Jan. 11
MỤC LỤC
A.Đặt vấn đề: ………………………………………………………. 3
B.Lý thuyết áp dụng: ………………………………………………. 4
I.Quyết định quản trị: ……………………………………………… 4
1. Khái niệm quyết định quản trị ………………………………
4
2.Đặc điểm của quyết định quản trị ……………………………… 4
3. Phân loại quyết định quản trị ………………………………….
4. Vai trò và ý nghĩa của quyết định quản trị…………………….
5. Chức năng của quyết định quản trị…………………………….
5
6
7
6. Yêu cầu cơ bản của quyết định quản trị ………………………… 8
II. Qúa trình ra quyết định………………………………………
10
1. Môi trường ra quyết định……………………………………… 10
2. Cơ sở khoa học của việc ra quyết định………………………… 12
3. Các nguyên tắc ra quyết định…………………………………… 14
4. Yếu tố nâng cao hiệu quả ra quyết định………………………
5. Yếu tố cản trở ra quyết định……………………………………
C. Giải quyết vấn đề: ………………………………………………
15
17
19
Vấn đề 2: Khi các nhà quản trị thường xuyên sử dụng máy tính và
các phần mềm chuyên ngành hỗ trợ, thì họ có khuynh hướng ra các
quyết định duy lý nhiều hơn…………………………………………34
2
Bài tập môn Quản trị học-Nhóm 5
vấn đề đã xác định. Nhà quản trị luôn luôn ra quyết định, và ra quyết định là
một trong những kỹ năng chủ yếu của nhà quản trị. Bạn luôn luôn được mời ra
quyết định và thực hiện quyết định. Chất lượng và kết quả của quyết định của
bạn có khả năng ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nhân viên và tổ chức
của bạn. Điều chủ yếu là bạn phải biết tối đa hóa khả năng ra quyết định của
bạn nếu bạn muốn trở thành một thà quản trị thực sự có hiệu quả.
2. Đặc điểm của quyết định quản trị:
Quyết định quản trị là sản phẩm tư duy của con người, là kết quả của quá
trình thu nh ận thông tin, tìm ki ếm, phân tích và l ựa ch ọn.Trên c ơ s ở
khái niệm, quyết định quản trị có những đặc điểm sau :
· Chỉ có chủ thể quản trị mới đề ra quyết định.
· Quyết định quản trị là sản phẩm riêng của các nhà quản trị và các tập thể
quản trị
· Quyết định quản trị chỉ đề ra khi vấn đề đã chín muồi
· Quyết định quản trị có liên quan chặt chẽ đến thông tinvà xử lý
thông tin
· Quyết định quản trị luôn chứa đựng những yếu tố khoahọc và sáng
tạo
· Quyết định quản trị luôn gắn liền với những vấn đề c ủatổ chức.
Trong quá trình hoạt động của tổ chức luôn xuất hiện những vấn đề mà tổ chức
cần khắc phục hoặc định hướng, giải quyết và tiến trình đó đượcthực hiện bởi
một số các quyết định quản trị.
4
Bài tập môn Quản trị học-Nhóm 5
Jan. 11
3.Phân loại quyết định quản trị:
Theo tính chất của vấn đề ra quyết định:
· Quyết định chiến lược: quyết định có tầm quan trọng, xác định
phương hướng và đường lối hoạt động của tổ chức.
· Quyết định chiến thuật: là những quyết định được thực hiện
Jan. 11
–
Các nhà quản trị cần phải sáng tạo dựa trên phán đoán,
trực giác, kinh nghiệm để lựa chọn và thực hiện phương
án tốt nhất.
Theo hoàn cảnh, tình thế:
· Quyết định theo chuẩn: bao gồm những quyết định hàng ngày
theo lệ thường và có tính chất lặp đi lặp lại. Giải pháp cho
những quyết định loại này thường là những thủ tục, luật lệ và
chính sách đã được quy định sẵn
· Quyết định cấp thời: là những quyết định đòi hỏi tác động
nhanh và chính xác và cần phải được thực hiện gần như tức
thời.Đây là loại quyết định thường nảy sinh bất ngờ không
được báo trước và đòi hỏi bạn phải chú ý tức thời và trọn vẹn.
· Quyết định có chiều sâu: cần suy nghĩ, ra kế hoạch. Đây là
loại quyết định thường liên quan đến việc thiết lập định hướng
hoạt động hoặc thực hiện các thay đổi. Chúng cũng là những
quyết định gây ra nhiều tranh luận, bất đồng và xung đột.
Theo thời gian thực hiện:
· Quyết định dài hạn: là những quyết định được thực hiện trong
khoảng thời gian dài, thường dài hơn một vòng hoạch định.
· Quyết định trung hạn: là những quyết định thực hiện trong thời
gian khá dài nhưng dưới 1 vòng hoạch định.
· Quyết định ngắn hạn: là những quyết định giải quyết tức thì,
nhanh chóng. Thường là những quyết định mang tính chất
nghiệp vụ thuần túy.
Theo phạm vi thực hiện:
· Quyết định toàn cục: là những quyết định có tầm ảnh hưởng
đến tất cả các bộ phận trong tổ chức.
· Quyết định bộ phận: là những quyết định chỉ ảnh hưởng đến 1
cần sử dụng các quyết định quản trị? Điều đó là không thể, và do đó quyết định
quản trị có chức năng đảm bảo các công việc được tiến hành trong tương lai.
· Phối hợp :
Khi quyết định phải xác định những mối quan hệ, vai trò, vị trí của các bộ
phận tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề. Mỗi quyết định quản trị thường
có liên quan đến nhiệm vụ, trách nhiệm của nhiều cá nhân hay bộ phận trong tổ
chức. Trong quá trình thực hiện quyết định, bạn có cho rằng những hiện tượng
sau đây có thể xảy ra không?
Có sự chồng chéo nhiệm vụ, trách nhiệm giữa cá nhân này với cá
nhân khác, bộ phận này với bộ phận khác?
7
Bài tập môn Quản trị học-Nhóm 5
Jan. 11
Có nhiệm vụ nào đó bị bỏ sót, không có người làm? Hoặc các
nhiệm vụ đó có mâu thuẫn với nhau không?
Nếu một trong những điều đó xảy ra, có nghĩa là quyết định quản trị không
làm được chức năng phối hợp. Ngược lại, quyết định này làm được chức năng
phối hợp.
· Cưỡng bức / động viên :
Một quyết định khi ban hành luôn phải có tính mệnh lệnh bắt buộc các đối
tượng phải thi hành đồng thời nó cũng phải bảo đảm có tính động viên và
khuyến khích mọi người tham gia thực hiện quyết định. Một người nào đó
không thực hiện quyết định của cấp trên thì điều gì sẽ xảy ra đối với họ? Chắc
chắn họ sẽ nhận một mức hình phạt nhất định tuỳ theo trường hợp cụ thể, hoặc
ít nhất họ cũng sẽ bị những lời chê trách từ người lãnh đạo. Điều đó chính là
chức năng cưỡng bức của quyết định quản trị. Thật vậy, quyết định quản trị là
một mệnh lệnh, bắt buộc phải thi hành.
Ngược lại, nếu họ hoàn thành xuất sắc quyết định của cấp trên thì họ sẽ
nhận được những phần thưởng nhất định tuỳ theo trường hợp cụ thể, hoặc ít
nhất họ cũng nhận được những lời khen ngợi từ người lãnh đạo. Đó là chức
luật.
Đúng thủ tục và thể thức của một văn bản hành chính.
· Tính hệ thống (nhất quán): Các quyết định quản trị phải đảm bảo tính
thống nhất giữa các bộ phận, các mục tiêu chung và riêng của đối
tượng. Tránh những mâu thuẫn và triệt tiêu lẫn nhau trong quá trình
thực hiện quyết định.
· Tính tối ưu: Quyết định quản trị thực chất là một phương án hành động
được lựa chọn nhằm giải quyết một vấn đề nảy sinh trong quá trình hoạt
động của tổ chức. Một quyết định được xây dựng dựa trên một phương
án tối ưu theo lý thuyết là quyết định có hiệu quả cao nhất. Xét ở góc
nhìn tổng quát, hiệu quả của một quyết định quản trị thể hiện:
Độ thoả mãn các mục tiêu của tổ chứccao nhất.
Phù hợp với những ràng buộc của quyết định.
Đạt được sự đồng thuận ở mức nhiều nhất của các thành viên
trong tổ chức.
· Tính cụ thể: Cụ thể về công việc, thời gian, địa chỉ, và người thực
hiện… Cụ thể là một yêu cầu không thể thiếu được của tất cả các quyết
định quản trị. Vì không ai có thể thực hiện được một quyết định mà
trong đó không chỉ rõ thời gian thực hiện, đối tượng áp dụng và phạm vi
điều chỉnh… Tuy nhiên, mức độ quy định cụ thể sẽ không giống nhau
trong từng loại quyết định khác nhau. Chẳng hạn, những quyết định
9
Bài tập môn Quản trị học-Nhóm 5
Jan. 11
chiến lược mức độ cụ thể sẽ thấp hơn so với các quyết định tác nghiệp.
Thông thường, những quyết định như vậy người ta phải thông qua hệ
thống các văn bản hướng dẫn, nhằm cụ thể hoá hành động cho quá trình
tổ chức thực hiện quyết định.
· Tính thời gian: Quyết định quản trị phải kịp thời, đúng lúc có thời gian
và hạn mức thực hiện, bảo đảm khai thác kịp thời những cơ hội nảy sinh
· M ô i t r ư ờ n g b ê n t ro n g d o a n h n g h i ệ p : v ă n hó a c ô n g t y, c ơ
c ấ u t ổ chức,vật chất,quan hệ
Đ ể tạo ra bầu không khí ra quyết đ ịnh được thuận lợi và thoải mái,
người ta phải biết cách phân tích ảnh hưởng của môi trường tới quá trình ra
quy ết đ ịnh. N ội dung c ủa nh ững cu ộc phân tích này là nh ằm vào vi ệc
phân tích cơ chế, qui luật ảnh hưởng của từng yếu tố môi trường đến các mặt
của ho ạt đ ộng ra quy ết đ ịnh. Trên c ơ s ở nh ững phân tích môi tr ư ờng ra
quy ết đ ịnh ng ư ời ta s ẽ tìm ra các gi ải pháp thích h ợp đ ể c ải t ạo, bi ến
đổi, thích nghi và tồn tại chung với chúng một cách có lợi nhất.
Ta có thể nhận thấy thông thường có 3 dạng môi trường mà nhà quản trị
đối mặt:
1. Môi trường chắc chắn: Khi các nhà quản trị biết rõ các phương án
cũng như điều kiện và hậu quả của hành động. Trong trường hợp này
nhà quản trị thường sử dụng cách thức so sánh để chon ra 1 giải pháp
có lợi nhất trong trường hợp xác định.
11
Bài tập môn Quản trị học-Nhóm 5
Jan. 11
2. Môi trường không chắc chắn: Phần lớn các quyết định trong điều kiện
hiện nay là tình trạng không chắc chắn, vừa không biết hết các tình
huống và cũng không lường được hết các hậu quả. Những quyết định
này đòi hỏi sự tháo vát, chấp nhận rủi ro. Dưới môi trường này, nhà
quản trị không có đủ thông tin và phải dựa trên sự suy đoán, kinh
nghiệm của mình. Nếu suy đoán sai hay không thích hợp chắc chắn sẽ
dẫn đến thất bại.
3. Môi trường rủi ro cao: Khi vấn đề cần giải quyết hay mục tiêu không
rõ r àng, các đường lối hành động không nhận ra thiếu thông tin để dự
đoán hậu quả. Những liên hệ mong manh và thay đổi thường xuyên.
Đây là trườnghợp khó khăn nhất trong khi làm quyết định của các nhà
quản trị. Trong trường hợp này nhà quản trị phải chấp nhận mạo hiểm.
riêng. Chiến lược kinh doanh là phương thức cụ thể hoá cách thực hiện mục
tiêu kinh doanh. Vì vậy, Trong kinh doanh, việc xác định mục tiêu trong các
thời kỳ bản thân nó vốn là những quyết định quan trọng.Khi mục tiêu đã được
quyết định thì nó là cơ sở cho mọi quyết định kinh doanh nói chung và trong
lĩnh vực quản trị nói riêng. Chiến lược kinh doanh là phương thức cụ thể hoá
cách thực hiện mục tiêu kinh doanh. Vì vậy, nó cũng là cơ sở của việc ra quyết
định.cũng là cơ sở của việc ra quyết định.
· Thời cơ và rủi ro:
Các tổ chức thành công là các tổ chức nắm bắt được các cơ hội và né tránh
được các rủi ro trong kinh doanh. Bởi các tình huống trong kinh doanh thường
không chắc chắn. Mức độ thành công hay thất bại cũng như khả năng rủi ro
nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào điều mà người ta gọi là mạo hiểm trong
kinh doanh. Biết mạo hiểm và phòng tránh các rủi ro là yêu cầu tất yếu trong
việc ra quyết định quản trị.
· Tính quy luật và nghệ thuật sáng tạo:
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác thì mọi quyết định thường chỉ rơi
vào ba khả năng sau:
1. Phù hợp với qui luật vận động khách quan.
2. Đi ngược lại sự vận động của các qui luật.
3. Không phù hợp cũng chẳng đi ngược lại sự vận động của qui luật.
Riêng trường hợp thứ ba không sớm thì muộn sự việc lại diễn ra như một
trong hai trường hợp đầu. Hơn nữa chúng ta biết rằng, đi ngược lại sự vận động
của các qui luật khách quan thì thất bại là điều chắc chắn và thành công chỉ đến
với các quyết định phù hợp với đòi hỏi của các qui luật khách quan.Việc nhận
thức đúng đắn các quy luật khách quan và dụng chúng một cách khoa
học là cơ sở quyết định sự thành bại của việc ra quyết định.Nếu đi
ngược lại với s ự vận động c ủa các quy luật khách quan tất yếu bị thất
bại. Tuy nhiên, việc vận dụng các quy luật không có nghĩa là không cần
đến s ự sáng tạo c ủa người ra quyết định.Bản thân các hoạt động trong
quá trình quản trị bị chi phối c ủa nhiều quy luật. Nghệ thuật sáng tạo
xem xét nghiêm túc các ý tưởng ủng hộ hay trái ngược.
e. Nguyên tắc kết hợp
· Kết hợp giữa khoa học và kinh nghiệm
· Định tính và định lượng
· Lợi ích toàn cục và cục bộ , dài hạn và ngắn hạn
· Lợi ích Kinh tế và xã hội
· Hiện thực và sáng tạo
· Lãnh đạo và tập thể
Áp d ụng các nguyên t ắc vào t ừng tr ư ờng h ợp ra quy ết đ ịnh c ụ th ể
đòi h ỏi các nhà quản trị phải vận dụng, phải sáng tạo, không được cứng nhắc,
phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế ở mỗi đơn vị.
4.Yếu tố nâng cao hiệu quả ra quyết định:
Việc ra 1 quyết định hiệu quả còn phụ thuộc vào phẩm chất cá nhân của
các nhà quản trị. Vì vậy nếu muốn nâng cao hiệu quả của các quyết định quản
trị, các nhà quản trị cần có những phẩm chất sau:
Kinh nghiệm:
Kinh nghiệm giữ vai trò quan trọng trong việc quyết định. Khi đối phó với
một vấn đề người quản lý rút từ kho kinh nghiệm của mình một giải pháp đã
thành công trong quá khứ. Trong những trường hợp đòi hỏi những quyết định
theo chương trình thì kinh nghiệm càng tỏ ra có lợi thế hơn.
15
Bài tập môn Quản trị học-Nhóm 5
Jan. 11
Người quản lý có kinh nghiệm chẳng những giải quyết công việc 1 cách dễ
dàng, nhanh chóng mà còn có hiệu quả nữa. Đối với những trường hợp đòi hỏi
1 sự đáp ứng không theo chương trình, thì kinh nghiệm có thể có lợi mà
cũng bất lợi. Bất lợi chính là ở chỗ những bài học kinh nghiệm hoàn toàn
không thích hợp với vấn đề mới. Nó dễ dẫn nhà quản trị đến lối mòn của thói
quen và tính bảo thủ. Tuy nhiên, kinh nghiệm có thể là 1 lợi thế trong việc phân
biệt những vấn đề có cấu trúc tốt và những vấn đề có cấu trúc xấu.
16
Bài tập môn Quản trị học-Nhóm 5
Jan. 11
Đây là phẩm chất cuối cùng cần thiết cho việc quyết định có hiệu quả. Phẩm
chất này liên quan tới khả năng áp dụng những phương pháp định lượng như
qui hoặc h tuyến tính, lý thuyết nhận dạng, mô hình thống kê.v.v. Đó là những
kỹ thuật giúp cho những người quản lý đạt được những quyết định hiệu quả,
đánh giá những khả năng lựa chọn. Tuy nhiên, những kỹ thuật này chỉ là công
cụ chứ không thể thay thế sự xét đoán cá nhân của nhà quản trị được.
Ngoài ra, nhà quản trị phải thu thập nhiều thông tin, tới mức tối đa, trước
lúc phải đi đến quyết định, và quan trọng hơn là phải có khả năng phân tích
những thông đó. Đồng thời họ cũng phải quan tâm đúng mức tới triết lý kinh
doanh và chiến lược công ty vì nó là những tư tưởng, quan điểm chủ đạo chi
phối mọi hoạt động khinh doanh của công ty đó. Bên cạnh đó,cầncóthêmmục
đích của công ty, phương châm để thực hiện mục đích,hay xác định bộ mặt,
phong cách,văn hóa của công ty. Chiến lược công ty xác định những phương
hướng phát triển chủ yếu của công ty trong tương lai như mục tiêu sản phẩm,
thị trường vốn, đào tạo, và sử dụng nguồn nhân lực.
Mọi quyết định của công ty đều mang dấu ấn triết lý kinh doanh và chiến
lược. Một công ty không có triết lý kinh doanh và chiến lược phát triển rõ ràng
thì sẽ gặp khó khăn khi phải ra những quyết định.
Cuối cùng, nhà quản trị cũng cần có phẩm chất nhà kinh doanh, trước
tiên, đó là trực giác. Đây là phẩm chất rất quan trọng giúp cho nhà quản trị đưa
ra được quyết định đúng đắn vào thời điểm hợp lý nhất. Nhiều nhà quản trị
thường đòi hỏi phải có đầy đủ dữ kiện mới ra quyết định.
Nhưng thực tế không phải bao giờ cũng cho phép như thế. Trong một môi
trường kinh doanh cạnh tranh biến động liên tục, nhiều khi một quyết định
đúng đắn hóa ra sai lầm nếu thực hiện trễ. Thứ hai là phải quyết đoán và có bản
lĩnh. Lee Lacocca nói: “Chính sách của tôi là luôn tỏ ra dân chủ trên
con đường đi đến quyết định. Nhưng rồi cuối cùng tôi trở nên độc tài: “Được
máy tính và các phần mềm chuyên ngành hỗ trợ, thì họ có
khuynh hướng ra các quyết định duy lý nhiều hơn. Bạn
đồng ý hay không đồng ý quan điểm này và giải thích lý do
lựa chọn của bạn
.
I.Đặt vấn đề :
Ngày nay, khoa học kĩ thuật đã đạt được những bước tiến vượt bậc và việc
ứng dụng chúng vào các lĩnh vực của đời sống cũng ngày càng phổ biến hơn.
Đặc biệt là trong kinh doanh, quản trị doanh nghiệp thì công nghệ thông tin là
một công cụ hỗ trợ không thể thiếu. Dựa trên những lý thuyết nền tảng của ra
quyết định trong quản trị học nói chung và quan điểm của quản trị học hiện đại
nói riêng, nhóm chúng tôi xin đưa ra những đánh giá nhìn nhận chủ quan của
mình về việc ra quyết định duy lí của các nhà quản trị khi thường xuyên sử
dụng công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc ra quyết định của mình.
II.Giải quyết vấn đề :
1. Quyết định duy lí là gì ?
Quyết định duy lí là một thuật ngữ được hình thành và mở rộng từ nền tảng
của khái niệm chủ nghĩa duy lí. Vậy chủ nghĩa duy lí là gì ?
Chủ nghĩa duy lý là một học thuyết trong lĩnh vực nhận thức luận. Theo
nghĩa rộng nhất, đó là quan điểm rằng "lý tính là nguồn gốc của tri thức hay sự
minh giải" (Lacey 286). Theo nghĩa kỹ thuật hơn, chủ nghĩa duy lý là một
phương pháp hoặc học thuyết "mà trong đó tiêu chuẩn về chân lý không có tính
giác quan mà có tính trí tuệ và suy diễn lôgic" (Bourke 263). Tùy theo mức độ
nhấn mạnh phương pháp hay học thuyết này mà dẫn tới các quan điểm duy lý
khác nhau, từ quan điểm ôn hòa rằng "lý tính đáng được ưu tiên hơn các cách
thu thập tri thức khác" cho đến quan điểm cấp tiến rằng lý tính là "con đường
duy nhất tới tri thức"
Từ đó, theo cách hiểu và quan điểm chủ quan của nhóm chúng tôi, “quyết
định duy lí” có thể được định nghĩa là :
Quyết định duy lý trong quản trị : Đó là các quyết định dựa trên việc phân
một khả năng nào đó lại phụ thuộc vào những thông tin mà người lãnh đạo,
quản lý thu thập, tiếp nhận và xử lý. Thông tin được xem là cơ sở đầu vào
(income) cần thiết để chủ thể quản lý xử lý (processing) và đưa ra các quyết
định (outcome). Để ra được quyết định khoa học, đáp ứng được nhu cầu thực
tiễn cuộc sống, người lãnh đạo, quản lý phải có phương pháp thu thập, nắm bắt
và xử lý tốt thông tin. Trên cơ sở những thông tin thu được và căn cứ vào thực
tiễn phát triển cũng như tiềm năng, các nguồn lực của địa phương, đơn vị mà
người lãnh đạo, quản lý đưa ra các quyết định. Thông tin thu được càng đầy đủ,
35
Bài tập môn Quản trị học-Nhóm 5
Jan. 11
càng chính xác và kịp thời là điều kiện cần cho việc ra các quyết định càng có
mức độ chính xác và tính khả thi cao.
Để có thể đưa ra một quyết định nào đó, trước hết người lãnh đạo, quản lý
phải nắm bắt, thu thập và xử lý thông tin có liên quan.
Thông tin đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong việc xây dựng
và ra quyết định của các cấp lãnh đạo và quản lý. Vì vậy, để phát huy vai trò
của thông tin không những cần đảm bảo nguồn cung cấp thông tin, độ chính
xác, cập nhật và sự đa dạng của thông tin, mà điều không kém phần quan trọng
là phải nâng cao trình độ, năng lực nắm bắt, phân tích và xử lý thông tin của
cán bộ lãnh đạo, quản lý cùng với thái độ khoa học, khách quan nhằm xây
dựng và ra quyết định đúng đắn, kịp thời đáp ứng việc giải quyết yêu cầu thực
tế.
Thông tin là điều kiện không thể thiếu trong việc đưa ra quyết định của
người lãnh đạo, quản lý các cấp nói chung. Song trong thời đại “cách mạng
thông tin” hiện nay, với sự đa dạng của thông tin: Thông tin cùng chiều, trái
chiều,… người lãnh đạo, quản lý phải sáng suốt trong việc “lựa chọn” thông
tin. Trong nhiều trường hợp, việc đưa ra các quyết định còn liên quan đến lợi
ích cục bộ, người thân,…; có thể sử dụng cơ chế phản biện kín,… Rõ ràng
người lãnh đạo, quản lý khi đưa ra quyết định ngoài việc có Tri thức (K), có
vấn” một cách đắc lực cho nhà quản trị.
Sự hỗ trợ của hệ thống máy vi tính, phần mềm sẽ giúp cho nhà quản trị có
một cái nhìn định lượng chính xác khoa học và khách quan hơn. Từ những con
số khô khan, những đồ thị, những dữ liệu dường như vô hồn thông qua sự phân
tích của máy tính nó sẽ trở thành những lời khuyên, những gợi ý hữu ích cho
các nhà quản trị trong việc ra quyết định. Ví dụ: như từ số liệu thông tin về
khối lượng giao dịch của các loại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán trong
một khoảng thời gian nhất định - thông qua việc phân tích kỹ thuật - sẽ giúp
các nhà đầu tư nhận biết được thông tin về xu thế giá, xu thế tăng trưởng của
các loại cổ phiếu khác nhau.
Như vậy ta có thể thấy công nghệ thông tin đóng một vai trò rất quan rọng
trong việc ra quyết định của một nhà quản trị. Đứng giữa một rừng thông tin,
vô số các dữ liệu đôi khi chỉ cần một cú click chuột hay một vài thao tác các
nhà quản trị cũng có thể đưa ra cho mình những gợi ý, tư vấn hữu ích.
37
Bài tập môn Quản trị học-Nhóm 5
Jan. 11
a. Hạn chế của máy tính và các phần mềm hỗ trợ
Tuy công nghệ thông tin đã hỗ trợ việc kinh doanh của các nhà quản trị rất
nhiều. Tuy nhiên vấn đề nào cũng có hai mặt của nó. Cũng có những lúc ta
không thể nhờ đến sự hỗ trợ của máy tính và các phần mềm hỗ trợ. Những
trường hợp không thể nhờ đến sự trợ giúp của máy tính và các phần mềm.
Thông tin đầu vào không đầy đủ, thiếu chính xác, không có cơ sở
khoa học
Trong kinh doanh, đôi lúc nhà quản trị không có nhiều thời gian cho việc ra
quyết định. Lúc đó việc cập nhật thông tin một cách kịp thời, chính xác sẽ là
kênh hỗ trợ đắc lực. Tuy nhiên không phải lúc nào những thông tin đó cũng có
sẵn và đáng tin cậy để giúp sức cho nhà quản trị. Một khi thông tin đầu vào đã
không đầy đủ, thiếu chính xác thì dù cho máy tính và các phần mềm hỗ trợ có
hiện đại, chính xác cỡ nào thì kết quả cũng không thê tin tưởng được.Do đó,
để hướng ra bên ngoài và cảm nhận chúng có như thế mới tiếp cận được thông
tin thực tế một cách hoàn hảo.
Đồng thời một nhà quản trị cần cố gắng dự trù và ứng phó một cách tốt
nhất có thể với những ngoại lệ, những sự kiện xảy ra đầu tiên. Nhà quản trị
hiệu quả cần phải biết lúc nào nên ra quyết định theo nguyên tắc và lúc nào
nên ra quyết định theo thực tế. Bởi những sự kiện những tình huống như thế
này, máy tính không thể giúp gì được nhà quản trị cả, hoàn toàn không thể.
Và có thể còn nhiều trường hợp nữa mà trong khả năng hạn hẹp, nhóm
chưa đưa ra được một cách đầy đủ. Song qua việc phân tích những tình huống
như trên, chúng ta có thể thấy máy vi tính và các phần mềm hỗ trợ là một công
cụ thực sự quan trọng không thể thiếu trong việc ra quyết định của các nhà
quản trị hiện nay. Tuy nhiên, dù sao đi nữa nó vẫn không phải là “chiếc chìa
khóa vạn năng”.
b. Con người là yếu tố giữ vai trò then chốt trong việc ra quyết định .
Máy vi tính và các phần mềm hỗ trợ chuyên ngành có thể giúp các nhà
quản trị nắm bắt được tình hình, phân tích vấn đề hiệu quả hơn, tuy nhiên nó
không hoàn toàn thay thế được yếu tố con người, cụ thể là trực giác trong việc
ra quyết định của các nhà quản trị:
· Ta có thể nhận ra hạn chế của việc quá phụ thuộc vào công nghệ thông
qua những hạn chế trong “lý thuyết hệ thống và định lượng trong quản
trị”. Đồng thời quản trị học hiện đại cũng đã chỉ ra những hạn chế về sự
định lượng trong quản trị thông qua hệ thống máy tính. Máy tính có thể
xử lý các dữ kiện định lượng một cách chính xác với tốc độ cao. Tuy
nhiên người ta chỉ có thể định lượng những gì xảy ra bên trong tổ chức:
chi phí sản xuất, báo cáo, thống kê… Còn các dữ kiện bên ngoài nó
không có sẵn dưới dạng biểu mẫu để máy tính xử lý được. Bởi vấn đề
nằm ở chỗ: các sự kiện quan trọng và liên quan ở bên ngoài đều mang
tính định tính, không thể định lượng được. Chúng vẫn chưa là những “dữ
39
Bài tập môn Quản trị học-Nhóm 5
Kết quả đem lại nhờ trực giác có thành công và nhất quán hay không đòi
hỏi không chỉ kiến thức về lĩnh vực chuyên ngành, nó còn đòi hỏi phải có
một nội quan sâu sắc, "một hành trình căng thẳng vào chính bản thân".
Nếu bạn muốn hiểu được những thành kiến, cảm xúc và những mầm
mống của quá trình ra quyết định có thể ngăn cản các kiến thức chuyên
ngành của bạn và dẫn đến kết quả là những phán đoán sai lầm, bạn phải
học cách "quan sát mọi người nhưng trên hết là chính bản thân mình".
Tính hiệu quả của trực giác chỉ là tương đối. Tốt nhất, để đem lại hiệu
quả, các quyết định cảm tính cần được thực hiện theo hai câu châm
ngôn sau: "Am hiểu lĩnh vực kinh doanh" và "Biết mình". Tâm điểm của
các quyết định kinh doanh là khi mức độ kiến thức chuyên ngành và hiểu
biết về bản thân đều cao; khi bạn có đủ tri thức để lý giải thực tế một
40