Lời mở đầu
Thế giới đã tiến vào thập niên đầu của thế kỷ XXI với một nền văn minh rực
rỡ nhưng cũng ngổn ngang những vấn đề gay gắt mang tính toàn cầu. Nó chứa
đựng trong mình cả niềm vui và sự bất hạnh, cả nụ cười và nước mắt, cả hạnh phúc
và lo toan. Một trong những nỗi lo toàn cầu, nỗi đau nhân loại là sự đói nghèo trầm
trọng trên một phạm vi vô cùng rộng lớn. Đói nghèo diễn ra trên tất cả các châu lục
với những mức độ khác nhau. Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sự đói nghèo
của dân cư đang là một vấn đề nhức nhối rất cấp bách phải tháo gỡ nhưng cũng vô
cùng khó khăn trong việc thực hiện xóa đói giảm nghèo. Theo ước tính của Ngân
hàng thế giới, hiện vẫn còn khoảng 3 tỷ người trên hành tinh của chúng ta phải
sống trong cảnh nghèo đói với mức thu nhập dưới 1 đến 2 USD/ngày.
Như thế đủ thấy đói nghèo và giải quyết vấn đề nghèo đói mang tính phổ biến,
không chỉ là công việc của riêng nước ta. Tuy nhiên, để hiểu về chương trình xóa
đói giảm một cách đầy đủ, cần thiết phải có cách nhìn tổng quan, cần “biết người
biết ta” để rút ra những bài học và tìm ra những phương pháp hữu hiệu. Chính vì
vậy, chúng em chọn đề tài: “Vấn đề xóa đói, giảm nghèo…”. Bài tiểu luận này sẽ
phân tích tình hình xóa đói giảm nghèo tại Trung Quốc- một quốc gia thành công
trong vấn đề này và tại Việt Nam trong thời gian qua, từ đó rút ra những bài học từ
nước láng giềng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xóa
đói giảm nghèo trong thời gian tới. Chúng em rất mong nhận được những ý kiến
nhận xét của cô để tiếp tục hoàn thiện đề tài này tốt nhất. Chúng em chân thành
cám ơn cô.
I. Thành qủa xóa đói giảm nghèo ở Trung Quốc.
Xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình
phát triển của các quốc gia, bao gồm cả Trung Quốc. Nhờ những cố gắng tích cực
của mình trong nhiều năm liên tục, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu đáng
kể trong cuộc chiến chống đói nghèo kể từ cuối những năm 70; trở thành một trong
những điểm sáng nổi bật về xóa đói giảm nghèo trong khu vực Châu Á cũng như
Thái Bình Dương. Số người nghèo ở Trung Quốc giảm mạnh từ 250 triệu người
năm 1978 xuống còn 50 triệu người năm 1997. Việc giảm quy mô nghèo đói đó
trong một thời gian ngắn như vậy là chưa từng có trong quá khứ và được xem là
người nông dân thoát khỏi mức nghèo và tình trang lạc hậu. Trong những năm
1978- 1985, tổng số dân sống dưới mức nghèo của quốc gia này đã giảm từ 250
triệu người xuống còn 97 triệu người, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 33% xuống 9.2%
(theo Ngân hàng thế giới,1996). Sự nghèo đói của con người cũng giảm cùng với
sự nghèo về thu nhập. Ví dụ như, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh trên 1000 trẻ được sinh
ra đã giảm từ 52 vào cuối những năm 70 xuống còn 50 vào giữa những năm 85
(Zhang, 1996).
2. Giai đoạn hai (1986-1993)
Vào giữa những năm 80, hầu hết các vùng nông thôn đã đạt được sự phát triển
kinh tế nhanh chóng nhờ những lợi thế riêng của từng vùng. Tuy nhiên, do xã hội,
kinh tế, lịch sử, điều kiện địa lý, và những sự hạn chế mà khoảng cách giữa những
vùng kém phát triển của Trung Quốc với những vùng khác, mà đặc biệt là những
vùng phát triển nhanh ngày càng gia tăng. Vấn đề phát triển không đều giữa các
vùng nông thôn đã bắt đầu xuất hiện. Cùng với sự gia tăng thu nhập ở nhiều vùng
nông thôn của Trung Quốc, một bộ phận lớn người dân có mức thu nhập thấp.
Nhiều người trong số họ không thể nuôi sống chính mình, không thể tự đáp ứng
được những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống; không đủ thức ăn, quần áo hay không
có nhà để ở. Do đó, tiến độ đói giảm nghèo đã bị đổi chiều. Tỷ lệ nghèo ở nông
thôn đã tăng từ 10.4% lên 12.3 %. Tỷ lệ người nghèo ở thành thị tăng từ 0.2% năm
1988 lên 0.4% năm 1990 và tỷ lệ người lớn mù chữ tăng lên từ 23.5% năm 1982
lên đến 26.8% năm 1987 (SSB).
Những người dân nghèo thường tập trung chủ yếu ở một số vùng nhất định,
chủ yếu là những vùng kinh tế kém phát triển ở miền trung và tây của Trung Quốc.
Nhiều khu vực trong số đó là những cơ sở cách mạng cũ, những vùng nhỏ xa xôi
hay ở biên giới. …. Do đó chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều chương trình
quan trọng để giải quyết vấn đề nghèo đói ở vùng nông thôn, chẳng hạn như năm
1984, chính phủ đưa ra “ Khai báo về thay đổi tình trạng nghèo đói ở nông thông
trong một thời gian ngắn” đòi hỏi sự tập trung cao độ của chính quyền các cấp, các
giải pháp hiệu quả cùng thái độ tích cực; hay năm 1886, chính phủ Trung Quốc đã
thành lập tổ chức giúp đỡ pháp triển kinh tế ở những vùng nghèo được điều hành
từ năm 2001, cả số lượng lẫn tỷ lệ người nghèo đều giảm theo thời gian. Năm
2003, khi chương trình đang được tiến hành, việc xóa đói giảm nghèo đã có những
tiến bộ dễ thấy; số người nghèo tuyệt đối chỉ còn 29 triệu người chiếm 3.1% dân
số, số người có thu nhập thấp ( những người sống trên mức nghèo nhưng thu nhập
vẫn bị xếp vào mức thấp ) là 52.6 triệu người (chiếm 6% dân số ) ( Theo Ngân
hàng thế giới ).
5. Nhận xét chung về thành quả giảm đói nghèo ở Trung Quốc
Như vậy, trong suốt thời gian hơn 30 năm kể từ khi cải cách kinh tế, công
cuộc xóa đói giảm nghèo của Trung Quốc đã được quan tâm và tiến hành liên tục;
đạt được nhiều thành tựu ấn tượng về nhiều mặt.
Thành tựu đầu tiên có thể thấy dễ dàng nhất là số lượng người nghèo giảm
mạnh. Dân số nghèo tuyệt đối ở vùng nông thôn đã giảm từ 250 triệu người( chiếm
30.7%) năm 1978 xuống còn 14.17 triệu người (chiếm 1.6%) năm 2007. Số dân có
mức thu nhập thấp giảm từ 62.13 triệu người năm 2000 xuống còn 28.41 triệu
người năm 2007( theo World Bank).
class="bi x1 y56 w2 h5"
Thứ hai, thu nhập của các hộ gia đình ở nông thôn liên tục tăng lên. Từ năm
2003 đến năm 2008, thu nhập dòng trung bình của các hộ dân ở vùng nông thôn
nghèo tăng từ 303 yuan lên tới 2611 yuan.
Thứ ba, cơ sở hạ tầng ở vùng nông thôn ngày càng được nâng cấp. Hệ thống
đường xá trở nên thuân tiện hơn do nhiều con đường được mở mới hoặc sửa chữa
lại. Bên cạnh đó, điện cũng như điện thoại ngày càng được mở rộng đến khắp mọi
vùng trên cả nước.
Thứ tư, xã hội ngày càng phát triển hơn. Giáo dục, chăm sóc y tế công cộng
hay văn hóa ngày càng được chú trọng và phát triển. Từ năm 2002 đến năm 2008,
tỷ lệ trẻ học mẫu giáo ở các làng quê tăng từ 7.38% đến 55.2%. Tỷ lệ người mù chữ
đã giảm xuống rất thấp, giáo dục được phổ cập ở nhiều cấp lớp. Số lượng bác sĩ, y
tá ngày ở các bệnh viện tại những vùng khó khăn ngày càng tăng cũng như trang
thiết bị y tế đã dần dần được cải thiện, nâng cấp.
Tóm lại, trong thời gian qua, công cuộc xóa đói giảm nghèo của Trung Quốc
phẩm như tiểu mạch, ngô, đậu, bông … đều cao hơn giá thị trường quốc tế từ 20-
70%. Ngoài số ít mặt hàng nông sản như thịt lợn, táo và thuốc lá tương đối có ưu
thế, còn lại nhiều loại hàng hóa nông sản của Trung Quốc thiếu sức cạnh trên thị
trường quốc tế.
Giai đoạn 1985-1993:
Mở rộng cải cách sang khu vực phi nông nghiệp, giảm sự kiểm soát và can
thiệp của nhà nước đối với các doanh nghiệp tư nhân. Hình thành các doanh nghiệp
địa phương với quy mô nhỏ hoạt động độc lập. Tuy nhiên, sau một thời gian dài có
những tác động tích cực với việc tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho
người nông dân, các xí nghiệp hương chấn quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ và máy
móc lạc hậu, năng suất thấp đang ngày càng trở nên kém hiệu quả, gây lãng phí tài
nguyên, ô nhiễm môi trường và là gánh nặng với ngân sách địa phương.
Giai đoạn 19 94-2005:
Nhiều người thuộc lực lượng bảo thủ buộc phải rút lui, tạo điều kiện cho các
chính sách cải cách được thực hiện triệt để. Sau khi Đặng Tiểu Bình qua đời vào
năm 1997, cải cách vẫn tiếp tục dưới sự lãnh đạo của Giang Trạch Dân và Chu
Dung Cơ . Trong năm 1997 và 1998, diễn ra quá trình tư nhân hóa ở quy mô
lớn, trong đó tất cả các doanh nghiệp nhà nước, ngoại trừ một vài công ty độc
quyền lớn, đã được thanh lý và được bán cho các nhà đầu tư tư nhân. Từ 2001 đến
2004, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm 48%. Trong cùng thời gian, các chính
sách giảm thuế quan, các rào cản thương mại và các quy định, cải cách hệ thống
ngân hàng cũng được thực hiện. Khu vực tư nhân trong nước đầu tiên vượt
quá 50% của GDP trong năm 2005. Tuy nhiên, một số độc quyền nhà nước vẫn
còn, chẳng hạn như dầu mỏ và ngân hàng.
Giai đoạn này cũng là giai đoạn mở của mạnh mẽ của Trung Quốc
- Năm 2001, Trung Quốc đã giữ chức chủ tịch APEC và Thượng Hải đã đăng cai hội
nghị các lãnh đạo APEC thường niên.
- Ngày 11/12/2001, sau hơn 14 năm đàm phán, Trung Quốc trở thành thành viên
chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO. Sauk hi gia nhập WTO, kinh tế
Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu phát triển vượt bậc do kịp thời điều chỉnh
(theo báo cáo số 47349-CN, World bank, trang 26)
Từ bảng số liệu trên, có thể thấy tỉ lệ nghèo ở nông thôn Trung Quốc cao hơn
rất nhiều so với khu vực thành thị. Không những thế, dân số tụt hậu so với các dân
số đô thị.Tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học (đặcbiệt ở cấp tiểu học), và tỷ lệ phổ
cập giáo dục (đặc biệt cấp trung học cơ sở) thấp hơn nhiều ở khu vực nông thôn.
Khoảng cách giữa các khu vực nông thôn và thành thị đã và đang tiếp tục mở
rộng. Vì vậy, xóa đói giảm nghèo nông thôn phải tiếp tục là một ưu tiên hàng đầu.
Chính phủ Trung Quốc đã triển khai nhiều chính sách nhằm ưu tiên phát triển
khu vực nông thôn, cụ thể là:
(i) Loại bỏ thuế nông nghiệp và lệ phí, và gia tăng hỗ trợ trực tiếp nông nghiệp
(ii) Miễn giảm học phí cho giáo dục bắt buộc ở các vùng nông thôn
(iii) Mở rộng phạm vi cung cấp bảo hiểm y tế nông thôn
(iv) Triển khai Đề án hỗ trợ y tế nông thôn và chương trình hỗ
trợ thu nhập tối thiểu
Đây là những sáng kiến quan trọng, phản ánh cam kết mạnh mẽ của chính phủ
trong việc giải quyết sự mất cân đối nông thôn - đô thị, và cũng đã đạt được những
kết quả rõ rệt trong giảm nghèo ở khu vực nông thôn.
2. Kết hợp giữa phát triển đô thị- nông thôn và chính sách phân phối lại
a. Nâng cao chất lượng an sinh xã hội khu vực nông thôn
- Phổ cập giáo dục: Giáo dục là một yếu tố quan trọng phản ánh phúc lợi của
người dân. Trình độ học vấn chính là thước đo thực tế cho nghèo đói, cả ở
nông thôn và thành thị. Do đặc điểm diện tích rộng lớn, cũng như những tàn
dư của xã hội cũ trong phân biệt nam nữ, Trung Quốc đã và đang thực hiện
nhiều chính sách nhằm phổ cập giáo dục toàn diện, nâng cao dân trí, giúp
người dân tự chủ hơn trong xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống.
+ Chương trình phổ cập giáo dục bắt buộc
Luật giáo dục bắt buộc được Trung quốc thông qua tại kì họp lần thứ 4 khóa 6,
ngày 12/4/1986, sửa đổi vào năm 2006, theo đó Trung Quốc bắt đầu triển khai phổ
cập giáo dục 9 năm. Tuy nhiên, việc phổ cập giáo dục ở Trung Quốc là không hề dễ
dàng do dân số đông cũng như sự đa dạng về dân tộc,văn hóa.
cả:
- Trợ cấp nông nghiệp
Để bảo vệ nông dân, thúc đẩy sản xuất lương thực, đảm bảo an ninh lương
thực quốc gia, từ năm 2004 Trung Quốc triển khai trợ cấp trực tiếp cho nông dân
trồng lúa. Trên cơ sở của việc duy trì sự ổn định của chính sách trợ cấp thực phẩm
ban đầu, năm 2006 chính sách trợ cấp chung bao gồm trợ cấp về diesel nhiên liệu,
phân bón và sản xuất nông nghiệp được dự kiến sẽ được gia tăng. Ngoài ra, nông
dân còn được trợ cấp và giúp đỡ xây dựng mạng lưới thống kê và quản lý thông tin,
ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý. Chính sách này cũng nhằm đảm bảo trợ
cấp được sử dụng một cách có hiệu quả, tránh lãng phí.
- Hỗ trợ nhà ở cho người có thu nhập thấp ở khu vực đô thị
Giai đoạn 2011-2015, Trung Quốc triển khai kế hoạch xây dựng hơn 36 triệu
căn nhà giá cả phải chăng để phục vụ 20% dân số đô thị- chủ yếu là các gia đình có
thu nhập thấp. Năm 2011, hơn 10 triệu căn nhà được bắt đầu xây dựng, và khoảng
4,32 triệu đã được hoàn tất. Năm 2012, sẽ có khoảng 7 triệu căn bắt đầu xây dựng
và 5 triệu sẽ được hoàn thành.
- Xóa bỏ thuế nông nghiệp
Ngày 29/12/2005, cuộc họp Uỷ ban thường vụ Quốc đại hội 10 của Trung
Quốc đã thông qua Quyết định về xoá bỏ các quy định về thuế nông nghiệp. Các
quy định kết thúc lịch sử 2000 năm của thuế nông nghiệp ở Trung Quốc, tạo thuận
lợi cho người nông dân phát triển kinh tế.
III. Hạn chế
Trung Quốc đã đạt những thành tựu đáng kể trong việc xóa đói giảm nghèo
nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Trong phần này
chúng ta sẽ cùng xem xét những hạn chế mà Trung Quốc gặp phải trong quá trình
giảm nghèo đói.
Thứ nhất là: bất bình đẳng trong phân phối thu nhập tăng lên.
Kể từ năm 1980 tới nay sự thành công của Trung Quốc trong việc chống lại
nghèo đói lại đi kèm với sự gia tăng bất bình đẳng ở nước này. Với xu hướng tăng
7% bất bình đẳng ở mỗi thập kỷ thì Trung Quốc được dự đoán là một quốc gia có
Trong tương lai sẽ là càng khó khăn hơn cho Trung Quốc nếu như không xem
xét đến vấn đề bất bình đẳng trong quá trình giảm nghèo đói. Bất bình đẳng là một
trở ngại đôi, phụ thuộc vào nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng đặc biệt là sự bất
bình đẳng trong cơ hội, nó có nghĩa là tăng trưởng thấp hơn và chia sẻ người
nghèo ít hơn trong những lợi ích từ sự tăng trưởng đó. Bất bình đẳng sẽ tiếp tục
tăng ở Trung Quốc và vấn đề nghèo đói đang phản hồi lại việc tăng lên của bất bình
đẳng.
Thứ hai là: Chất lượng phát triển kinh tế giảm. Việc phát triển kinh tế không
giúp làm giảm nghèo đói. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Trung
Quốc tăng cao từ năm 1990 song thành tích xóa đói giảm nghèo bị hạn chế. Sở dĩ
như vậy vì người nghèo không được hưởng lợi trực tiếp từ mức tăng trưởng cao đó.
Tỷ lệ năng suất lao động nông nghiệp trên năng suất lao động quốc gia đã giảm. Tỷ
lệ thu nhập bình quân của nông dân trên tổng thu nhập quốc dân cũng giảm. Các cơ
hội việc làm trong khu vực nông thôn cũng chưa cao.
Thứ ba là: Nếu xét theo tiêu chuẩn quốc tế thì số lượng người nghèo ở Trung
Quốc vẫn còn cao.
- Chuẩn nghèo chính thức của Trung Quốc là thấp hơn so với tiêu chuẩn quốc
tế.
- Chuẩn nghèo chính thức của Trung Quốc có vẻ như thấp hơn so với kỳ vọng
tăng lên trong thu nhập và phát triển.
- Chuẩn nghèo của Trung Quốc không xét đến nhu cẩu về lương thực thực
phẩm thiết yếu.
Thứ tư là: Tính dễ bị tổn thương của người nghèo bởi cú sốc thu nhập vẫn
còn khá phổ biến.
- Phần lớn mức độ nghèo ở khu vực nông thôn của Trung Quốc là do các nguy
cơ rủi ro gặp phải.
- Tiếp xúc với các nguy cơ, rủi ro có thể là một trong những lý do tại sao
người nghèo Trung Quốc có tỷ lệ tiết kiệm cao bất thường.
Thứ năm là: Việc loại bỏ tình trạng nghèo đói còn lại trở nên khó khăn hơn
khi tỷ lệ hộ nghèo đã giảm.
sách tiến hành cải cách nông thôn bắt đầu cuối những năm 1970. Các quan chức
địa phương cấp làng, xã chịu trách nhiệm trước các lãnh đạo cấp trên và nhân dân
địa phương về sự phát triển kinh tế trong khu vực mình quản lý. Khả năng thực thi
các chính sách là cần thiết cho sự phát triển và quan trọng hơn khả năng này cần
phải được phát triển.
Dĩ nhiên, khả năng của chính phủ phải được sử dụng để áp dụng những chính
sách hiệu quả và tránh hoặc từ bỏ những chính sách không hợp lý. Có thể thấy điều
này qua ví dụ của Trung Quốc trong việc tránh làm hại tới lợi ích của người nghèo.
Một cách được áp dụng đó là giảm thuế, hoặc công khai hoặc thông qua các hình
thức khác, cho người nghèo. Tại Trung Quốc, chính phủ sử dụng hệ thốngthu mua
lương thực thực phẩm trên diện rộng, đánh thuế người nông dân hiệu quả qua việc
xác định mức sản lượng và định giá thấp hơn giá thị trường (để đảm bảo rằng
những người nghèo tại khu vực thành thị). Đây là một công cụ hiệu quả giúp chính
phủ đạt được sức mạnh trong cuộc chiến chống nghèo đói trong ngắn hạn.
Một bài học khác từ Trung Quốc đó là chính sách kinh tế vĩ mô ổn định. Kinh
nghiệm của Trung Quốc cho thấy tránh những cú sốc về lạm phát sẽ giúp quá trình
xóa đói giảm nghèo diễn ra tốt hơn. Lạm phát cao đồng nghĩa với tỷ lệ nghèo cao
hơn. Sự quan trọng của ổn định kinh tế vĩ mô tới giảm nghèo đói còn có thể thấy tại
những nước khác như Braxin, Ấn Độ,
Hợp nhất thị trường nội địa đóng vai trò làm nên thành công của Trung Quốc
mặc dù đây không phải là lĩnh vực Trung Quốc đạt được những tiến bộ nhanh
chóng. Tuy những cản trở trong việc di cư giữa các tỉnh trong Trung Quốc và
những bất đồng trong buôn bán hàng hóa nội địa vẫn còn tồn tại nhưng đang có xu
hướng giảm dần theo thời gian.
Mộ bài học quan trọng khác có thể thấy đó là cải cách thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế là không đủ để đảm bảo cho quá trình xóa đói giảm nghèo diễn ra nhanh và
ổn định. Hiện tượng bất bình đẳng trong sở hữu tài sản và quyền tham gia sử dụng
các cơ sở hạ tầng cần thiết đã cản trở triển vọng của những người nghèo trong việc
chia sẻ những thành tựu kinh tế đạt được. Việc xóa bỏ các hợp tác xã đảm bảo rằng
đất đai trong các xã được phân chia công bằng. Phân phối quyền sử dụng đất
Quốc sau cuộc cải cách nông thôn ở Trung Quốc, Ravalion (2005) đã tìm thấy bằng
chứng những ngoại ứng tại các địa phương có nguồn gốc từ tác động của hoạt động
kinh tế địa phương và lợi nhuận tư nhân tới cư dân địa phương và hỗ trợ xây dựng
các cơ sở hạ tầng. Điều này giải thích sự kém phát triển tại các vùng nông thôn tăng
lên nếu thiếu sự đầu tư vào những hoạt động tạo ra những ngoại ứng trong đó phát
triển nông nghiệp nổi lên là hoạt động quan trọng nhất.
Tuy nhiên, để đạt được những thành tựu như Trung Quốc không phải dễ dàng.
Nó đòi hỏi cần có sự đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển nông
nghiệp, điều chỉnh phù hợp với điều kiện của Việt Nam và nỗ lực đưa những kết
quả nghiên cứu này tới nông dân Việt Nam. Sự tăng trưởng trong nông nghiệp đòi
hỏi sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn và tìm thị trường tiêu thụ.
Những nước đang phát triển có mục tiêu công nghiệp hóa đang cố gắng thúc
đẩy quá trình này diễn ra nhanh hơn. Tại Trung Quốc việc chuyển đổi hướng tập
trung phát triển ra khỏi ngành nông nghiệp diễn ra quá nhanh chóng. Sau khi an
ninh lương thực được đảm bảo và thu nhập của nông dân tăng lên, hoạt động kinh
tế chính trị đặt ra những điều kiện sống tốt hơn cho tầng lớp trung lưu và thương
lưu. Mô hình chuyển đổi ngành và vùng này của Trung Quốc đã làm tăng sự bất
bình đẳng và làm mờ đi ảnh hưởng của sự tăng tưởng tới phạm vi ảnh hưởng của
nghèo đói. Về phương diện này, Việt Nam được đánh giá thực hiện tốt hơn Trung
Quốc khi kéo dài thời gian tập trung phát triển nông nghiệp và nông thông trước
khi chuyển sang phát triển các ngành công nghiệp và nông nghiệp.
Hiện nay khi tình hình bất bình đẳng cũng đang có xu hướng tăng lên tại Việt
Nam, cần lưu ý tới hạn chế này của Trung Quốc để Việt Nam tránh vấp phải những
thách thức tương tự.
Quan sát những thành công của Trung Quốc, nhiều quan điểm cho rằng một
kết quả tất yếu của giảm nghèo đói là sự gia tăng bất bình đẳng. Tuy nhiên, điều
này không có nghĩa là tất cả các nước nghèo đều phải đối mặt với sự tăng lên của
bất bình đẳng. Sự tăng trưởng về kinh tế kéo làm gia tăng áp lực bất bình đẳng do
thị trường lao động thiếu kỹ năng và tỷ lệ quay lại trường học cao hơn. Mặt khác,
nếu chính phủ nới lỏng những rằng buộc mà người nghèo phải đối mặt khi tham gia