khai thác sử dụng.
Điểm qua những công việc đã làm từ ngày thống nhất đất nước đến nay
ta thấy đây là thời kỳ công tác điều tra NKNN được đẩy mạnh lên một
bước đáng kể và một phần kết quả đang hoặc sẽ được sử dụng vào các
mục đích kinh tế- dân sinh.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu trên, công tác điều tra NKNN ở
nước ta còn có một số điểm hạn chế:
1. Mặc dù đã trải qua hàng thế kỷ điều tra nghiên cứu nhưng đến thời
điểm hiện tại, chúng ta vẫn chưa lập được một danh mục đầy đủ, chính
xác về số nguồn NKNN trong toàn quốc. Đối với số nguồn đã thống kê
thì phần lớn mới có số liệu phân tích các ion chính và một số hợp chất,
còn thành phần khí và vi nguyên tố thì chưa được phân tích hoặc mới
có một vài số liệu rời rạc. Một số loại NKNN có giá trị và có triển vọng
nhưng chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống (như NK brom-iođ,
NK sulfur hyđro, NK sắt ). Một số nguồn được đưa vào bảng phân
loại ở mức giả định, dựa trên một vài số liệu nghèo nàn, có khi ngẫu
nhiên (NK phóng xạ, NK arsen ) nên chưa có cơ sở khoa học.
Các nguồn nước khoáng & nước nóng Việt Nam
2. Đến nay chúng ta cũng chưa xây dựng được một bảng chỉ tiêu định
danh và tiêu chuẩn phân loại NKNN thống nhất, phù hợp với hoàn cảnh
thực tế nước ta nên trong công tác điều tra nghiên cứu vẫn phải dựa vào
các văn liệu nước ngoài hoặc tạm chấp nhận những đề nghị của một số
đề tài nghiên cứu trong nước, chưa có hiệu lực chính thức. Do đó việc
định danh, phân loại NKNN còn mang tính quy ước, thiếu cơ sở pháp
lý.