Đề tài nghiên cứu khoa học
Page 1
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH 1
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Phát triển dịch vụ nội dung cho dịch vụ IPTV của Tập đoàn
Bưu Chính Viễn thông Việt Nam
Mã số: 10 - SV – 2012 – QTKD
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Lê Thị Ngọc Diệp
Nhóm sinh viên thực hiện: Lê Thị Cẩm Vân
Trần Thị Nguyệt Minh
Lớp: D09QT3
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Đề tài nghiên cứu khoa học
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Page 2
Đề tài nghiên cứu khoa học
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày này, Khi internet băng rộng phát triển mạnh mẽ, đã tạo nên sự thay
đổi mạnh mẽ trong lĩnh vực truyền hình. Hiện nay bên cạnh truyền hình tương tự,
truyền hình số, truyền hình vệ tinh, truyền hình cáp, truyền hình internet, chúng ta
còn biết đến IPTV. Theo một thống kê mới đây, vẫn còn 2/3 số dân chưa truy cập
internet cho thấy cơ hội phát triển kinh doanh của các DN cung cấp dịch vụ IPTV
còn rất lớn, khác với thị trường dịch vụ di động được đánh giá là bão hòa. Thời
gian gần đây, cả ba nhà cung cấp dịch vụ internet lớn VNPT, Viettel, FPT đã
không ngừng đầu tư mạnh cho hạ tầng, thể hiện bằng việc mở đường kết nối đi
quốc tế, nâng dung lượng đường truyền… Khó khăn không dừng lại, khách hàng
ngày nay ý thức được quyền lực của họ: Có quyền đòi hỏi dịch vụ chất lượng cao,
nhận rằng dịch vụ cũng mang lại giá trị nhất định cho người tiếp nhận nó, nhưng
lại coi nó như một hàng hóa hữu hình. Ông cũng cho rằng: có một số hàng hóa
hữu hình sẽ không được tạo ra nếu không có một số dịch vụ trợ giúp trong quá
trình sản xuất và đưa nó đến tay người tiêu dùng. Chẳng hạn, nông sản được sản
xuất ở nơi mà cung vượt quá cầu sẽ chẳng có mấy giá trị trừ khi nó được vận
chuyển đến nơi cần mua nó. Như vậy dịch vụ vận chuyển trong trường hợp này
mang lại giá trị cho nông phẩm. Cũng có thể thấy rằng nhờ có phương tiện quảng
bá trên Internet với chi phí thấp mà các nhà sản xuất Việt Nam có thể vươn ra bán
hàng cho nhiều khách hàng quốc tế với mức giá cao hơn nhiều so với mức giá bán
trên thị trường nội địa. Như vậy, dịch vụ quảng cáo trên Internet đã làm tăng đáng
kể giá trị hàng hóa.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, phúc lợi xã hội
ngày càng tăng, nhu cầu của con người về vật chất cũng như về tinh thần ngày
càng cao, thì dịch vụ ngày càng gia tăng cả về loại hình, chất lượng cũng như số
lượng. Tại các nước phát triển, tỷ trọng từ khu vực kinh tế dịch vụ chiếm trên 75%
Page 4
Đề tài nghiên cứu khoa học
tổng giá trị sản xuất kinh tế quốc dân và tại các nước đang phát triển thì tỷ trọng
này cũng đang dần tăng lên 50% - 60%. Tại nhiều nước, ngành dịch vụ đã mang
lại khoảng hơn 70% việc làm cho người lao động.
Vậy dịch vụ được định nghĩa như thế nào? Theo Kotler và Amstrong: “
!"#"$%&'&()*+,
Tuy nhiên, cũng chưa có một định nghĩa nào chính xác và thống nhất về
dịch vụ. Vì thực tế, khó có thể phân biệt được dịch vụ và hàng hóa. Khi mua một
hàng hóa thường người mua cũng nhận được lợi ích của một yếu tố dịch vụ kèm
theo. Tương tự, một dịch vụ thường được kèm theo một hàng hóa hữu hình làm
cho hàng hóa tăng thêm giá trị. Như vậy có thể nói, hầu hết các sản phẩm cung cấp
cho khách hàng đều là sự kết hợp giữa hàng hóa và dịch vụ theo một tỷ lệ nhất
định làm tăng giá trị của cả hai đồng thời làm thỏa mãn nhu cầu hay lợi ích của
thể hình dung, thực thể dịch vụ thường phân ra hai mức: Dịch vụ cơ bản và dịch
vụ thứ cấp bao xung quanh.
- Cấp 1: Dịch vụ cơ bản.
Phần này của dịch vụ đáp ứng lợi ích cơ bản của khách hàng, với dịch vụ
cơ bản này nhà cung cấp chỉ đáp ứng lợi ích cơ bản nhất của khách hàng với một
chi phí nhất định mà họ đã bỏ ra mua dịch vụ đó. Cấp độ đó cho phép nhà cung
cấp thực sự hiểu được khách hàng muốn mua gì? Họ bỏ chi phí để mua lợi ích gì
mà dịch vụ mang lại. Tuy nhiên, dịch vụ cơ bản không phải là lí do khách hàng
lựa chọn nhà cung cấp này hay nhà cung cấp khác trong số các nhà cung cấp dịch
vụ cùng loại mà đó chỉ là cơ sở để khách hàng lựa chọn dịch vụ.-#.+.+/01+
- Cấp 2: Dịch vụ thứ cấp
Phần này của dịch vụ bao gồm cả lớp sản phẩm hoàn chỉnh và sản phẩm
nâng cao. Nó là sự kết hợp giữa yếu tố hữu hình và vô hình của dịch vụ, nhờ các
dịch vụ thứ cấp mà các doanh nghiệp giúp cho khách hàng phân biệt được dịch vụ
của mình với dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh. Hay nói cách khác, đó là những
dịch vụ phụ, tạo ra những giá trị phụ cho khách hàng, làm cho khách hàng có cảm
nhận tốt hơn về dịch vụ cơ bản.
Page 6
Đề tài nghiên cứu khoa học
Các dịch vụ thứ cấp rất đa dạng và thay đổi theo sự cạnh tranh trên thị
trường. Nó giúp cho khách hàng có thể lựa chọn sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp
dịch vụ nào, tức là nó giúp các nhà cung cấp dịch vụ tăng khả năng cạnh tranh.
Tuy nhiên, trong các dịch vụ thứ cấp có những loại bắt buộc phải có thì mới thực
hiện được dịch vụ cơ bản và cả các dịch vụ không bắt buộc phải có.
Hầu hết các dịch vụ được mở rộng và phát triển ở cấp độ 2. Chỉ có một số ít
các dịch vụ được phát triển ở cấp độ 1 vì đó là dịch vụ cơ bản mang lại lợi ích cơ
bản nhất cho khách hàng.
và đem bán khi có nhu cầu, do vậy họ dễ thực hiện việc cân đối cung cầu. Nhưng
đối với dịch vụ tình hình lại khác hẳn. Quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng
dịch vụ xảy ra đồng thời. Người cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với
nhau để cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho
hai bên. Đối với một số các dịch vụ (trong đó có BCVT) thì khách hàng phải có
mặt trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ. Bác sĩ không thể chữa bệnh nếu bệnh
nhân vắng mặt. Khách hàng không thể dùng Internet công cộng nếu không đến
bưu cục. Như vậy, quá trình tiếp xúc với khách hàng kéo dài suốt quá trình cung
cấp dịch vụ.
Tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ xuất hiện cả khi
máy móc cung cấp dịch vụ. Khách hàng dùng dịch vụ CardPhone vẫn phải có mặt
tại máy để đàm thoại. Trong một số trường hợp có thể tách biệt giữa cung cấp và
tiêu dùng. Đó là các trường hợp khi không cần đến sự tiếp xúc cá nhân. Khách
hàng có thể mang máy điện thoại đến cửa hàng sửa chữa, sau khi chữa xong thì
mới mang về sử dụng. Đây là trường hợp đối tượng trực tiếp nhận dịch vụ là tài
sản của khách hàng.
c. Tính không đồng đều về chất lượng
Vì dịch vụ không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng
hoá, do vậy nhà cung cấp khó kiểm tra chất lượng tập trung theo một tiêu chuẩn
thống nhất. Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ lại chịu
tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung cấp dịch vụ. Do vậy, khó đạt
được sự đồng đều về chất lượng dịch vụ. Để khắc phục nhược điểm này, có thể
thực hiện cơ giới hoá, tự động hoá trong khâu cung cấp dịch vụ, đồng thời có
chính sách quản lý đặc thù đối với các nhân viên cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên,
việc tiếp xúc với nhân viên cung cấp dịch vụ lịch sự, niềm nở cũng là một yếu tố
hấp dẫn khách hàng. Mặt khác, không phải bất kỳ dịch vụ nào cũng có thể tự động
hoá quá trình cung cấp được.
d. Tính không dự trữ được
Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, dịch vụ
không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì
Như vậy, việc phát triển dịch vụ nắm giữ những vai trò quan trọng, đó là:
- Phát triển dịch vụ giúp cho doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu của khách
hàng một cách tốt hơn:
Nhu cầu của người tiêu dùng là rất lớn, phong phú và có xu hướng ngày càng
cao do điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển. Doanh nghiệp nào sớm thoả
Page 9
Đề tài nghiên cứu khoa học
mãn với những dịch vụ đang có, không có chính sách đầu tư nghiên cứu tìm hiểu thị
trường, nhu cầu của khách hàng hợp lý… để phát triển dịch vụ thì dần dần sẽ bị
khách hàng tẩy chay và dẫn đến phá sản. Ngược lại, doanh nghiệp nào quan tâm tới
phát triển dịch vụ sẽ đem đến cho khách hàng nhiều sự lựa chọn hơn, đáp ứng được
những nhu cầu khác nhau của khách hàng. Do vậy, trong hoạt động cung cấp dịch
vụ, nghiên cứu phát triển dịch vụ là một phần rất quan trọng.
- Phát triển dịch vụ giúp cho doanh nghiệp duy trì và phát triển mối quan hệ
với khách hàng:
Trên cơ sở cung cấp đầy đủ các dịch vụ cho khách hàng nhờ phát triển dịch
vụ, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng sẽ trở nên ngày càng bền chặt. Ví
dụ: doanh nghiệp nào cung cấp dịch vụ trọn gói thường là có những khách hàng
trung thành hơn so với những doanh nghiệp chỉ cung cấp một dịch vụ nào đó trong
một chuỗi các dịch vụ mà khách hàng cần. Sở dĩ như vậy là vì: khách hàng sẽ cảm
thấy được phục vụ tốt hơn (được phục vụ từ đầu đến cuối) khi sử dụng dịch vụ trọn
gói, không mất công sức và thời gian để tìm kiếm các nhà cung cấp các dịch vụ
khác nhau chỉ để thực hiện một mục đích, hơn nữa lại tránh được sự không đồng bộ
giữa các nhà cung cấp dịch vụ khác nhau. Không những thế, tâm lý khách hàng lại
thường ngại thay đổi một doanh nghiệp đã cung cấp cho mình cả một hệ thống các
dịch vụ.
- Phát triển dịch vụ tạo ra sự đa dạng hoá các loại hình dịch vụ trong doanh
nghiệp nhằm tạo sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh, nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp trên thương trường:
Cạnh tranh ngày càng khốc liệt, và doanh nghiệp nào biết cách tự làm mới
đời của mình, doanh nghiệp đã phải xây dựng một chiến lược tung dịch vụ mới ra
ngoài thị trường thật chi tiết và cẩn thận. Dịch vụ mới nếu thành công sẽ giúp doanh
nghiệp duy trì sự tồn tại của mình, và thậm chí có thể khiến cho doanh nghiệp có
một diện mạo mới tốt hơn trong tâm trí khách hàng.
- Khi còn dư thừa công suất các phương tiện, thiết bị cung cấp dịch vụ: Sẽ là
rất lãng phí khi trong trường hợp này doanh nghiệp không tận dụng để triển khai
dịch vụ mới, vừa tận dụng hết thiết bị máy móc, vừa có thể tăng doanh thu.
- Khi muốn giảm độ mạo hiểm phụ thuộc vào chỉ một vài dịch vụ: Phụ
thuộc vào một vài dịch vụ, độ rủi ro của doanh nghiệp sẽ khá lớn do nếu một trong
những dịch vụ này vào một thời điểm nào đó gặp thất bại, gây lỗ nhiều cho doanh
nghiệp thì mức tổn hại sẽ lớn, và rất dễ dẫn đến phá sản. Có nhiều dịch vụ khác
nhau thì khi một vài dịch vụ có thất bại, doanh nghiệp vẫn còn có những nguồn thu
từ các dịch vụ còn lại để duy trì hoạt động và tìm cách khắc phục khó khăn.
- Khi doanh nghiệp muốn duy trì và phát triển mối quan hệ với khách hàng
(cung cấp cho khách hàng đầy đủ các dịch vụ).
- Khi có cơ hội đáp ứng một nhu cầu chưa được thoả mãn của thị trường:
Page 11
Đề tài nghiên cứu khoa học
Chỉ khi có một chính sách nghiên cứu thị trường, nghiên cứu phát triển dịch vụ
đúng đắn, doanh nghiệp mới có thể chớp lấy cơ hội trên. Nghiên cứu thị trường để
tìm ra những thị trường ngách còn bỏ ngỏ, tiếp đó nghiên cứu phát triển dịch vụ để
đáp ứng thị trường ngách đó. Và khi những dịch vụ mới đó thành công, mang lại giá
trị tuyệt vời cho người tiêu dùng, thì doanh nghiệp vừa mở rộng được thị trường, lại
vừa có thế mạnh tiên phong trong một thị trường nhất định.
1.1.2.3. Các hướng phát triển dịch vụ
Doanh nghiệp có thể phát triển dịch vụ theo 2 hướng sau:
- Phát triển dịch vụ hiện tại (phát triển theo chiều sâu): Là quá trình duy
trì, thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh thu, tiêu thụ dịch vụ đó và nâng cao hơn nữa
chất lượng dịch vụ, làm tăng sản lượng dịch vụ hiện tại trên thị trường. Đó có thể là
sự thay đổi về phong cách (bao gồm sự thay đổi về trang trí, logo…) hay phát triển
- Sự ra đời của công nghệ mới tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
xâm nhập mới và làm tăng thêm áp lực đe dọa đối với các doanh nghiệp hiện hữu
trong ngành.
- Sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ càng làm cho vòng đời công nghệ
có xu hướng rút ngắn lại, điều này càng làm tăng thêm áp lực phải rút ngắn thời
gian khấu hao so với trước.
Bên cạnh những đe dọa này thì những cơ hội có thể đến từ môi trường công
nghệ đối với các doanh nghiệp có thể là:
- Công nghệ mới tạo điều kiện để sản xuất sản phẩm, dịch vụ rẻ hơn với chất
lượng cao, có nhiều tính năng hơn, làm cho sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt
hơn.
- Sự ra đời của công nghệ mới tạo ra các sản phẩm mới thay thế các sản
phẩm cũ, đồng thời nó tạo ra một cú hích cho nền kinh tế phát triển, dẫn tới những
thay đổi lớn lao, những nhu cầu tiêu dùng mới trong xã hội.
1.2.2. Yếu tố về nhà cung cấp
Nhà cung cấp cung ứng các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp hoạt động,
bao gồm vật tư, máy móc thiết bị, điện, nước, tư vấn, vận chuyển… Số lượng, chất
lượng, chủng loại, giá cả, các điều kiện cung cấp… của các yếu tố đầu vào ảnh
hưởng trực tiếp đến nhiệm vụ và mục tiêu kinh doanh, tiến trình hoạt động của các
bộ phận, chi phí sản xuất, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Có thể xem nhà cung cấp như một nguy cơ cho doanh nghiệp khi họ đòi
nâng giá hoặc giảm chất lượng sản phẩm cung cấp. Bằng cách đó họ làm cho lợi
nhuận của doanh nghiệp sụt giảm.
Các nhà cung cấp có khả năng gây áp lực cho doanh nghiệp trong các
trường hợp sau:
Page 13
Đề tài nghiên cứu khoa học
- Số lượng nhà cung cấp ít, nên doanh nghiệp không có nhiều sự chọn lựa
các nhà cung cấp khác nhau. Trong trường hợp nhà cung cấp là độc quyền, doanh
nghiệp bắt buộc phải mua sản phẩm với giá cao hoặc bị ép buộc về các điều kiện
Đề tài nghiên cứu khoa học
Các đặc điểm về tuổi tác, nghề nghiệp, thói quen tiêu dùng, và thu nhập…
của khách hàng tạo nên những nhu cầu sử dụng dịch vụ truyền hình, giải trí khác
nhau. Đặc biệt, sự phân bố dân cư có ảnh hưởng lớn đến khả năng cung cấp dịch
vụ của doanh nghiệp tới khách hàng.
Qua việc thu thập, phân tích và đánh giá những thông tin về khách hàng,
doanh nghiệp có các chính sách và chương trình hành động nhằm đáp ứng tốt các
nhu cầu, mong muốn của khách hàng trong từng thời kỳ. Mặt khác, hiểu biết
khách hàng còn giúp doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện các hoạt động
Marketing, xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng hiện tại, đồng thời phát
triển được khách hàng mới.
Khách hàng có thể được xem như là một sự đe dọa cạnh tranh khi họ buộc
các doanh nghiệp giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao, dịch vụ hoàn hảo.
Điều này khiến cho chi phí hoạt động của doanh nghiệp tăng thêm, lợi nhuận
giảm, gây ra nguy cơ làm mất khả năng cạnh tranh về giá.
Khách hàng có khả năng gây áp lực đối với nhà cung cấp trong các điều
kiện sau:
- Nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp, trong
khi đó người mua là một số ít và có quy mô lớn.
- Khách hàng mua một khối lượng lớn. Trong hoàn cảnh này người mua có
thể sử dụng ưu thế mua của họ như một ưu thế để mặc cả cho sự giảm giá không
hợp lý.
- Khi khách hàng có nhiều khả năng chọn lựa khác nhau đối với sản phẩm
thay thế đa dạng.
- Khi tất cả các khách hàng của doanh nghiệp liên kết với nhau để đòi hỏi
doanh nghiệp nhượng bộ. Đây là nguy cơ lớn đối với doanh nghiệp.
Trong những trường hợp này sự tồn tại của người bán hoàn toàn phụ thuộc
vào người mua, vì vậy người mua có thể thao túng và ép giá người bán.
1.2.4. Yếu tố về đối thủ cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được kinh doanh và cạnh
- Tác dụng giảm chi phí theo quy mô. Quy mô sản xuất của doanh nghiệp
tăng lên thì chi phí trung bình cho một đơn vị sản phẩm giảm xuống. Do đó các
doanh nghiệp trong ngành sẽ chiếm lợi thế cạnh tranh hơn so với các đối thủ mới.
- Vốn đầu tư, chính sách quản lý vĩ mô…
Tốc độ tăng trưởng của ngành càng cao thì mức độ cạnh tranh sẽ không
căng thẳng vì chiếc bánh thị trường lớn đủ chỗ cho các đối thủ, nên sẽ có nhiều
doanh nghiệp muốn tham gia vào ngành.
Như vậy, rào cản gia nhập ngành thấp và tốc độ tăng trưởng của ngành
Page 16
Đề tài nghiên cứu khoa học
càng mạnh thì việc xuất hiện các đối thủ tiềm ẩn sẽ càng nhiều và ngược lại.
1.2.4.2. Đối thủ hiện tại
Số lượng, quy mô và sức mạnh của từng đối thủ cạnh tranh đều có ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như chiến lược của doanh nghiệp. Mức độ
cạnh tranh càng cao thì giá cạnh tranh càng giảm, kéo theo lợi nhuận giảm xuống.
Do đó, yếu tố cạnh tranh về giá là một nguy cơ đối với lợi nhuận của công ty.
Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa ngày nay, việc nghiên cứu đối
thủ cạnh tranh có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh nghiệp. Thông tin về
từng đối thủ cụ thể tại mỗi khu vực thị trường là cơ sở để doanh nghiệp xác định
được nhiệm vụ và các mục tiêu cạnh tranh, là căn cứ để hoạch định các chiến lược
cạnh tranh thích hợp và có hiệu quả trong từng thời kỳ.
1.2.5. Các nguồn lực của doanh nghiệp
Nguồn lực của một doanh nghiệp bao gồm: nguồn nhân lực, tài sản vật
chất, các nguồn lực vô hình. Đây là nhóm yếu tố quyết định khả năng hoạt động
của doanh nghiệp, quyết định thành bại trên thị trường. Trong đó nhân lực và
nguồn lực vật chất là quan trọng nhất đối với một doanh nghiệp.
1.2.5.1. Nguồn nhân lực
Nhân lực hay con người là nguồn tài nguyên quý giá bậc nhất đối với một
doanh nghiệp hay tổ chức, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh. Để tồn tại và
phát triển tốt các doanh nghiệp cần thực hiện hiệu quả công tác quản trị nhân lực, đó
một thiết bị đầu cuối khách hàng có thể sử dụng rất nhiều dịch vụ khác nhau qua
chiếc tivi.
Các dịch vụ được cung cấp trên hệ thống IPTV:
- Dịch vụ truyền hình trên Internet: mang đến cho khách hàng những kênh
truyền hình đặc sắc trong nước và quốc tế cùng với các tính năng ưu việt khi sử
dụng dịch vụ: tạm dừng, hướng dẫn chương trình điện tử, khóa chương trình
không dành cho trẻ em, lưu trữ.
- Dịch vụ cung cấp nội dung theo yêu cầu: (hay còn gọi là dịch vụ đa
phương tiện) cung cấp cho khách hàng khả năng yêu cầu nội dung vào một thời
điểm bất kỳ thích hợp cho khách hàng. Nội dung theo yêu cầu sẽ được quản lý đến
từng thuê bao theo thời điểm sử dụng, thời gian sử dụng hoặc số lần sử dụng.
Dịch vụ theo yêu cầu rất phong phú về thể loại: Phim theo yêu cầu, Truyền hình
theo yêu cầu, Âm nhạc theo yêu cầu, Karaoke theo yêu cầu, Game theo yêu cầu.
- Dịch vụ tương tác và giá trị gia tăng với các chức năng tua đi - tua lại, tạm
dừng, lưu trữ. Dịch vụ gửi và nhận thư qua TV, Dịch vụ tin nhắn qua TV, Dịch vụ
điện thoại thấy hình, Dịch vụ hội nghị truyền hình, Dịch vụ đọc báo trên TV, Dịch
vụ thông tin qua truyền hình.
- Dịch vụ truyền hình tương tác MyTV: MyTV - dịch vụ truyền hình đa
phương tiện được phát triển dựa trên công nghệ IPTV mang đến cho khách hàng
hình thức giải trí khác biệt: truyền hình theo yêu cầu.
Page 19
Đề tài nghiên cứu khoa học
Sử dụng dịch vụ MyTV, khách hàng không chỉ dừng lại ở việc xem truyền
hình đơn thuần mà có thể xem bất cứ chương trình nào mình yêu thích vào bất kỳ
thời điểm nào và sử dụng nhiều dịch vụ khác qua màn hình tivi như: xem phim
theo yêu cầu, hát karaoke, chơi game, nghe nhạc,…
Để sử dụng dịch vụ MyTV, ngoài màn hình tivi tại nhà, khách hàng cần có:
- Đường truyền ADSL của VNPT;
- Bộ giải mã Set – top – box.
Dịch vụ MyTV cung cấp cho khách hàng các dịch vụ với nhiều chuyên
Từ đầu năm 2012, MyTV liên tục ra mắt các dịch vụ mới nhằm đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của khán giả. Dịch vụ2 cho phép khán giả có cơ hội
học đại học từ xa. Dịch vụ234tạo điều kiện cho khán giả được mua
những sản phẩm đắt giá với giá thấp hơn thị trường nhiều lần. Dịch vụ5%6*78
&9phục vụ thông tin nhanh, cập nhật của người dân. Dịch vụ :3&9chia
sẻ những điều thú vị của cuộc sống quanh ta.
Trong suốt quá trình cung cấp, dịch vụ MyTV liên tục được cập nhật để tạo
ra sự mới mẻ và phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, tạo lợi thế cạnh tranh của
dịch vụ bằng chất lượng của tín hiệu và nội dung. Cho đến nay, MyTV đã có mặt
trên 63 tỉnh, thành của cả nước với trên 100 kênh truyền hình trong nước và quốc
tế; khai thác hàng trăm bộ phim, hàng ngàn bản nhạc, bài hát karaoke hấp dẫn, và
bước đầu đã trở thành dịch vụ truyền hình trả tiền có phạm vi phát triển rộng nhất
nước với nhiều nội dung đa dạng và hấp dẫn.
Các chương trình, dịch vụ đang cung cấp trên MyTV
Sử dụng dịch vụ MyTV, khách hàng không chỉ dừng lại ở việc xem truyền
hình đơn thuần mà có thể xem bất cứ chương trình nào mình yêu thích vào bất kỳ
thời điểm nào và sử dụng nhiều dịch vụ khác qua màn hình tivi như: xem phim
theo yêu cầu, xem trực tiếp, xem lại các giải thể thao lớn, hát karaoke, chơi game,
nghe nhạc…
MyTV sở hữu kho nội dung cực kỳ phong phú: hàng nghìn bộ phim được
phân chia theo các thể loại, thư viện âm nhạc, thông tin, truyện kể đa dạng, nội
dung chăm sóc sức khỏe, làm đẹp chuyên sâu, thư viện kiến thức đa dạng, cập
nhật… với hình ảnh chất lượng SD, HD, có thể xem và xem lại theo yêu cầu.
Dịch vụ Truyền hình (Live TV):
Cung cấp cho bạn trên 70 kênh truyền hình với tất cả các thể loại: phim, thể
thao, tin tức, thời sự, ca nhạc, khám phá đặc sắc trong nước và quốc tế. Ngoài các
Page 21
Đề tài nghiên cứu khoa học
kênh truyền hình theo chuẩn SD (Standard Definition) thông thường, lần đầu tiên
tại Việt Nam, MyTV cung cấp các kênh truyền hình có chất lượng hình ảnh và âm
thể loại như phim hành động, hài, tâm lý xã hội từ kinh điển đến hiện đại, thuộc
các quốc gia khác nhau vào bất cứ thời điểm nào.
Đặc biệt hơn, MyTV còn mang đến cho bạn một số phim theo chuẩn HD
với chất lượng hình ảnh và âm thanh của một rạp chiếu phim ngay tại nhà.
Không chỉ dừng lại ở việc xem phim đơn thuần, bạn có thể xem các bộ
phim yêu thích với rất nhiều tính năng ưu việt như:
- Khóa các phim có nội dung không phù hợp với trẻ em.
- Xem trước nội dung giới thiệu của mỗi phim
- Xem lại 1 bộ phim nhiều lần.
- Sử dụng các chức năng như với đầu DVD: tua đi, tua lại, nhảy đến bất kỳ
vị trí nào của phim.
Ca nhạc
Dịch vụ Âm nhạc của MyTV giúp bạn tận hưởng giây phút thư thái sau giờ
làm việc căng thẳng với danh sách gần 10.000 nội dung âm nhạc bao gồm Audio,
xem clip, các bài hát liên tục được cập nhật. Với dịch vụ Ca nhạc của MyTV, bạn
có thể lựa chọn: Bài hát mình yêu thích, những bài hát mới nhất thuộc mọi thể loại
với chất lượng hình ảnh, âm thanh sống động
Karaoke
Dịch vụ Karaoke là dịch vụ giúp khách hàng hát Karaoke ngay tại nhà với
chất lượng âm thanh và hình ảnh hoàn hảo, giao diện thân thiện dễ sử dụng. Dịch
vụ Karaoke của MyTV sẽ mang đến cho bạn những phút giây thư giãn tuyệt vời
với bạn bè và người thân của mình.
Page 23
Đề tài nghiên cứu khoa học
Games
Dịch vụ Games của MyTV giúp bạn lựa chọn và chơi game trên màn hình
tivi rộng lớn ngay tại nhà của mình với hình ảnh sống động và giao diện bắt mắt
mang phong cách hiện đại.
Bạn có thể lựa chọn game từ danh sách sẵn có. Số lượng game phong phú
và được cập nhật liên tục. Nội dung game hấp dẫn với nhiều thể loại game như:
- Đồ điện, điện tử
- Đồ nội thất
- Thời trang
- Du lịch
- Mỹ phẩm
- Ẩm thực
Dịch vụ Chia sẻ hình ảnh (Media Sharing):
Dịch vụ Chia sẻ hình ảnh cung cấp cho khách hàng tiện ích upload và chia
sẻ hình ảnh, video clips với người thân, gia đình, bạn bè qua MyTV.
Đến với dịch vụ Chia sẻ hình ảnh khách hàng có được những phút giây thư
giãn, ngắm nhìn những tấm hình kỷ niệm của mình và chia sẻ những tấm hình đó
với bạn bè, người thân của mình trên khắp các tỉnh thành cả nước qua MyTV.
Dịch vụ hiện thu hút rất nhiều khách hàng quan tâm và là không gian tốt
cho việc quảng bá thương hiệu, hình ảnh cho các doanh nghiệp.
Dịch vụ Thể thao
Người hâm mộ thể thao có cơ hội được thưởng thức những giải thể thao uy
tín, chất lượng, những clip thể thao đặc sắc, những thông tin thể thao nóng hổi,
hấp dẫn trên chuyên mục thể thao của MyTV.
Page 25