VẤN ĐỀ GIAO TIẾP TRONG TÂM LÝ Y HỌC doc - Pdf 19

VẤN ĐỀ GIAO TIẾP TRONG TÂM LÝ Y HỌC

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÂM LÝ HỌC GIAO TIẾP
1. Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân với nhau xuất
phát từ nhu cầu phối hợp hành động và hoạt động.
- Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến
lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác.
- Giao tiếp có ba khía cạnh chính : giao lưu, tác động tương hỗ và tri giác.
Mặt giao lưu của giao tiếp gắn liền với việc tìm hiểu những nét đặc thù của quá
trình trao đổi thông tin giữa người với người trong danh nghĩa là chủ thể tích cực,
có nghĩa là khảo sát thái độ của cá nhân, tâm thế, mục đích, ý định của họ nhằm
thiết lập không chỉ vận động đơn thuần của thông tin mà còn bổ sung, làm giàu
thêm những tri thức, vốn sống cần thiết cho các thành viên trong quá trình giao
tiếp. Ngôn ngữ là phương tiện giao lưu chủ yếu. Cùng với ngôn ngữ là hệ thống
quang học vận động ( nét mặt, điệu bộ cử chỉ, lời ăn tiếng nói ) các yếu tố ngôn
ngữ và siêu ngôn ngữ ( giọng nói , sự ngắt đoạn ), cấu trúc không gian và thời
gian của hoàn cảnh giao tiếp, hệ thống tiếp xúc “ bằng mắt “.
- Một khía cạnh quan trọng khác của quá trình giao tiếp là sự ảnh hưởng, tác động
lẫn nhau giữa các thành viên, xây dựng hình ảnh tinh thần của mỗi người trong
quan niệm của những người khác ( nhân cách hóa ). Trong trường hợp này ngôn
ngữ thống nhất và sự hiểu biết về hoàn cảnh xảy ra là điều kiện cần thiết đảm bảo
hiệu quả tác động lẫn nhau.
- Hai xu hướng giao tiếp thường thấy nhất là sự hợp tác và cạnh tranh, tương ứng
với chúng ta là các hiện tượng quen thuộc như đồng tình hay xung đột.
- Khía cạnh của tri giác của giao tiếp bao hàm quá trình hình thành hình ảnh về
người khác, xác định các thuộc tính tâm lý và đặc điểm hành vi của đối tượng
thông qua các biểu hiện bên ngoài.
- Đồng nhất ( mô phỏng ) và phản tỉnh ( tự hình dung ) bản thân mình trong con
mắt của mọi người.
Sự hiểu biết và nhận thức các hiện tượng tâm lý trên đây cho phép làm sáng tỏ

động vào quá trình tinh thần, trí tuệ). Trong đó con người tác động qua lại với
nhau với tự nhiên, xã hội và với chính mình, biến các phẩm chất tâm lý thành hiện
thực nhằm cải tạo tự nhiên xã hội và hoàn thiện cá nhân mình. Ngược lại chủ thể
có thể bóc tách chiếm lĩnh các thuộc tính của sự vật và hiện tượng khách quan
biến thành tâm lý riêng, thành vốn liếng và kinh nghiệm để hình thành nhân cách
cá nhân mình.
2.2.2 Những nét đặc trưng của hoạt động
- Hoạt động có đối tượng
- Hoạt động do chủ thể con người tiến hành .
- Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp thông qua công cụ ( công cụ kỹ
thuật, ký hiệu tâm lý )
- Hoạt động bao giờ cũng có mục đích nhất định .
2.2.3 Phân loại hoạt động
- Phân theo quan hệ chủ thể và đối tượng hoạt động :
Có hoạt động lao động ( người với vật ), hoạt động giao tiếp ( người với người ).
- Phân theo sự phát triển của cá thể : là những hoạt động phát triển kế tiếp gồm
hoạt động vui chơi, hoạt động học tập và lao động.
-Theo một số cách chia khác:
+ Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn
+ Hoạt động biến đổi
+ Hoạt động nhận thức
+ Hoạt động định hướng giá trị
+ Hoạt động giao lưu
2.2.4 Cấu trúc của hoạt động

2.3.Giao tiếp và tâm lý
- Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người thông qua đó con người trao
đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác, tác động qua lại với nhau Hiện
thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác
- Các loại giao tiếp :

+ Theo qui cách :
* Giao tiếp chính thức
Giao tiếp giữa các thành viên trong nhóm chính thức. Sự giao tiếp này
được thực hiện theo chức trách, nhiệm vụ, theo quy chế, quy định của luật pháp,
của phong tục, của dư luận…Ví dụ như, giao tiếp trong gia đình, trong quản lý,
lãnh đạo, rong hoạt động nghề nghiệp: dạy học, giáo dục, khám chữa bệnh.
* Giao tiếp không chính thức
Đây là giao tiếp trong nhóm không chính thức, giữa những người thân
nhau, phục nhau, cùng có những ham muốn, sở thích như nhau.
- Quan hệ giao tiếp và hoạt động :
Giao tiếp và hoạt động là hai mặt không thể thiếu được của lối sống của hoạt động
sống của con người trong thực tiễn :
+ Giao tiếp là dạng đặc biệt của hoạt động, giao tiếp diễn ra bằng hành động và thao tác
cụ thể bằng việc sử dụng các phương tiện khác nhau để đạt mục đích, thúc đẩy động cơ.
+ Giao tiếp và hoạt động là hai phạm trù đồng đẳng có quan hệ qua lại trong cuộc
sống của con người. Có khi giao tiếp là điều kiện của hoạt động và cũng có khi
hoạt động là điều kiện của giao tiếp
- Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp :
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định : Tâm lý con người có nguồn gốc từ
bên ngoài, từ thế giới khách quan chuyển vào trong não mỗi người. Trong thế giới
đó thì quan hệ xã hội, nền văn hóa xã hội là cái quyết định tâm lý người.
Tâm lý của con người là kinh nghiệm xã hội - lịch sử chuyển thành kinh nghiệm
của bản thân thông qua hoạt động và giao tiếp trong đó giáo dục giữ vai trò chủ
đạo.
Tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp. Mối quan hệ giũa hoạt động và
giao tiếp là qui luật tổng quát hình thành và biểu lộ tâm lý người.

II. MỐI QUAN HỆ GIỮA THẦY THUỐC, NHÂN VIÊN Y TẾ VỚI BỆNH
NHÂN VÀ CỘNG ĐỒNG
1. Quá trình giao tiếp

của nhân viên y tế cộng đồng quyết định họ phải làm gì.
KỸ năng giao tiếp rất cần cho mọi thầy thuốc, đối với thầy thuốc ở cộng đồng
càng cần thiết vì không chỉ áp dụng tiếp xúc với bệnh nhân mà còn thường xuyên
tiếp xúc với cộng đồng, dựa vào cộng đồng. Giao tiếp cộng đồng là điều kiện
quyết định hiệu quả công tác của thầy thuốc cộng đồng.
4. Mối quan hệ giữa thầy thuốc, nhân viên y tế với bệnh nhân
4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giao tiếp
4.1.1.Những yếu tố thuộc về nét đặc trưng chung của giao tiếp
- Loại hình giao tiếp chủ yếu giữa thầy thuốc và bệnh nhân và giao tiếp chính
thức. Về cơ bản, mục đích, chức năng, phương hướng, nhiệm vụ…của hoạt động
giao tiếp được xác định trước và đáp ứng với yêu cầu của hoạt động khám, chữa
bệnh. Cũng thể nói đây là loại giao tiếp công việc.
- Chủ thể và khách thể giao tiếp là những cá nhân hoặc nhóm xã hội nhất định. Họ
có những “ vai diễn “ khác nhau trong quá trình giao tiếp, song phần lớn là quan
hệ giữa một bên là nhân viên y tế và một bên là bệnh nhân.
- Các phương tiện giao tiếp được sử dụng một cách tổng hợp, song phương tiện
chủ yếu vẫn là ngôn ngữ. Uy tín, phong cách công tác của thầy thuốc đôi khi đóng
vai trò quyết định đến kết quả giao tiếp.
4.1.2. Những yếu tố thuộc về bản thân chủ thể và đối tượng giao tiếp
- Vốn hiểu biết chung, trình độ hoạt động chuyên môn, năng lực chung của chủ
thể và đối tượng giao tiếp sẽ làm nền cho quá trình giao tiếp.
- Sự thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ…giao tiếp của chủ thể và đối tượng nhằm đạt
đến một kết quả tối ưu trong phòng và chữa bệnh thường làm cho sự giao tiếp
không chệch hướng, không bị các rối nhiễu chi phối.
- Nhân cách của cá nhân hoặc những đặc trưng về uy tín, về không khí tâm lý
trong nhóm …sẽ là những điều kiện thiết yếu tạo nên hiệu quả của giao tiếp.
- Kỷ năng, kỷ xảo, kinh nghiệm sử dụng các phương tiện, hình thức giao tiếp cũng
như khả năng duy trì sự liên tục quá trình giao tiếp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết
quả cuối cùng của giao tiếp.
- Sự linh hoạt, sáng tạo và nghệ thuật giao tiếp của cả chủ thể và đối tượng sẽ làm

4.2.9. Biết duy trì trạng thái cân bằng tâm lý trong giao tiếp
4.2.10 Tự mình đạo diễn cuộc giao tiếp
4.3. Thái độ của bệnh nhân
Bệnh nhân (người bệnh) là người bị thương tổn thực thể hay cơ năng ở một bộ
phận hay nhiều bộ phận ở cơ thể, làm ảnh hưởng tới sinh hoạt bình thường do đau
đớn, khó chịu. Có những bệnh tự qua khỏi nhưng cũng có nhiều bệnh nếu không
chạy chữa đúng mức sẽ dẫn đến tử vong hoạt tàn phế.
Nghiên cứu thái độ bệnh nhân thầy thuốc cần chú ý quan sát :
- Bệnh nhân muốn gì:
Khi bị bệnh, bệnh nhân rất lo âu cho mình và cho gia đình mong muốn được
chữa khỏi bệnh một cách nhanh chóng để trở lại cuộc sống bình thường. Họ sợ
nhất là phải nằm viện, sợ mắc bệnh nặng không cứu chữa được hoạt để lại di
chứng, hoặc tàn phế.
Thầy thuốc cần giải tỏa tâm lý bệnh nhân, tạo cho họ niềm tin sẽ được chữa khỏi
bệnh.
- Bệnh nhân sẵn sàng trình bày bệnh của mình cho thầy thuốc biết vì lo sợ, vì
bệnh hành hạ đau đớn và vì không phải lúc nào cũng được tiếp xúc, gần gũi với
thầy thuốc.
Thầy thuốc cần kiên nhẫn lắng nghe, nghe một cách chu đáo.
- Bệnh nhân rụt rè, e thẹn :
Trước thầy thuốc, bệnh nhân thường có tâm lý phức tạp, vừa muốn trình bày mọi
điều với thầy thuốc nhưng cũng có khi lại e thẹn, rụt rè nhất là những người mắt
các bệnh truyền nhiễm do lối sống .
Thầy thuốc cần thông cảm và tế nhị giữ những điều kín đáo cho họ nếu họ có ý
yêu cầu.
- Bệnh nhân quan sát và nhận xét :
Khi vào viện , bệnh nhân bị tách khỏi đời sống bình thường tiếp xúc với môi
trường mới , họ bắt đầu quan sát , theo dõi các hoạt động của thầy thuốc và nhân
viên y tế, quan sát hoạt động của bệnh viện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua giao
tiếp những ấn tượng tốt xấu của người bệnh ảnh hưởng rất lớn tới quá trình chữa

Con người biết dùng lời nói để diễn đạt tư tưởng, thái độ, ý nghĩ tình cảm và sự
hiểu biết của mình với những người xung quanh. Đặc biệt lời nói của thầy thuốc
không những biểu lộ những phẩm chất trên đây mà còn có ý nghĩa rất quan trọng
vì tác động sâu sắc vào tâm lý bệnh nhân và vào quá trình chữa bệnh của họ.
- Lời nói biểu lộ nội tâm bên trong của con người, vì vậy thầy thuốc cần phải có
lời nói đúng đắn tế nhị, diễn đạt đầy đủ sự quan tâm của mình trước bệnh nhân gây
cho họ một niềm tin tưởng lạc quan.
Thái độ đúng đắn và tự tin của thầy thuốc tăng sự kính trọng và yên tâm của bệnh
nhân. Thầy thuốc phải có thái độ thật thà khiêm tốn, thương yêu và thông cảm với
những bất hạnh của người bệnh quan tâm tới hạnh phúc của họ, gần gũi và lắng
nghe ý kiến của họ. Tránh thái độ ban ơn, xa lánh khó chịu gay gắt với họ.
4.5. Tranh thủ tình cảm và lòng tin của bệnh nhân
Bệnh nhân sẵn có niềm tin, tình cảm và sự kính trọng đối với thầy thuốc. Cần
tranh thủ tình cảm và lòng tin của họ.
Thực sự quan tâm tới hạnh phúc người bệnh, chú ý các đặc điểm tâm lý người
bệnh, lắng nghe ý kiến của người bệnh, yêu nghề và có tâm hồn, khắc phục mọi
khó khăn gần gũi và cuốn hút họ đến với mình sẽ tranh thủ được tình cảm và niềm
tin của bệnh nhân.
3.4.4. Biết tiếp xúc với bệnh nhân
Tiếp xúc tốt với bệnh nhân là điều kiện quan trọng để biết được tình trạng và diễn
biến của bệnh. Muốn tiếp xúc dễ dàng thầy thuốc phải nghiên cứu và biết được
tâm lý người bệnh ( tính cách, khí chất ), biết các biểu hiện rối loạn tâm lý do tình
trạng bệnh gây ra, biết được mối quan hệ của họ, nắm được tâm tư nguyện vọng
của họ để có thái độ cư xử, giao tiếp khơi dậy niềm tin và cuốn hút họ.
4.6 Biết tác động vào tâm lý bệnh nhân
-Tác động có mục đích vào tâm lý bệnh nhân tạo những điều kiện thuận lợi cho
quá
trình chữa bệnh là việc rất quan trọng cho mọi thầy thuốc. Phải biết tác động tích
cực vào từng đối tượng, đó là công việc đòi hỏi thầy thuốc phải có kiến thức tâm
lý xã hội đầy đủ và toàn diện.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status