Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long - Phần 2: Kinh nghiệm Mississippi - Pdf 19

Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Phần 2: Kinh nghiệm Mississippi
1. Sơ lược về sông Mississippi
Sông Mississippi là một bộ phận trong hệ thống sông Jefferson-Missouri-
Mississippi của Bắc Mỹ, dài 6,275 km, đứng hạng 4 trên thế giới, lưu vực rộng
3,225,000 km², gồm 19 phụ lưu lớn chảy vào Mississippi, như sông Minnesota hội
nhập tại Twin Cities (Minnesota), sông Wisconsin tại Prairie du Chien
(Wisconsin), sông Des Moines tại Keokuk (Iowa), sông Missouri (dài 3,767 km)
và sông Illinois gần St. Louis (Missouri), và sông Ohio tại Cairo (Illinois). Lưu
lượng biến đổi từ 7,000 đến 20,000 m³/s, trung bình 16,200 m³/s, hạng 10 thế giới,
lưu lượng ở hạ lưu tại Baton Rouge khoảng 12,743 m³/s. Ở hạ lưu, sông
Mississippi chảy ra vịnh Mễ-Tây-Cơ (Gulf of Mexico) qua rất nhiều nhánh sông
nhỏ, hai nhánh sông chính là (i) sông Atchafalaya tách Mississippi tại
Simmersport, chảy qua thành phố Morgan rồi ra vịnh Atchafalaya, dài 270 km, và
(ii) nhánh sông chánh Mississippi chảy qua New Orleans, cách biển 169 km.

Không ảnh hạ lưu Mississippi
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Qua hàng ngàn năm, vào mùa xuân, mưa lũ làm nước sông dâng cao, tràn hai bên
bờ, gây lụt lội ở trung lưu và hạ lưu, đồng thời mang theo khoảng 159 triệu tấn
phù sa bồi đắp cánh đồng hai bên, tạo tam giác châu lớn dần ở hạ lưu, lấn ra biển,
và tạo thành vô số cồn, đảo đất/cát nhỏ ở vùng biển cạn trong Vịnh Mễ-Tây-Cơ.
Vào thời Cretaceous cách đây 65 triệu năm, ở thời nước biển dâng cao, bờ biển
cách xa bờ biển ngày nay 800 km, gần Cairo thuộc Illinois. Cách đây 8,000 năm,
khi nước biển hạ thấp tới mực nước ngày nay, bờ biển nằm ở Baton Rouge, cách
biển ngày nay 100 km. Tại vùng duyên hải, phù sa dày hơn 5 km. Trong 5,000
năm qua, tam-giác-châu tiến ra biển từ 24 đến 80 km, tùy nơi.
Trung bình hàng năm, phù sa sông bồi đắp làm gia tăng diện tích thêm vài km2.
Trong vòng vài ngàn năm qua, sông Mississippi đã bồi đắp 28,568 km2 đồng

chỉ thiết lập hệ thống đê bằng đất dọc bờ sông, trên các đê-thiên-nhiên, có nơi cao
hơn mặt đất 1.2 m, dài tổng cộng 3,550 km, còn sử dụng và được tăng cường cho
tới ngày nay. Về sau, ở thế kỷ 20, Công Binh Hoa Kỳ (US Army Corps of
Engineers) thiết lập thêm các cổng-lụt (floodgate), đào kinh chuyển dòng nước
hay thoát nước, đào hồ chứa nước (reservoir). Các công ty dầu mỏ cũng đào kinh
chuyên chở dầu khí, lắp ống dẫn dầu, khí đốt, đào giếng dầu, hệ thống đê quanh
giếng dầu và cơ sở lọc dầu, v.v.
Trong bối cảnh đó, thành phố New Orleans được thành hình. Cư dân Âu châu, đa
số gốc Pháp đến định cư ở vùng hạ lưu Mississippi, thiết lập nông trại dọc theo bờ
sông, là vùng đất cao nhất vì nằm trên các đê-thiên-nhiên, có độ cao 3 – 3.6 m trên
mực biển. Năm 1699, để ngăn lụt, cư dân thiết lập hệ thống đê đầu tiên dọc bờ
sông Mississippi, ở một vùng gần biển để định cư, lập đồn điền và cơ sở thương
mại. Năm 1718, Jean Baptiste le Moyne, vị thống-đốc người Pháp, chọn nơi này
thành lập thành phố New Orleans. New Orleans, ở hạ lưu Mississippi, cách biển
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

169 km, trở nên trù phú. Ngày nay, New Orleans là thương cảng sầm uất thứ 4 của
thế giới, và thứ nhất của Hoa Kỳ. New Orleans và Louisiana chứa 11% trữ lượng
dầu hoả, và 19% trữ lượng khí đốt của Hoa Kỳ, cung cấp 30 % lượng hải sản cho
toàn quốc. 50% ngũ cốc của Hoa Kỳ được chuyên chở từ New Orleans. Tiểu bang
Louisiana sản xuất bông vải, mía, lúa gạo và các nông phẩm quan trọng khác của
Hoa Kỳ.
Vào đầu thế kỷ 18, đa số đất thuộc thành phố New Orleans còn là đầm lầy, và bị lũ
lụt thường xuyên, gây nhiều thiệt hại nhân mạng và kinh tế. Lụt ở New Orleans do
3 nguyên do: (i) nước sông Mississippi tràn bờ; (ii) nước hồ Pontchartrain tràn vào
thành phố từ phía Đông Nam khi có bão; (iii) do mưa lớn, nước không thoát hay
bơm kịp. Louisiana có vũ lượng trung bình hàng năm 1,630 mm, mưa tập trung
vào mùa hè, cũng là mùa bão tố, nên lụt đe dọa thường xuyên.
Sự thật không phải toàn thành phố New Orleans nằm dưới mực nước biển, nơi gần
bờ sông thì cao hơn mực nước biển, nhưng càng xa sông thì thoai thoải thấp dần.

cộng 3,200 km, cùng với 1,750 km hệ thống sông đào để thoát nước, đổi hướng
dòng nước và vận tải dầu khí cho thành phố. Những nơi có hiểm hoạ đe doạ bởi
sóng biển từ hồ Pontchartrain, các đê và tường-chắn-lụt (floodgate) cao và kiên cố
được thiết lập, có thể chịu đựng được sóng bão biển cao 4.2 m trên mực nước
biển. Ngoài ra, trong vùng đầm lầy, 1.5 - 3 m thấp dưới mực nước biển, tiểu bang
Louisiana cho đào khoảng 16,000 km kinh đào để giúp lưu thông cho các giếng
dầu mỏ.
New Orleans sồng nhở hàng hải. Trong thời gian 1918-1923, một kinh đào hàng
hải nối Mississippi và Hồ Pontchartrain, mực nước hồ nhờ vậy dâng cao hơn mực
nước biển. Nhờ thuỷ lộ này, New Orleans phát đạt.
Tuy nhiên, sau khi Inner Harbor Navigation Canal hoàn thành năm 1940, tiểu
bang đóng cửa thuỷ lộ Pontchartrain, làm thuỷ cấp New Orleans rút thấp đáng kể.
Tiếp theo, Công Binh thiết lập một hệ thống đê vòng đai bao quanh các đầm lầy
khiến nền đất thành phố bị lún sụp, có nơi lún sâu tới 2.4 m.
Sau trận lụt do nước sông Mississippi phá vỡ bờ đê năm 1927, thành phố New
Orleans thiết kế lại và phòng thủ lũ lụt bằng một hệ thống đê kiên cố hơn. Một trận
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

bão xảy ra tháng 9/1947, vỡ đê làm ngập lụt quận Jefferson của thành phố, có nơi
ngập 1m, gây tổn hại khoảng 100 triệu US$. Sau trận bão này, đê chống lụt được
xây dựng ở bờ nam Hồ Pontchartrain
Trận bão Betsy ngày 10/9/1965, với gió 200 km/giờ, phá huỷ bờ đê và gây lụt sâu
3 m, gây thiệt hại cho thành phố rất lớn. Sau trận lụt này, Công Binh Hoa Kỳ được
uỷ thác toàn quyền thiết kế và thiết lập hệ thống bảo vệ New Orleans chống bão
lụt, và dự trù hoàn tất trong 13 năm. Tựu trung, bờ đê được nâng lên cao 4 m, đặc
biệt tăng cường tường-chắn-lụt bằng ximăng cốt thép ở những nơi thường xuyên
đe doạ. Tuy nhiên, khi trận bão Katrina xảy ra năm 2005, công trình trên chỉ mới
hoàn thành được khoảng 60-90% bởi vì công trình dự trù hoàn thành năm 2015,
sau 50 năm được Quốc Hội phê chuẩn.
Đê bao New Orleans làm bằng đất, khá rộng. Ở những vị trí hăm doạ nước sông

3. Giải tỏa áp lực nước sông
Nước sông Mississippi vào mùa lũ chảy siết, tràn bờ gây ngập lụt hàng năm. Để
giải tỏa sức nước, Công Binh Hoa Kỳ đã thiết lập nhiều hệ thống ngăn chặn lụt ở
hạ lưu, nhất là bảo vệ New Orleans, bằng cách xây dựng hệ thống chuyển hướng
nước sông.
Ngày Tết năm 1927, một trận lụt kinh hoàng, nước sông Mississippi vỡ bờ ở 145
địa điểm, gây ngập lụt một diện tích khoảng 70,000 km2, trong 6 tiểu bang, với độ
sâu 10 m, gây thiệt hại 400 triệu US$, và 246 người thiệt mạng.
Để ngăn ngừa lũ lụt tương tự như năm 1927, Bonnet Carré Spillway được hoàn tất
năm 1937 tại quận St. Charles Parish, Louisiana, khoảng 20 km tây New Orleans.
Đây là một công trình ngăn lụt cho New Orleans, gồm một hệ thống cổng-ngăn-lụt
(Floodgate) tại bờ đông của Mississippi, và một kinh đào để tháo nước lụt của
sông Mississippi vào Hồ Pontchartrain để thoát ra Vịnh Mễ-Tây-Cơ. Cổng-ngăn-
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

lụt chỉ mở khi nước sông Mississippi dâng cao. Kể từ ngày thiết lập, đã có 8 lần
mở cổng, lần mở gần đây nhất là ngày 11/4/2008, khi nước sông Mississippi ở
New Orleans dâng cao 5 m.
Ngoài ra, trong thập niên 1950s, khảo sát cho thấy nhánh sông Atchafalaya đoạt
dòng nước của nhánh Mississippi, vì nhánh sông Atchafalaya ngắn và dốc, gây
ảnh hưởng xấu đến hàng hải và sự phồn thịnh của thành phố New Orleans, nên
Quốc hội Liên Bang thông qua Công Trình kiềm chế chuyển hướng của dòng sông
(Old River Control Structure). Một hệ thống cổng-ngăn-lụt (floodgate) được Công
Binh Hoa Kỳ thiết lập hoàn thành năm 1963 tại chổ rẻ của 2 nhánh sông này (cách
biển 507 km). Trong mùa thông thường, cổng-ngăn-lụt phân lượng nước 70%
chảy vào nhánh Mississippi (chảy qua New Orleans, cho tàu bè thông thương), và
30% chảy vào nhánh sông Atchafalaya, nhưng trong trường hợp có nguy cơ lụt
cho New Orleans thì cho nước chảy vào Atchafalaya để thoát nước ra biển nhanh
hơn để giảm áp lực tràn vỡ đê bảo vệ New Orleans.
4. Công trình bảo vệ bờ biển Louisiana
Khối-cản-sóng (Breakwaters)
Đó là các công trình hoặc bằng đá khối, hoặc khối bê-tông cốt thép đặt ngoài biển,
gần bờ, song song với bờ biển, hoặc ngầm dưới nước, hay cao hơn mực nước, với
khoảng cách được tính toán để giảm thiểu sức sóng, và giúp phù sa lắng đọng dọc
bờ biển.
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long Đoạn khối–cản-sóng tại Holly Beach, Louisiana
Những công trình chống bão lụt của thành phố New Orleans cũng như bảo vệ bờ
biển Louisiana đều do Công Binh thiết kế và xây dựng. Hạ Viện uỷ nhiệm Công
Binh Hoa Kỳ thực hiện 5 công trình chống bão lụt cho vùng duyên hải Louisiana,
trong đó có 2 công trình cho thành phố New Orleans (Lake Pontchartrain and
Vicinity Hurricane Protection Project và The West Bank and Vicinity Hurricane
Protection Project). Công Binh Hoa Kỳ thiết kế các đê này chỉ bảo vệ được bão
cấp 3 mà thôi, trong khi bão cấp 4 hay 5 (như Katrina) thỉnh thoảng xảy ra.
5. Vấn đề do đê điều gây ra
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Thiết lập hệ thống đê điều ở hạ lưu Mississippi đã biến vùng đầm lầy thành đồng
bằng phì nhiêu, các đô thị đông đúc phồn thịnh, góp phần quan trọng vào sự phồn
vinh của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, có những mặt trái gây nên:
Đồng bằng hạ lưu Mississippi thiếu phù sa bồi đắp. Hàng năm, Mississippi mang
theo dòng nước khoảng 159 triệu tấn phù sa. Trước kia, khi chưa có hệ thống đê,
lũ lụt hàng năm bồi đấp phù sa vào cánh đồng làm phì nhiêu đất đai, vào các đầm
lầy, tạo thêm tam-giác-châu lấn ra biển, các giồng-duyên-hải được bồi đắp thêm
cao và rộng hơn. Ngay trong biển, nhửng cồn, đảo nhỏ thành hình, lớn dần, là
những chướng ngại thiên nhiên chống bão tố cho vùng Louisiana và Texas.

các thành phố phương nam.
Biến mất các cồn nổi, đảo-chắn (barrier islands) trong biển cạn. Vì thiếu phù sa
bồi đắp, vì bị bão tố, sóng biển phá hủy, các cồn phù sa và đảo chắn bị xói lở và
biến mất. Trong vòng 100 năm qua, 40% các cồn nổi và đảo-chắn này chìm biến
mất.
Nguy cơ hăm dọa của bão tố nhiều hơn. Vùng đầm lầy dọc duyên hải và các cồn,
đảo chắn phù sa trong vịnh Mể Tây Cơ là các rào cảng thiên nhiên chống bão tố
cho vùng duyên hải và hạ lưu Mississippi. Nếu các đầm lầy và các đảo chắn này bị
biến mất, nguy cơ bão tố gây thiệt hại sẽ trầm trọng hơn cho các thành phố trên
duyên hải và xa hơn trong nội địa.
6. Sửa chửa vấn đề
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Lý do chính của những vấn đề tiêu cực nói trên là do hệ thống đê dọc sông ngăn
nước lụt và phù sa vào tam-giác-châu và các đầm lầy dọc duyên hải, làm môi sinh
ở các đầm lầy duyên hải bị hủy hoại, gây nên lún sụp nền móng và xói lở bờ biển.
Để duy trì kinh tế, chánh là dầu khí, nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và
hàng hải của vùng duyên hải, các chuyên gia củng cố lại hệ thống đê sông và đê
biển bảo vệ các thành phố và khu đông dân, nhưng đồng thời tạo lại lụt lội hàng
năm cho các vùng đầm lầy gần bờ biển.
Để tái tạo vùng-đất-ngập, Công Binh phá vỡ những đoạn đê gần biển, thiết lập các
cổng-lụt, để kiểm soát việc đưa nước lụt mang phù sa vào vùng đầm lầy. Bắt đầu
năm 1991, công trình Caernarvon đưa nước Mississippi vào các đầm lầy rộng 65
km2 bên dưới New Orleans. Công trình Bonnet Carre đưa nước vào Hồ
Pontchartrain và 40 km² đầm lầy kế bên. Công trình thứ ba, đưa nước từ hồ Davis
Pond đến khu đầm lầy rộng 350 km2 ở phía nam New Orleans.
Công trình Caernarvon (1991) và Davis Pond (2002) đã thành công chuyển nước
lụt của Mississipi vào khu đầm lầy, làm giảm nguy cơ lụt do sông Mississipi, đẩy
lùi nước mặn, và tạo thêm được đất mới ở các dầm lầy nước lợ của các vùng biển
bị soi mòn.

Bão ở Biển Bắc Âu Châu không lớn bằng bão nhiệt đới của vùng Vịnh Mễ-Tây-
Cơ.
Bờ biển Louisiana dài gấp 3 lần bờ biển của Hạ Hòa Lan, thiết lập một hệ thống
đê như Hòa Lan thì Hoa Kỳ không có đủ ý chí để thực hiện
Các sông ở Âu châu là các sông nhỏ ít phù sa, trong lúc Mississippi là một sông vỉ
đại, gây lụt lội nhiều hơn, trong lúc lụt ở Hòa Lan thường là từ biển.
Người Hòa Lan quan tâm về sự sống còn phồn vinh của đất nước nên hy sinh phần
môi sinh, ngược lại người Mỹ đặt quá nặng vấn đề môi sinh. Vì vậy, Hòa Lan thiết
lập một hệ thống đê biển dọc bờ biển bảo vệ cho cả vùng Hạ Hòa Lan, còn Hoa
Kỳ chỉ thiết lập đê nhỏ bảo vệ cho mổi thành phố.
Và quan trọng nhất, bảo vệ Hạ Hòa Lan là ưu tiên của chính phủ, mọi đảng phái
và toàn dân Hòa Lan, trong lúc Hoa Kỳ không đặt nặng vấn đề này. Chính phủ và
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Quốc Hội Liên Bang chỉ chuẩn y sửa chửa vấn đề khi biến cố đã xảy ra, sau đó
vào quên lảng.
Tài liệu tham khảo:
Experts: Dutch Flood Solutions Wouldn't Work Well in LA.

Blanco, K.B. Saving Louisiana’s delta.

Camp, E.R. 1999. Design and implementation of a gis for Louisiana’s coastal
management division. Louisiana Department of Natural Resources, Coastal
Management Division.
Campbell, T., Benedet, L., Mann, D., Resio, D., Hester, M.W. and Materne, M.
2004. Restoration tools for Louisiana’s gulf shorelines. In “Louisiana. Ecosystem
restoration study. Chapter 6. Report November 2004. Page D143-D-186
Campanella, R. Geography of New Orleans.
Carter, N.T. (2005). New Orleans levees and floodwalls: Hurricane damage
protection. CRS Report for Congress.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status